Welcome to www.MangTreVN.com. Click here to register
It is currently 21 Nov 2017 15:15




Post new topic Reply to topic  [ 25 posts ]  Go to page 1, 2, 3  Next
Author Message
PostPosted: 09 Nov 2014 21:38 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
DA.jpg


1 . Đại Dương Trong Lòng Con Ốc Nhỏ


Bến đò Đông Đức ngày càng nhiều khách tới lui. Bây giờ không còn mùa đông mưa phùn rây mờ sông nước, không còn họ hàng lũ ruồi nhặng sợ rét, lười biếng đâu trên sợi dây lòng thòng để treo chuối, treo ngãn bám vào liếp, vào tường tròn ba tháng rét mướt đìu hiu. Dân thành phố tản cư về đồng ruộng. Họ mang theo niềm vui và cuộc sống mới mẻ khiến quê ngoại nhà tôi tấp nập, ồn ào. Nằm nghe tiếng chim cu gáy buổi trưa, tôi cảm thấy bớt buồn tẻ. Kỷ niệm tràn lụt đầu óc tôi bằng những bộ mặt sáng sủa, những điệu cười hồn nhiên của đám trẻ nhỏ thành thị trạc tuổi em Mai. Tôi nghĩ, giá anh em tôi không phải sống hẩm hiu ở quê ngoại thì lúc này đây, chúng tôi cũng biết tung tăng dắt tay nhau chuyện trò dưới ánh trăng đồng nội. Chứ đâu chịu lạc lõng trong đêm tối, nhìn bóng mẹ gầy yếu run rẩy cơ hồ chiếc lá sắp lìa cành. Bất giác, tôi nhớ cha tôi và nước mắt phủ mờ...

Mẹ tôi bảo thoạt tiên cha tôi đánh đàn thập lục cho ban hát cải lương lưu động. Dạo ấy danh từ nghệ sĩ còn xa lạ nên ông bầu coi cha tôi ngang chức anh lao công. Làm việc từ tám giờ tối tới hai giờ khuya. Tiền thù lao dè xẻng mới đủ nuôi một vợ, một con. Trong gánh hát, cha bị bạn đồng nghiệp chê bai tài đàn non nớt hay tâu hót với ông bầu vài điều lầm lẫn của cha tôi. Thì cha tôi hậm hực nguyền rủa thói đời đen bạc. Chán rồi, cha tôi trách ông phó Nhị. Giá ông phó truyền đủ ngón trứ danh, chắn chắn sự nghiệp cha tôi đỡ méo mó. Tôi cố mường tượng cái cảnh hậu trường sân khấu giữa mùa hè nóng nực, cha tôi cởi trần biểu diễn tài nghệ, dìu điệu ca cho đào kép ngọt giọng. Mồ hôi, có khi cả nước mắt, rơi rụng trên mười sáu sợi tơ đồng đổi miếng cơm hẩm manh áo thô. Về sau có lần giận đời, cha tôi đập đàn giải nghệ.

Khi tôi hiểu biết, thấy đời cha tôi lẩn quẩn trong hai câu thơ của bài hát nói cha tôi khai bút nhân dịp năm mới: "Ông Lái thuốc bắt đầu, ông Phó, ông Ký, ông Chủ, ông Thầu, ông Lang..." Mỗi chuỗi nghề nghiệp quàng vào cổ cha tôi. Lên voi xuống chó, xuống chó lên voi... Tội nghiệp cha tôi, người còn chút tâm hồn để không nỡ gọi tài đánh đàn là nghề kiếm cơm.

Từ ông lái thuốc bắc đến ông lang băm chế thuốc cao đan hoàn tán. Chao ôi, tôi phải viết thế nào đây cho thật linh động từng cảnh cha tôi ngồi chế thuốc cam bằng thuyền gang, ngồi thái thuốc sống bằng dao cầu, ngồi xao thuốc bổ bằng nồi rang đất và hoàn và viên thuốc tễ? Làm sao ai chứa chất được trọn vẹn ngần kia mẫu đời. Thế mà cha tôi, trời ơi! Tôi muốn làm một khán giả vô tư nhỏ lệ tiếc thương gã nghệ sĩ sinh nhầm xứ sở.

Có bận túng bấn quá, cha mẹ tôi phải chia nhau mỗi người một chợ đem thuốc hoàn, thuốc tán trị các bệnh cam sài thai đẹn, ho hen, giun sán ra bày ngổn ngang trên manh chiếu hẹp dưới quán chợ. Mẹ tôi bán quanh quẩn mấy chợ gần miền bể như chợ Tiểu Hoàng... Sáng sớm mẹ đi, xế chiều mẹ về săn sóc anh em tôi. Còn cha tôi xách chiếc va ly lớn lễ mễ sang mãi tận Thần đầu, Thần huống. Cha tôi đi hàng tuần mới trở lại, nói là vừa bán thuốc vừa thăm dò xem bên sông Trà Lý có dễ kiếm ăn thì cho gia đình sang.

Những chuyến cha tôi vắng nhà, mẹ tôi xuôi ngược tần tảo, anh em tôi nương bóng nhau cầu nguyện. Nghe mẹ tôi bảo sóng sông Trà dữ tợn. "Sóng cửa Trà, mà cửa Hộ", em Mai chỉ sợ phà đắm.Tôi dỗ dành em tôi rằng cha tôi sống tới tám mươi tuổi để xem anh em tôi khôn lớn. Em Mai thường khóc tỏ vẻ lo ngại. Khốn nạn, cha mẹ tôi nghèo nàn, còn tình thương mến nhưng tình thương mến không nuôi sống được con nên muốn con no lành đã phải xa con, cực nhọc. Tôi cứ nghĩ đến lúc cha mẹ tôi ngồi dọn hàng khi chợ chiều tan vắng. Ánh nắng vàng vọt quê mùa chiếu vào khuôn mặt thê thảm vì nhớ con, vì ế hàng của cha tôi chắc đau thương lắm.

Ít tháng sau cha tôi bỏ nghề lang thuốc. Cha tôi sắm ít dụng cụ chữa xe đạp. Người ta đặt tên mới cho cha tôi: ông Phó. Cha tôi sửa chữa, lau dầu, vá chín, vá sống săm lốp xe đạp, xe tay. Nếu ai cần tô điểm xe mình thì cha tôi cũng biết sơn xì, sơn hấp, mạ kền bằng... ngân nhũ. Nhiều lần nhìn cha tôi nghiến răng vặn cái ốc lâu ngày thiếu dầu mỡ, lòng tôi thắt lại. Tay cha tôi mạch máu nổi bật, chằng chịt. Có khi "lắc lê" nhờn, tuột mạnh bật tay ra. Cha tôi mất đà, chúi về một bên. Thường thường, tay cha tôi bị xước da, máu chảy ri rỉ. Cha tôi mải mê công việc không để ý, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán. Máu ở vết thương được dịp hòa với mồ hôi... Nhưng cha tôi nín lặng không kêu ca, không than vãn, không kể lể với vợ con. Sự nín lặng đó tôi đã khổ tâm học hỏi song tôi thấy tôi thất vọng. Vì, cho tới ngày nay, hễ gặp bất cứ con rắn độc cuộc đời nào, dù lớn dù nhỏ, cắn đau hay cắn hụt, tôi vẫn thích tìm người băng bó hộ.

Tò mò, tôi hỏi cha tôi học nghề sửa xe bao giờ, cha tôi mỉm cười: "Cái khó sinh ra cái không con ạ!". Tôi nghi ngờ rồi phỏng chừng cha tôi học lỏm hay cha đã từng làm thợ phụ cơm nhà việc người. Lại thêm hình ảnh thui chột của chú "học nghề" nữa!

Hồi gia đình tôi ở Hà Nội về Thái Bình rồi dọn xuống miền bể, em Mai bé bỏng nên em chưa cảm được nỗi buồn biển động cuối mùa đông. Dường như, bể giận dữ tận ngoài khơi bãi Đồng Châu. Tiếng gầm gừ vọng tới nghe ghê rợn. Cha tôi khởi nghiệp chữa xe tại đây, tại ngã ba chợ huyện Tiền Hải, dưới gốc cây gạo to lớn, sù sì, gai góc. Những buổi chiều rét mướt, cha tôi ngồi co ro khâu mép lốp đứt "tanh" hay phồng mang trợn mắt thổi than hồng trong lò máy vá chín. Cha tôi nhặt nhạnh từ năm hào bơm thuê cho anh phu xe tay, chẳng nề hà việc dầu mỡ. Bởi vậy, cả sau lúc ngưng làm để vuốt ve anh em tôi, tay cha tôi, dẫu rửa sà phòng, vẫn còn đầy vết dầu lem luốc. Em Mai hay kéo đôi tay cha tôi đùa bỡn:

- Tay cha tôi đen như nhọ nồi.

Cha tôi cười:

- Trắng như bông mà con dám bảo đen. À, đố con biết tại sao tay phải cha dài hơn tay trái?

- Con chịu.

- Tại tay phải cha vặn "lắc lê". Cha vặn mạnh quá nên xương nó giãn ra.

Em Mai ngớ ngẩn:

- Con không thích tay phải cha dài đâu, cha làm cho nó ngắn bằng tay trái đi cha. Có được không hở, cha?

Cha tôi suy nghĩ giây lát, đoạn vỗ về em:

- Khó gì, rồi cha bỏ vặn "lắc lê" thì nó hết dài.

Tôi thương cha tôi, dĩ nhiên, nhưng thương bao nhiêu mới vừa? Cha tôi ít nói. Chắc chắn nỗi ray rứt vì mẹ con nheo nhóc ám ảnh cha tôi, làm cha tôi uất nghẹn: sự uất nghẹn của người không câm song không nói được. Dạo ấy, gạo kém, mẹ tôi phải chạy vay đong từng bữa một. Thoạt đầu, sáng ăn cầm dạ, chiều ăn no. Sau, sáng cha mẹ tôi nhịn chỉ thổi niêu nhỏ cho anh em tôi. Em Mai ăn xong còn thòm thèm. Cha tôi nhìn em, mắt đỏ ngầu. Mẹ tôi chạy vội xuống bếp. Tôi thương hại em, tập nhịn để em được ăn nhiều. Hôm thứ nhất, em bảo tôi:

- Sao anh không ăn?

Tôi nói dối:

- Tại anh đau bụng.

Em tôi tưởng thật:

- Thế em để phần anh vậy nhé?

Tôi cười xua tay:

- Đau bụng ăn cơm nguội thế nào được. Em ăn đi, ăn nhiều chóng lớn.

Hôm thứ hai, tôi cũng bỏ bữa sáng ân huệ của con nhà nghèo. Em tôi hỏi han vớ vẩn. Tôi phải trả lời tôi ăn sáng với em thì trưa ăn mất ngon. Nghĩ sao, em tôi giận tôi, em chẳng thèm ăn nữa. Em bắt chước nhịn đến trưa. Mẹ tôi mắng em. Em khóc, em kêu đau bụng. Như thế, em tôi hiểu chuyện rồi. Em tôi rủ tôi ra đường cái, ghé sát vào tai tôi thì thầm:

- Thật anh nhỉ, ăn bữa sáng, trưa ăn mất ngon.

Chúng tôi nhìn nhau. Chua xót. May mắn là tình cảnh ăn đong thiếu thốn rất ngắn ngủi. Gạo dần dần hơn. Nhà tôi lại tiếp tục hai bữa no nê. Đấy là những câu chuyện buồn của gia đình tôi. Nhưng chuyện khiến tôi nhớ mãi là chuyện sau đây:

Hôm cha tôi đang đánh nháp miếng lốp nổ thì một bà sang trọng tới gần. Bà ta nhìn cha tôi lúc lâu rồi mới ngại ngần hỏi:

- Bác làm ơn chỉ giùm tôi ông lang...

Bà ta quên tên ông lang. Cha tôi ngừng tay, lễ phép nói:

- Thưa bà, bà cho biết tên ông lang là gì ạ?

Móc trong túi mảnh giấy nhỏ ghi bút chì lờ mờ, bà ta lẩm nhẩm đọc:

- Ông Mai Viên bác phó ạ! Bà bạn tôi mách rằng ông Mai Viên chữa bệnh giỏi. Tôi từ phủ Kiến Xương xuống xin ông cái đơn. Bà bạn tôi trước là chỗ quen thân ông Mai Viên.

Như cái lò xo, cha tôi đứng thẳng dậy, trịnh trọng giới thiệu tựa hồ anh hề trên sân khấu giây phút sắp mở màn.

- Thưa bà... tôi là Mai Viên...

Bà khách lạ tròn xoe mắt. Bây giờ, cha tôi mới kịp để ý cái hình hài tiều tụy của lão phó chữa xe đạp dưới gốc cây gạo ngã ba chợ huyện Tiền Hải. Quần đùi đen, áo sơ mi ngắn tay nham nhở dầu mỡ mồ hôi. Chân tay sần sùi, thô lỗ... Còn giữ được đôi mắt, vầng trán rộng. Nhưng xấu hổ quá, tê tái quá, đôi mắt vội mờ đi và vầng trán lâm râm những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi tình cờ toát ra một buổi trời lạnh nhất. Cha tôi cúi xuống, nói rất nhỏ:

- Thưa bà tôi giải nghệ... lang thuốc rồi. Song nếu bà...

Cha tôi muốn nói thêm "nếu bà bỏ qua hình ảnh bác thợ chữa xe thì tôi sẵn lòng tiếp bà". Khốn nỗi, dù đã từng phen trầy trụa với cuộc đời, cha tôi vẫn tự ái để cứu vãn chút liêm sĩ tuy chẳng cần cứu vãn. Bà khách hình như cảm thông sự lên bổng xuống trầm của kiếp người, bà ta ngượng ngùng mãi mới thốt gọn ba tiếng "xin lỗi ông". Cha tôi mời bà ta vào nhà.

- Bà ở phủ Kiến chắc quen gia đình ông Phán Lâm?

- Thưa ông, bà Phán chỉ đường tôi mới rõ, chứ dễ chi.

- Trước kia...

- Vâng ạ! Bà Phán đã nói nhiều về ông. Tôi xin lỗi ông lần nữa vì cử chỉ vô lễ ban nãy.

- Thưa bà không hề gì ạ! Bà đừng bận tâm.

Cha tôi kê tặng bà khách ấy đơn thuốc bổ theo đúng lời viết quảng dán tường ngày xưa "xem mạch kê đơn không lấy tiền". Khi về, bà khách rút tiền cho tôi. Tôi từ chối, bỏ chạy mất. Đêm ấy, dưới ánh đèn dầu lạc tẩm bấc thắp đĩa, đêm dầy đặc, suy tư. Tôi nghe từng hơi thở dài sầu hận của cha tôi. Bất giác, tôi òa lên khóc khiến em Mai cũng khóc. Cha tôi xoa đầu anh em tôi an ủi:

- Nín ngay con, rồi các con sẽ sung sướng.

Tôi gục đầu xuống đùi cha tôi, ôm chầm lấy thân thể gầy yếu, ôm chầm lấy tấm lòng thương mến bao la mà rên xiết.

- Cha ơi! Con thương cha.

Giọng cha tôi tha thiết, bao giờ cha tôi cũng tha thiết với vợ con:

- Thương cha thì ngủ đi, sau này đừng giống cha nhé con, giống cha khổ lắm. Nhất nghệ tinh con ạ!

Nhưng anh em tôi không ngủ. Ngọn đèn gió thổi tắt rồi. Căn nhà tối om. Anh em tôi ngồi sát nhau hơn. Chúng tôi cùng im lặng nhìn ngày mai bằng bốn con mắt mờ lệ trong đêm vắng. Khổ thân em tôi, lớn dần để xem cuộc đời cha xuống dốc thảm hại. Em tôi nắm chặt lấy tay tôi như thầm nhủ, như trao gửi niềm tin. Tôi nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt xuống chiếu.

Một sớm tháng hai, hoa gạo nở đỏ ối và bắt đầu rụng. Cha tôi vẫn co ro ngồi dưới gốc cây. Trên đầu cha tôi đủ các loài chim thi nhau ca inh ỏi. Chợt một con bậy bạ trúng giữa mái tóc cha tôi trắng xóa. Cha tôi nhìn lên xem có phải phân quạ. Vì nếu phân quạ sẽ gặp niềm rủi ro. Khốn nạn, cha tôi vừa ngẩng mặt nhìn lên thì chiếc hoa gạo to hơn nắm tay rơi giữa mặt. May mắn, cuống hoa ngược chiều nên những cánh hoa nát bét trên khuôn mặt của cha tôi như thể cha tôi bị đạn bắn vỡ mặt. Anh em tôi chạy lại quỳ xuống, cuống quít:

- Cha có đau không hở, cha?

- Cha có mở được mắt không?

Cha tôi nói:

- Đau gì mà đau, cái hoa đó mà...

Giọng em Mai run run:

- Con thấy nó kêu đánh "bốp". Chắc cha đau, cha nói dối. Con thì con khóc rồi. Cha đau thật hở, cha?

- Cái hoa nhẹ như bấc thì đau nỗi gì. Cha chỉ đau vì...

Tôi hỏi gặng:

- Vì sao cơ ạ?

- Vì... các con khổ sở!

Cha tôi rươm rướm nước mắt. Anh em tôi cúi đầu.

Mặc dù bé bỏng, anh em tôi cũng nhận ra hình ảnh cuộc đời cha tôi. Một hình ảnh bằng bao nhiêu hình ảnh nham nhở khắc khoải, què quặt. Tôi cầm tay cha tôi, nói nhỏ:

- Con sung sướng chứ có khổ đâu?

Em Mai cũng hối hả:

- Con chả khổ gì cha ạ!

Cha tôi mỉm cười gượng gạo:


- Các con nói dối.

Tôi nắm chặt tay cha tôi hơn:

- Lúc nào gần cha mẹ là các con sung sướng rồi.

Em Mai ôm đầu cha thủ thỉ:

- Con yêu cha.

- Yêu cha thì phải chăm học các con nhé, Hữu nhé! Nhất nghệ tinh...

Luôn luôn cha tôi nói "nhất nghệ tinh"... Tôi nhìn cha tôi, thấy má bên trái con dính chút máu hoa gạo. Đưa vạt áo lau sạch vết nhơ ấy, tôi giục:

- Cha vào gội đầu kẻo bẩn.

- Điềm may đấy con ạ! Hoa rơi là sang năm cha con mình giàu. Cha sẽ tậu nhà ngói trên tỉnh, con có cái xe đạp nhỏ đi học.

- Thế mẹ con?

- Mẹ con thì.. Ờ, ờ, khó nghĩ quá. Con chọn quà biếu mẹ xem nào.

- Mẹ con thôi bán xôi chè này, mẹ ở nhà khâu vá quần áo với lại kể chuyện ma này. Cha cho tiền con mua cái tráp đựng trầu biếu mẹ con nhá! Em Mai muốn mua biếu mẹ xâu tràng hạt để mẹ niệm Phật cha ạ!

- Ừ, ừ con muốn gì cũng được.

- Em Mai có búp bê, có ô tô, có tàu thủy, có nhiều thứ lắm. Em Mai không phải chơi đồ chơi bằng vỏ hến, nút chai...

Em tôi thích chí cười hớn hở. Đôi má núm đồng tiền xinh xinh tệ. Em làm nũng:

- Áo con rách rồi, cha mua áo cho con trước nhất cha nhé.

Cha tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đang sáng rực mộng ước, phút chốc mờ đi, buồn. Cha tôi ngắm anh em tôi rồi khẽ gật đầu nói nhỏ:

- Ừ, mai cha mua áo cho con.

Hôm sau, nhằm ngày phiên chợ, cha tôi bỏ việc dẫn anh em tôi đi mua áo. Chợ phiên đông đúc, cha con dắt díu nhau chỉ sợ lạc. Qua hàng nước dừa, cha tôi cho mỗi đứa uống một cốc nhỏ năm hào. Hết quán này, quán khác mà chẳng thấy cha tôi nhắc chuyện áo làm em Mai thấp thỏm. Mãi cha tôi mới kéo anh em tôi đến hàng quần áo may sẵn có vô số người xúm lại mặc cả. Anh em tôi len lọt được vào. Em Mai nhìn những chiếc áo cánh trắng rồi nhặt vài chiếc để ướm thử. Mắt em long lanh nhưng cha tôi thì nét mặt tự nhiên tái chợt, đôi tay run run cơ hồ như sốt rét. Cha tôi hỏi giá, người bán trả lời. Thêm thêm bớt bớt chán chê, rốt cuộc, cha tôi không dám nhất định vì sợ hớ. Em tôi trống ngực đánh thình thịch, nửa mừng nửa lo. Tôi biết giá có manh áo kia, em tôi hả hê vô vàn. "Già được bát canh, trẻ manh áo mới" mà. Cha tôi cũng biết thế, song người bán hàng chẳng thèm biết. Cha tôi đứng tần ngần. Tôi phỏng chừng cha tôi thiếu tiền.

Vuốt mái tóc em Mai, cha tôi an ủi:

- Hai anh em ra kia chờ cha nhé! Ra kia kẻo nó bắt bí. Thế nào cha cũng mua cho con.

Em tôi nuốt nước bọt ừng ực. Cha tôi đưa chúng tôi khuất khỏi hàng quần áo. Dặn dò xong, cha vội vàng đi. Trông theo cha, lòng tôi bâng khuâng tê tái. Anh em tôi đợi hàng nửa giờ mà cha tôi vẫn chưa trở lại. Chợ càng đông, tiếng ồn ào huyên náo. Anh em tôi không nghe rõ nữa. Tâm hồn em Mai hướng về manh áo, còn tâm hồn tôi thì không hiểu vì sao bối rối vô cùng. Em Mai cứ luôn miệng hỏi khiến tôi nóng ruột quá. Nắng mùa xuân hừng hực trên đầu chúng tôi. Nắm chặt tay em, tôi dìu em về phía hàng áo.

Bỗng anh em tôi thấy từ các hàng áo ban nãy người ta xô nhau giãn lối. Người bán hàng tức giận đỏ mặt lên, hét lớn:

- Ăn cắp, ăn cắp! Gớm nhanh như chớp, vừa mới quay đi mà nó đã thó mất rồi.

Tôi hoảng hồn, mắt lơ láo tìm cha. Song cha tôi không có trong đám đông trước mặt. Em Mai khóc bù lu bù loa, dỗ mãi em mới nín. Trong khi đó, người bán hàng quai mồm ra chửi bới hết lời. Hắn dọa nếu tóm được cổ kẻ cắp, sẽ đánh róc xương. Tôi chờ, chờ gần xế trưa thì ngờ rằng cha tôi lo kiếm anh em tôi và chắc chắn, đợi anh em tôi ở nhà. Tôi lớn không sợ lạc nữa nên cha tôi cũng có thể về trước. Nghĩ vậy, Tôi trở lại nhà. Anh em tôi buồn thiu, thẫn thờ bước như hai đứa trẻ ăn mày.

Về nhà, mẹ tôi bảo cha tôi bị cảm đang nằm đắp chăn rên hừ hừ. Anh em tôi xúm tới hỏi han. Cha tôi nín thinh không đáp. Em Mai sợ cha phật ý nên không hỏi đến chuyện áo mới nữa. Cả buổi chiều hôm ấy, không khí gia đình tôi nặng nề, khó thở. Đến tối, cha tôi bớt sốt, cha gọi anh em tôi tới gần xoa đầu, nắm tay như thường lệ. Cha tôi nói mua áo xong thì cha tôi cảm thấy choáng váng mặt mày, quên mất chỗ anh em tôi chờ đợi. Rồi cha tôi cắm cổ chạy về. Nghe cha kể chuyện anh em tôi vui mừng, sung sướng. Em Mai tôi hỏi:

- Cha mua áo cho con rồi hở cha?

- Ừ, đây này.

Cha tôi lật chiếu đầu giường nhấc chiếc áo ra. Em Mai vồ lấy ướm thử. Em thay áo cũ mặc áo mới vào. Em khoe tôi:

- Đẹp không anh Hữu?

- Đẹp lắm.

- Đẹp không cha?

Em Mai chợt nhớ điều gì, khuôn mặt ngây thơ nhí nhảnh phút chốc thoáng buồn. Em nói:

- Áo anh Hữu rách lưng cha ạ!

- Để phiên sau cha mua.

Tôi vội nói:

- Áo con vá được, cha đừng mua tốn tiền.

Giữa lúc ấy, mẹ tôi ở dưới bếp bước lên, em Mai níu mẹ, nũng nịu:

- Cha mua áo cho con mẹ ạ!

Mẹ tôi ngạc nhiên hỏi cha tôi:

- Tiền đâu mà cha mua áo cho con?

Cha tôi thản nhiên:

- Vay của bác Cẩm sáng sớm nay.

- Bác Cẩm đi Thái Ninh từ hôm kia cơ mà!

Cha tôi lặng thinh. Mẹ tôi không hiểu gì cũng lặng thinh. Tôi nhìn cha tôi. Cha tôi nhìn mẹ con tôi. Mắt cha tôi long lanh. Bóng cha tôi gầy gò in hình trên bức tường vôi loang lở. Có ai ngờ cái thân thể gầy gò kia lại bọc nổi tình thương yêu rộng lớn như con ốc nhỏ thu gọn cả đại dương trong lòng mà vẫn câm nín. Câm nín suốt đời. Tôi muốn ôm cha tôi, muốn xé rách làn da ngực để được nói vào trái tim cao cả của cha tôi rằng "Cha ơi! Cha vì anh em con mà phải như thế... Con sẽ làm gì cho xứng đáng sự hy sinh đó của cha!" Nhưng làm sao mà nói? Cảm xúc đã nghẹn cả lời. Tôi òa lên khóc. Cha tôi giật mình hỏi:

- Sao con khóc?

- Con thương cha.

- Nín đi... để dành nước mắt chứ chú bé. Khóc nhiều hết thì sao?

Tôi chưa nín. Vì nghĩ tới suối sầu bắt nguồn từ túp lều tranh bên gốc chuối tiêu chảy róc rách, róc rách qua hồn anh em tôi. Suối sầu này còn chảy mãi. Và còn chảy, nước mắt còn rơi, không lo khô cạn.

Sau đấy, cha tôi bị ám ảnh bởi chiếc áo ăn cắp ngoài chợ, trừ tôi, không ai rõ, cha tôi đau ốm liên miên. Tuy nhiên, cha tôi vẫn vẽ bao ước mộng. Anh em tôi mong ngày tháng lụn dần, sang năm chóng đến. Song sang năm chưa kịp đến với nhà ngói ở tỉnh, với búp bê, với tàu thủy, với xe đạp thì cha tôi nhuốm bệnh thương hàn. Tôi cố nghiến răng giữ kín chuyện nên khi cha tôi chết cha tôi vẫn tưởng sự bí mật theo cha xuống lòng mộ.

Cha tôi chết, mẹ con tôi nheo nhóc bơ vơ. Mẹ tôi năm tháng ngồi đan nỗi buồn ở bến đò Đồng Đức. Anh em tôi nhìn đám trẻ thành thị rồi vội vàng cúi gầm mặt qua sân nhà ông ngoại, làm rơi mất tuổi thơ.


You do not have the required permissions to view the files attached to this post.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 21:40 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
2 . Con Sáo Của Em Tôi


Sau khi cha tôi mất, gia đình càng ngày càng túng bấn, một mình mẹ tôi không đủ sức nuôi nấng hai đứa con mồ côi nơi thành thị nên mẹ đưa hai anh em tôi trở về làng cũ . Bên nội xóa bỏ tên cha tôi trong gia phả vì cha tôi xé tờ khai sinh mà ông tôi cố tình điền tên tuổi người vợ cả vào chỗ tên tuổi mẹ tôi . Ông tôi muốn gạt mẹ khỏi cuộc đời cha tôi bấy giờ và cuộc đời tôi mai hậu. Việc ấy rất giản dị như ông đã xóa bỏ tên chú Nghị vì chú mê cô đào cải lương gia nhập ban hát, lang thang rày đây mai đó. Bên ngoại từ bỏ mẹ tôi ngay từ dạo mẹ có mang ba tháng vì mẹ trốn nhà, vượt luật lệ cổ truyền, theo cha tôi làm vợ lẽ. Thành thử lớn lên anh em tôi mù mịt cả ý niệm gia tộc. Mẹ tôi thường kể rằng trước khi lấy mẹ tôi, cha tôi đã có vợ . Người vợ ấy cha tôi không yêu thương, nên bốn năm liền bà tôi cứ hoài công mong bế cháu. Ông tôi buồn phiền, thở dài thườn thượt, ông nghĩ đến nghiệp chướng xa xôi nào, lúc này sự quả báo hiện hình khiến dù con gái. Thật vô phúc. Cha tôi đi vắng luôn luôn, cha năng ở nhà ông phó Nhị hầu hạ ông để hòng ông truyền hết ngón đàn thập lục.

Cha tôi phải giặt quần áo, đấm bóp chân tay hay kiếm rượu, đồ nhắm cho ông Phó, phục dịch ông đủ điều. Rốt cuộc ông Phó vẫn giữ lại đôi ngón sở trường, ông sợ dạy hết, mai mốt cha tôi giỏi hơn ông. Bởi vậy, tài nghệ của cha tôi chưa nổi bật, và chưa đủ thời giờ nghiên cứu âm nhạc quê hương thì cha tôi đã gặp mẹ tôi. Cuộc tình duyên này làm đảo lộn đời cha và ảnh hưởng rất nhiều đến anh em tôi sau này.

Ông nội tôi biết chuyện tức sôi ruột, chửi bới cả gia đình nhà mẹ tôi. Tiếng dữ đồn tới xóm làng bên kia sông. Ông ngoại tôi đuổi mẹ tôi khỏi cửa. Bấy giờ mẹ tôi có mang tôi được ba tháng. Cha tôi lén lút gởi mẹ tôi nương náu nhờ người bà con xóm cuối thôn. Bà nội tôi thương con cả, lại nghe tin mẹ tôi có chửa nên bớt giận. Bà nội xin ông nội nhận mẹ tôi làm vợ lẽ cha tôi. Cuộc hôn nhân không giá thú. Việc tưởng vậy êm thắm. Ai ngờ ông ngoại tôi lồng lộn tìm bắt mẹ tôi, đánh đập mẹ tôi một trận tàn nhẫn. Tệ hơn nữa, ông ngoại tôi lại gọt hết tóc, bôi vôi trắng xóa đầu mẹ tôi rồi mới đoạn tình phụ tử. Mẹ tôi phải trùm khăn vuông kín mít ngót hai năm trời.

Mẹ về sống dưới gian nhà mái dột, vách bùn trát nham nhở bên cạnh chuồng trâu của đại gia đình họ Nguyễn nhà tôi. Suốt thời gian đèo bòng cái hình hài tôi, cái bọc đau khổ, mẹ tôi chịu đựng bao nhiêu điều tủi nhục. Hết người vợ cả hẹp hòi, ích kỷ của cha tôi hằn học ghen tuông, lại đến các cô tôi kiếm cớ sinh sự. Vợ cả cha tôi bảo mẹ tôi độn vải đầy bụng để đánh lừa ông tôi. Ông tôi nhiều bận chỉ mặt mẹ tôi dọa nạt rằng nếu đúng tháng mà không sinh nở thì sẽ tống cổ mẹ tôi đi. Chú Nghiêm thỉnh thoảng về thăm nhà cũng hạch sách mẹ tôi. Ông tôi quý chú Nghiêm lắm. Trong khi cha tôi mải đàn sáo, chú Nghị giang hồ phiêu bạt, chú khéo léo chiều ông tôi. Bởi thế chú Nghiêm được xuống tỉnh học, đỗ đạt giỏi giang. Chú khinh bỉ mẹ tôi, sự khinh bỉ chú học mót của đám dân trưởng giả thành phố. Mẹ tôi đau khổ trăm chiều, ngày làm quần quật như con vật, tối ôm bụng khóc một mình. Tội nghiệp mẹ tôi, tôi chả biết ví mẹ giống ai. Ðầy tớ nhà ông tôi còn sung sướng còn nói đùa nghịch, chứ mẹ tôi thì câm nín suốt ngày đêm. Cha tôi hy vọng mẹ tôi sinh con trai và đứa đầu lòng sẽ là nhịp cầu bắc qua những tâm hồn người bên nội với tâm hồn mẹ tôi. Chắc chắn mẹ tôi hết tủi cực.

Ðến ngày mẹ tôi trở dạ, ông tôi cất vội vàng túp lều nhỏ ở xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu. Tôi cất tiếng khóc ban đầu nơi ấy, ở túp lều xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu, cạnh những con người hà tiện tình thương mến. Vì đêm tôi mở mắt chào đời, cha tôi đi vắng nên cớ sự xảy ra như tôi đa nói đoạn đầu. Tuần lễ sau cha tôi về, cha nghiến răng xé nát tờ khai sinh rồi đưa mẹ con tôi xuống tỉnh ly. Tôi vĩnh biệt họ hàng bên nội bằng mấy tiếng "oe oe". Tôi lớn dần, lớn dần để thu vào tầm mắt non nớt hình ảnh cuộc đời cha tôi : hình ảnh gã nhạc công hậu trường sân khấu cải lương, hình ảnh ông lái thuốc bắc, hình ảnh ông thư ký sở tư, hình ảnh ông thợ chữa xe đạp và sau rốt là hình ảnh ông lang chế thuốc cao đơn hoàn tán. Mãi tới ngày cha tôi mất, tôi mới thù hằn những hình ảnh méo mó đọa đầy linh hồn cha tôi. Sao đời cha tôi nhiều hình ảnh thế? Và đời tôi nữa, hình ảnh thẫm nét nhất là một đêm mù mịt bên khóm chuối tiêu. Thế mà anh em tôi lại phải về quê ngoại. Tôi không hiểu tại sao mẹ tôi chịu nhục nhã, nương náu dưới túp nhà lá bỏ hoang vườn sau, trước đây ông bà ngoại dành riêng cho bọn thợ gặt mỗi vụ mùa. Mẹ tôi chỉ nghĩ đến anh em tôi. Trời ơi, tôi muốn khóc quá.

Ở đây, chúng tôi sống lủi thủi cô độc. Mẹ tôi dọn quán bán nước chè tươi, xôi chè, canh bún ngoài bến đò Ðồng - đức, bòn nhặt từng hào chỉ. Thường mẹ dậy sớm sửa soạn đồ hàng, cơm nước buổi sáng để anh em tôi ăn. Mẹ nắm thêm hai nắm nhỏ phòng trưa đói còn lót dạ tạm. Chập tối mẹ lần mò về nhóm bếp thổi cơm. Bữa nào hàng ế ẩm, mẹ con tôi ăn canh bún, ăn xôi chè thay cơm. Mẹ tôi luôn luôn vui vẻ dù thỉnh thoảng cậu mợ, dì bác tôi mỉa mai đủ điều. Họ nói những lời mà bây giờ tôi hãy còn nhớ. Tôi không thể tưởng tượng nỗi tê tái nghiến nát cõi lòng mẹ khi bà ngoại gọi mà là "đồ đĩ", bác tôi bảo mẹ là "con lăng loàn" và mợ tôi nói bâng quơ "cóc chết ba năm quay đầu về núi". Tôi thấy mẹ tôi cúi đầu lẳng lặng, nước mắt nhỏ giọt trên mái tóc em tôi, thì tôi đoán rằng mẹ buồn. Hồi ấy, tuy tôi bó bỏng nhưng tôi đã biết xét đoán những con mắt soi mói, những lời tiếng bấc chì, những bộ mặt ích kỷ của mọi người họ hàng bên ngoại. Tôi thương mẹ. Tôi thương em gái tôi hơn, chưa được hưởng sung sướng thì cha vội lìa đời. Tôi hằng mơ ước một mai khôn lớn, tôi sẽ kiếm tiền nuôi mẹ, sẽ tậu nhà ở tỉnh, mẹ tôi thôi bán hàng, em tôi cắp sách đi học. Nghĩ vậy tôi thèm đọc sách lắm. Khốn nỗi mẹ tôi nghèo cực, lấy tiền đâu mà mua. Tôi đành học ôn mớ sách cũ nát và dạy em tôi từng trang, từng đoạn dè sẻn, sợ hết chữ.

Ðám con cái cậu mợ tôi vào hùa cha mẹ chúng bắt nạt anh em tôi. Hễ em tôi hở ra món đồ chơi nào là chúng nó tìm cách ăn cắp. Tôi đòi, chúng xúm nhau đánh đập tôi sưng tím cả mặt mày. Em tôi khóc, mẹ tôi thở dài đau đớn. Dần dần cuộc sống quen nếp. Anh em tôi biết thân phận, bắt chước mẹ tôi, tập nhịn nhục, tập nghiến răng và hy vọng. Anh em tôi đùa nghịch với nhau, chẳng dám lai vãng đến thềm nhà ông bà ngoại.

Tôi hay bắt dế, bắt chuồn chuồn, bắt công cống cho em tôi chơi. Bạn bè của chúng tôi có chừng chỉ có con chim chích chòe sáng nào cũng đậu trên cành soan ca hát líu lo rồi tung cánh bay xa tìm mồi. Em tôi thích chim. Tôi vụng về, không trèo cao được. Tôi hẹn sẽ bắt tặng em tôi một con sáo khi mùa xuân sang.

Mùa xuân, hoa soan vườn nhà nở nhiều, mầu tím dịu mắt. Mẹ tôi nói hoa soan nở chỉ tổ đuổi muỗi mệt xác. Cùng lượt hoa soan khoe sắc, sáo trên rừng đổ xô xuống đồng bằng hàng đám, cơ man. Em tôi nhìn những con sao đen, lông muôn muốt, viền mắt vàng vàng, ra chiều thèm ước. Tôi theo bọn trẻ con bến đò, lấy rổ rách, vất cạp rồi buộc lại tựa hình cái đó đơm tép. Xong, tôi bó manh chiếu bên ngoài bịt chặt một đầu, còn đầu kia để ngỏ cho sáo ra vào. Tôi buộc tổ sáo trên cành sung thấp nhất. Hai hôm sau vợ chồng nhà sáo bắt đầu tha rác về tổ của anh em tôi. Chúng tôi hoan hỉ đợi chờ. Em tôi chưa chi đã vọi lo cái lồng nhốt con sáo. Tôi bảo em tôi phải mong ba tháng. Em tôi sốt ruột. Ngày nào cũng hỏi thăm sáo. Mẹ mắng em, em dỗi bỏ cơm. Tôi dỗ dành em mới chịu ăn.

Ít lâu sau tôi trèo lên thăm tổ. Tôi thò tay tận phía trong và biết sáo đẻ bốn trứng. Tôi lôi ra xem. Trứng sáo to bằng ngón tay cái của tôi, màu xanh xanh vân vân đẹp quá. Tôi kể chuyện em nghe. Em nhẩy reo ầm ỹ. Mẹ tôi dọa rằng :

- Rắn ưa tìm tổ chim ăn trứng. Con liệu hồn, nó cắn thì chết.

Tôi phát run, thề sẽ chừa thói liều lĩnh nguy hiểm. Nhưng em tôi muối coi trứng sáo, em cứ nằn nì đem xuống một trứng. Tôi đành mạo hiểm lần nữa. Lúc tôi đang lúi húi trước cửa sổ thì vợ chồng đôi sáo bay về. Chúng nó lượn trên đầu tôi, kêu inh ỏi. Tôi bỏ trứng vào túi áo, tụt xuống, sướt cả tay, máu chảy đầm đìa. Em tôi thỏa mãn sự tò mò, em trông tôi, thương hại. Tôi an ủi em và trả lại trứng cho sáo.

Tối hôm ấy mẹ tôi đánh tôi hai roi tội không vâng lời. Mẹ nói :

- Còn trèo nữa, sáo sẽ bỏ tổ.

Anh em tôi lo ngại ngủ chẳng ngon giấc. Ngày tháng mùa xuân trôi vùn vụt. Một buổi sáng anh em tôi nghe rõ tiếng sáo con kêu trong tổ, em tôi hỏi :

- Anh ơi! Sáo con có bú mẹ không?

Tôi vuốt tóc em dịu dàng trả lời :

- Em bú mẹ chứ sáo nào bú mẹ

Em ngây thơ :

- Thế làm sao nó lớn được?

- À sáo mẹ mớm mồi.

- Sáo bố làm gì hở anh?

- Sáo bố đứng canh. Em nhìn thì biết. Kia kìa, trên cành cây gần tổ. Khi sáo mẹ mớm mồi cho các con, cũng như khi ấp trứng, sáo bố bao giờ cũng lởn vởn ngoài tổ em ạ!

Tôi giảng nghĩa thế vì tôi nghe lỏm bọn trẻ con ngoài bến đò. Em tôi ngạc nhiên, ngây người đứng ngắm. Lát lâu em mỉm cười nũng nịu :

- Sáo con ngủ, sáo mẹ có ru không anh?

- Chắc có.

- Anh biết à?

- Thì anh đoán, chim cũng như người vậy em ạ!

- Mẹ ru em bằng bài "Con cò mà đi ăn đêm", sáo ru con bằng bài gì hở anh?

- Anh chịu, chả biết được.

- Giá sáo là người để em hỏi nó chắc thích lắm anh nhỉ?

- Ừ.

Ðám con cái ngỗ nghịch của cậu mợ tôi đã thấy chỗ tôi buộc tổ sáo. Tôi tức' sôi ruột, tức muốn đốt nhà chúng nó. Chúng nó rình mò làm tôi không thể ra bến đò trông hàng giùm mẹ tôi những lúc đông khách. Anh em tôi thay phiên nhau canh gác. Mẹ tôi khuyên tôi nên chia sáo cho chúng nó. Tôi miễn cưỡng phải rỡ tổ đáng lẽ chờ vài hôm nữa sáo con già dặn hơn. Hôm tôi bắt sáo con, vợ chồng sáo bay lượn kêu thảm não. Sáo mẹ sà xuống sát đâu tôi như thể nó sắp mổ mắt tôi. Chẳng trách cha tôi xé tờ khai sinh, mẹ tôi chịu vất vả, khổ sở. Mẹ tôi mua giỏ bắt cua để tôi nhốt sáo. Cậu mợ tôi chọn lựa ba con đẹp, lớn ; phần tôi là con sáo đẹt, bé nhỏ, xấu xí nhất đàn. Tôi buồn, khóc mấy đêm ròng. Làm sao tôi nhớ hết mọi chi tiết vụn vặt cái hôm ông cậu bà mợ tôi chia sáo? Cậu tôi bóp con sáo xấu số của tôi khiến cho nó há mỏ ra. Em tôi run rây chỉ sợ nó chết? Mợ tôi bảo :

- Bọn mày nuôi sáo làm quái gì, cơm còn không đủ ăn lại có cơm thừa nuôi sáo.

Tôi cáu tiết cãi lại :

- Sáo ăn cào cào chứ cần gì cơm gạo.

Cậu tôi chẳng nể nang gì mẹ tôi cả, cậu chúi đầu tôi một cái thật mạnh. Tôi lao đao xuýt ngã. Cậu mắng mỏ :

- Ðồ chết cha, đồ con hoang có khác. Anh em mày lớn lên thì thành đồ ăn cắp!

Tôi nín lặng, em tôi chạy vào ôm lấy mẹ. Và cả tôi cũng lủi thủi cầm con sáo vừa đi vừa khóc. Tiếng khóc của em tôi, em tôi rõ ràng hơn. Mẹ tôi thương anh em tôi, mẹ bỏ bán hàng nửa buổi đan cái làn mắt thưa. Mẹ bảo nhốt sáo vào đấy rồi treo lên cây, sáo mẹ luyến con sẽ mớm mồi, như vậy sáo chóng lớn.

Tôi nghe mẹ. Quả con sáo của anh em tôi được sáo mẹ chăm lo chu đáo. Ðám con cái của cậu mợ tôi ghen ghét. Chúng nó chăm chăm đòi bắn đôi sáo già. Tôi chỉ ngại nhỡ chúng bắn sáo của tôi. Bọn ranh con mất dạy, ích kỷ bắn súng cao su không trúng, chúng nó nhờ người thổi ống xì đồng. Buổi sáng hôm cái gã mắt chột rình rập ngoài vườn, anh em tôi lo cuống quýt. Em tôi nhìn sâu chim đủ loại : chào mào, chích chòe, liếu tiếu lủng lẳng trên vai hắn, em nói nhỏ :

- Khéo nó bắn chết sáo mất anh ạ!

Tôi run run trả lời em :

- Ðừng sợ em ơi! Mắt nó chột bắn chả tin đâu.

Nhưng đôi sáo già đi kiếm mồi đã về. Tim anh em tôi đập mạnh. Tôi rõi mắt lên cành sung chờ đợi. Sáo bố đậu cách cái làn khá xa, sáo mẹ mon men lại gần mớm mồi. Trong lúc đó, viên đạn đất oan nghiệt từ ống xì đồng thổi phụt ra. Sáo bố trúng đạn rơi xuống ao. Em tôi giật nẩy mình kêu lớn :

- Chết em rồi!

Tôi cảm thấy như viên đạn trúng đầu tôi. Con sáo bố đã chết. Sáo mẹ bay lượn, rỉa rói ai oán hàng giờ. Em tôi ứa nước mắt :

- Sáo của anh em mình mất bố rồi nó sẽ khổ lắm anh nhỉ?

Câu nói khiến lòng tôi se lại. Tôi nhớ cha tôi. Phải chi cha tôi còn sống thì anh em tôi đâu khổ sở thế này. Sáo mẹ thỉnh thoảng bay tới, nó chỉ dám sà vội qua cái làn, có khi sáo con chưa kịp há mỏ, mồi đã rơi mất. Sáo mẹ sợ sệt tất cả. Tôi chạnh nghĩ đến mẹ tôi mà buồn vời vợi.

Em tôi lo cho sáo con, đòi mang xuống. Tự đấy sáo mẹ không trở lại nữa. Có lẽ nó đã chết vì cô độc hay đã về rừng. Chúng tôi nuôi sáo bằng chuối. Dần dần sáo lớn, tôi ra đồng đập cào cào lấy mồi nuôi sáo. Tội nghiệp sáo con côi cút, đêm ngày âm thầm chui rúc trong cái giỏ cua. Em tôi đang phân vân không hiểu mai kia sáo lớn nhốt vào đâu. Ước gì có cái lồng tre, chúng tôi mơ ước song mẹ tôi không thừa tiền chiều chuộng con.

Giữa lúc đó thì chú Nghị đến thăm mẹ tôi. Họ hàng bên nội nhà tôi chỉ chú Nghị là kẻ có lòng. Bao nhiêu năm tháng qua rồi, từ ngày tôi sinh ra đời tới bây giờ, chú luôn luôn an ủi, giúp đỡ mẹ tôi. Tuy chú nghèo, tôi thường nghĩ giang hồ phiêu bạt như chú, giầu sao được. Chú Nghị tốt lắm, chú bên vực mẹ tôi thuở mẹ tôi bị cả gia đình chồng xúm vào cấu xé, đay nghiến chỉ vì mẹ tôi thương yêu cha tôi quá đến nỗi mẹ bằng lòng lấy cha tôi không cần giá thú. Hôm đưa xác cha tôi tới nghĩa địa, tôi thấy chú khóc nức nở khi những tảng đất phủ kín dần chiếc quan tài bằng gỗ mộc. Tôi còn đủ trí nhớ để hình dung ra bộ mặt khắc khổ phong sương của chú Nghị. Và hình dung ra thì tôi lại ghét cay đắng ông bà nội, các cô các chú tôi, nhất là người vợ cả ích kỷ của cha tôi.

Dạo cha tôi ở Hà - nội, ban tuồng chú Nghị sau nhiều chuyến lang thang dọc. đường gió bụi, trở về trình diễn tại thành phố này. Chú dành ghế cho cha mẹ tôi xem tuồng liên miên. Mỗi buổi tan hát, chú dẫn đi ăn mì. Khi rảnh rang, chú dắt tôi tới vườn Bách - thú xem xiếc hoặc dạo mát loanh quanh trong công viên rồi ra ngồi ăn bánh tôm trên đường Cổ - ngư bên hồn Trúc - bạch. Mỗi phố tôi qua, chú dạy tôi cách trông chừng hai đường xe cộ lưu thông. Vì chú cháu tôi hay thơ thẩn buổi sáng, chú bảo tôi thở hít mạnh, chú giữ lưng tôi ngay thẳng tựa người lính tập đứng nghiêm. Tôi yếu đuối, chắn chắn sự yếu đuối ảnh hưởng phần nào những ngày mẹ tôi mang thai tôi, tâm hồn mẹ bị dằn vặt, thôi thúc thời gian đó. Huệ, Lê - Lợi, Lý - Thường - Kiệt, câu kết luận của chú bao giờ cũng hàm đầy ý khuyến khích :

- Cháu gắng lên, mai mốt cháu sẽ giỏi, cháu sẽ hãnh diện làm con của cha mẹ cháu.

Tôi không nghe chú nói tới quãng đời luân lạc chim nổi của một kép hát. Sau này vợ chú bỏ chú lấy người khác, chú nghiện rượu và thù hằn tất cả. Tôi không biết tại sao chú hay giấu điếm sự uẩn ức mà đáng lẽ nói được thì chú bớt giận dữ kẻ khác trên đời. Nhưng, ngay trong những cơn điên tàn bạo, chú tôi rất h iền hòa với mẹ tôi. Tôi nhớ dạo gia đình tôi sống ở ngoại ô Khâm - thiên, nhà tôi phải đi qua cái ngõ hẹp bẩn thỉu. Một buổi tối, tôi đang cắm cổ bước, vì tôi sợ ma, thình lình chú Nghị nấp sau đám giậu kêu "ú a ú ớ" cơ hồ tiếng ma quỷ giận hờn rồi xô ra chắn lối. Chú muốn dọa tôi nên chú chơi thế. Song lúc ấy tôi không thèm hiểu. Trong khoảnh khắc, đầu óc tôi tràn ngập sợ hãi, khích động. Tôi cáu tiết đá chú nột cái thật mạnh. Tôi mới lên mười nhưng tôi mang giầy, trong cơn tức giận tôi đá mạnh kinh khủng và cái đá làm sước ống chân chú Nghị. Máu chảy ròng ròng, chú đau đớn, rên nhè nhẹ rồi ngẩng lên mỉm cười. Chú ôm tôi xin lỗi. Tôi khóc thương chú khiến chú rớt nước mắt. Chú Nghị mang vết sẹo trên da tháng năm nối tiếp. Thỉnh thoảng vui vẻ, chú kéo ống quần khoe vết sẹo. Anh em tôi lại sà vào lòng chú nũng nịu.

Ngày mẹ tôi dìu anh em tôi về quê ngoại, chú phiêu bạt mãi tận Sài - gòn. Thành thử chúng tôi trống rỗng buồn tẻ. Không ai bênh vực an ủi anh em tôi. Nay tự nhiên chú Nghị đến, hỏi chi anh em tôi không vui mừng sung sướng. Bên ngoại vẫn thù bên nội vì ngày mẹ tôi trốn nhà theo cha, ông nội cứ gọi tên ông ngoại chửi bới, trách móc. Lúc này chú Nghị có mặt ở đây, tôi thấy chú nhét bông đầy tai và đeo kính râm suốt ngày. Chú mua cho tôi vô số sách đẹp. Chú dạy anh em tôi học. Tôi thích chú Nghị nói chuyện lịch sử. Em tôi thì bận tâm về con sáo nhỏ. Em khóc khi chú dạy tôi toán pháp. Chú hỏi em tại sao, em bảo ước' gì có cái lồng như bọn anh chị em con cậu con bác tôi. Chú Nghị vuốt tóc em, chú tháo cặp kính, mắt chú đỏ ngầu, chú thẫn thờ giây lát rồi ghé tai em tôi thầm thì. Em tôi nhảy lên reo múa. Mấy hôm sau, chú bỏ việc dạy học, ngồi cặm cụi vót tre đan lồng. Ba bốn ngày liền chú mới đang xong. Cái lồng sáo của em tôi đẹp chả thua gì lồng bán ngoài bến đò. Chú làm chiếc thang ngang lấy chỗ cho sáo đậu, chú buộc cóng đựng nước và cóng chưa có gạo, nước. Con sáo được nuôi trong lồng ra bỏ đi. Mẹ tôi giữ thế nào cũng chẳng nổi. Tôi hết hy vọng học chú. Hôm chú mới đến, chú hứa chú ở lâu, chú nói dối anh em tôi. Chú Nghị ra đi, ít tháng sau được tin chú chết, mẹ con tôi buồn não nuột. Từ đó, sớm chiều anh em tôi đành tâm sự với con sáo.

Tôi ra đồng đập cào cào, châu chấu làm mồi cho sáo ăn. Em tôi thích đút chuối cho sáo. Em cắn miếng chuối nhỏ, xâu vào đầu cây tăm. Em thổi sao miệng, chú sáo đói kêu "khách khách" trả lời rồi há mỏ ra đợi em tôi mớm ăn. Em còn cho sáo ăn thịt nữa. Những buổi trời ấm áp, em tôi tắm sáo, rửa lồng. Nhìn sáo phơi mình dưới ánh nắng, mắt em tôi bừng lên những tia sung sướng, hy vọng. Em hay thả sáo tự do nhởn nhơ khỏi lồng. Em đi trước, sáo theo sau tựa hồ đôi bạn côi cút thương yêu nhau. Con sáo của em khôn lắm, nó thường "làm nũng" em lúc em cho nó ăn. Nó nhảy lên cánh tay em rồi bậy trắng lòe áo. Em thích ôm sáo trong lòng đôi bàn tay hoặc để nó đậu trên vai rất âu yếm. Bữa nào sáo ăn ít, em sợ sáo ốm, sáo chết, em buồn có khi em khóc. Nhiều đêm trời mưa bão, em ngủ không yên, thức giấc là hỏi chuyện sáo.

Ngày tháng trôi qua, con sáo của em tôi thay hình đổi dạng. Bộ lông đen mượt, nó nhẩy nhót luôn chân. Nó đã biết mổ gạo. Như thế anh em tôi khỏ cần lo cào cào, châu chấu, chuối, thịt nữa. Mẹ tôi bảo bóc lưỡi sáo vài lần thì nó mới nói được. Em tôi sợ sáo đau nên ngần ngừ. Nghe ai mách rằng cho sáo uống nước cua kẻo nó "sốt rét", em tôi định làm, song mẹ tôi mắng :

- Sáo đẻ ở đồng bằng thì ngã nước cái gì, chỉ vẽ chuyện.

Thế rồi anh em tôi cũng phải nhờ mẹ tôi bóc lưỡi sáo. Con sáo xấu xí út ít không ngờ đẹp quá. Bọn trẻ gạ gẫm mua, anh em tôi từ chối. Chúng nó tức giận bèn mang con mèo già hung ác tới dọa nạt. Anh em tôi thay phiên gác sáo.

Bây giờ con sáo tập hót. Mắt nó còn viền vàng xinh đáo để. Thỉnh thoảng vắng người nó líu lo đôi tiếng. Hễ có người thì nó câm tiếng. Em tôi cho rằng nó xấu hổ. Một buổi trưa anh em tôi đang thiu thiu ngủ bỗng nghe con sáo kêu hoảng hốt. Em tôi vùng dậy, thấy ở thềm nhà gã mèo hung ác đứng gầm gừ nhìn lên. Em vác guốc ném trúng mèo, nó co đuôi chạy mất. Chúng tôi lo sợ. Mẹ tôi bắt mang lồng sáo ra ngoài hàng, tối mang về.

Khách hàng ghé quán mẹ tôi, họ dạy anh em tôi cách tập sáo nói. Họ bóc hộ lưỡi rồi họ che kín mít lồng. Quả nhiên sáo không nhìn rõ ai, hót líu lo. Giọng nó trong vắt mà buồn làm sao. Trưa hè ở bến đò vắng vẻ, tiếng nó gợi cho anh em tôi bao nỗi nhớ nhung thương tiếc. Tôi lại nhớ chú Nghị, nhớ cha tôi. Dần dần em tôi dạy nó nói. Bài học vỡ lòng để sáo nói tiếng người là :

- "Sáo dạ, sáo dạ, nhà có khách".

Em tôi kiên nhẫn dạy sáo, mãi rồi con sáo côi cút của em tôi nói được. Em ngây thơ lắm, em dạy cả sáo hát, dạy nói những lời hết sức tha thiết :

-"Sáo nhớ mẹ, sáo khóc ".

Con sáo dường như hiểu nỗi lòng của em tôi nên cố gắng. Khi em hát, sáo hót và nói "Sáo nhớ mẹ..." Càng ngày sáo hót càng hay. Thấy là lạ, ông ngoại tôi xuống chơi nhà tôi nghe sáo nói. Việc này quá sự tưởng tượng của mẹ tôi. Từ ngày gia đình tôi về nương náu ở đây có khi nào ông ngoại tôi thèm thăm hỏi. Ông thích con sáo, ông đòi mượn. Em tôi lăn ra khóc' từ chối. Sau hôm ấy, ông ngoại ghét anh em tôi hơn.

Ở bến đồ, vô khối người muốn mua, họ trả một trăm đồng nhưng em không bán. Mẹ tôi khuyên em nên bán vì trăm bạc sẽ may được cho hai anh em tôi mỗi đứa hai bộ quần áo diện tết. Em tôi không cần quần áo, nếu mẹ bán sáo thì em tôi sẽ nhịn đói đến chết. Cuối cùng mẹ chiều em. Anh em tôi có con sáo nên bớt cô độc. Trẻ con hàng xóm năng lui tới nhà tôi trừ bọn anh em họ độc ác của tôi. Trong quãng đời thơ ấu buồi tủi, anh em tôi thèm thuồng đủ thứ. May mắn mẹ đưa anh em tôi về quê chứ ở lại Hà - nội thì anh em tôi còn khổ sở dường nào. Ðiều chắc chắn là em tôi không có con sáo để trút nỗi niềm. Em tôi ưa ngồi một mình nói chuyện với sáo. Em tôi kể nỗi hiu quạnh của em làm như sáo hiểu nổi. Em hỏi sáo :

- Mất bố mẹ sáo có khổ không?

Rồi em nói tiếp :

- Khổ ư? tội nghiệp nhỉ , bé bỏng thì chỉ bị bắt nạt thôi sáo ạ! Sáo đừng khóc nhé! À sáo ăn no chóng lớn, chớ bỏ bữa, gầy còm rồi chết thì tôi buồn đấy sáo ạ! Chả ai chơi thân với người nghèo như mình đâu.

Con sáo đôi khi vô tình buột miệng :

- "Sáo nhớ mẹ sáo khóc"

Em tôi dỗ dành :

- Ừ, sáo nhớ mẹ, tôi cũng nhớ cha. Sáo khóc à, thì khóc đi...

Tôi nằm nghe, nước mắt trào ra cay đắng. Dạo ấy tôi mới chỉ mười ba tuổi, em tôi tám tuổi. Nhưng tôi sớm tiếp nhận nỗi u sầu vào tâm hồn. Và bao nỗi niềm tủi nhục thay phiên hất hủi mẹ con tôi nên tôi đã khôn ngoan, đã biết khinh bỉ họ hàng bên nội bên ngoại trừ chú Nghị.

Cuộc đời đọa đầy tôi ngay ở cái tuổi đáng được hưởng hạnh phúc, sung sướng. Thành ra nếu có ai nghi ngờ, tôi vẫn nói rằng suốt thời thơ ấu của tôi, tôi không biết trông trăng trông sao, không biết bẻ hoa bắt bướm mà chỉ biết be bờ ruộng đơm đó kiếm tép để ăn, ăn thừa thì mẹ tôi đem ra bến đò bán. Cùng tuổi tôi, đám con cái của cậu MỢ tôi còn vòi vĩnh cha mẹ, ngu ngơ chả hiểu gì. Thế mà tôi hiểu cách rang cám cho thơm, cắt màn cũ khâu thành vó, vót tre thành giọng, cất vó tôm. Tôi hiểu cách cưa ống nứa, đan hom đào giun xào với lá bòng thả ống lươn. Tôi hiểu cách đan rọ cá rô, ngâm thóc vào nước gạo cho thối nhử đàn cá. Tôi hiểu nhiều lắm, hiểu cả những lời bóng gió, mỉa mai của thiên hạ để sau này bước xuống cuộc đời đem tâm sự của một con chim hụt mũi tên.

Mẹ tôi ví tôi như trái chín rấm. Tôi tưởng tôi là trái chín hoang. Vì trừ trái chín cây không thèm kể đến, trái chín rấm còn được người ta xếp vào lò hay bỏ vào vựa, vào chum, người ta nhét vào đầy lá soan cho mau chín chứ đời tôi, đời anh em tôi nhất định là hai trái chín hoang. Ngày nào đó, người ta thấy hai trái xanh quá, xấu xí quá, người ta ném vô bụi giậu. Mưa, nắng, gió bão tới tấp, chịu đựng nổi thì trái chín. Tôi biết tôi chịu đựng nổi bởi vì ngoài họ hàng bên nội bên ngoại còn mẹ tôi, còn chú Nghị. Ngoài đám con cái cậu mợ tôi hay bắt nạt, hếp đáp anh em tôi còn bọn trẻ con ở bến đò Ðồng - đức dạy tôi buộc tổ sáo... Và mai mốt tôi sẽ chín, chín chẳng để trả thù ai đâu, nhưng chín để kể lại chuỗi ngày tháng anh em tôi nuôi con sáo.

Con sáo là niềm an ủi duy nhất, là niều kiêu hãnh duy nhất của anh em tôi. Trong khi chung quanh tôi, trẻ con nhà giầu nuôi sáo bằng lồng son, cóng sứ, thức ăn thì gạo trộn lòng đỏ trứng gà, nước uống thì pha sôm nhị hồng, sáo của chúng nó vẫn chết. Anh em tôi nuôi sáo chỉ có gạo trắng, nước lã, lồng tre mà sáo hót lại hót hay, sáo nói lại nói giỏi. Tưởng con sáo cũng nên kiêu hãnh. Với tình thương mến của anh em tôi, với cái lồng do chú Nghị đan, nó đã thành con sáo quý khác cả những sáo quý nhất trên đời.

Tính ra anh em tôi nuôi sáo dã lâu. Năm ngoái mẹ tôi buôn bán phát tài, tết nhất cũng đủ bánh trái, thịt ăn mấy ngày. Anh em tôi mỗi đứa có bồ quần áo mới , có tiền xu, tiền hào chơi đáo, chơi cò quay, có tranh con lợn treo tường, có long đình, tượng bụt chơi làm đình làm chùa. Giá nghe mẹ bán con sáo thì tiếc chừng nào. Năm nay hàng quán ế ẩm. Suốt mùa đông mưa lê thê, bến đò vắng khách. Mẹ tôi lại đau yếu luôn luôn, phải nghỉ ở nhà. Con sáo cùng chung nỗi buồn, biếng ca hót lười bay nhảy, nó quên cả lải nhải mấy câu nói em tôi dạy thuộc lòng.

Trời cuối tháng chạp mưa phùn rả rích. Gió bấc thổi vù vù. Rét thấu xương. Anh em tôi co ro trong ổ rơm, lồng sáo đặt bên cạnh. Mẹ tôi lại sốt từ hôm ông Táo lên chầu trời. Ba hôm nữa tết rồi mà mẹ vẫn nằm rên rỉ. Tôi lo ngại quá, tâm hồn thờ thẫn.

Em tôi sốt ruột vì trời mưa. Nhà chỉ còn gạo, mẹ tôi chưa sắm sửa đồ cúng. Gà vịt cũng chưa mua. Cho đến tối ba mươi, mẹ tôi lên cơn sốt nặng. Mẹ tôi rên hừ hừ. Ðắp hai cái chăn, hai cái chiếu, mẹ vẫn còn rét. Anh em tôi ôm nhau khóc thút thít. Em hỏi những câu quái gở khiến tôi rùng mình.

- Anh ơi! liệu mẹ có chết không?

- Không, mẹ phải sống nuôi anh em mình thành người chứ.

- Sao mãi mẹ chải khỏi gì cả?

- Tại trời mưa lạnh, tạnh nắng là mẹ khỏi, em đừng lo.

Tôi nói dối em tôi tại mưa lạnh, thực ra mẹ tôi chẳng uống thuốc men gì cả. Con nhà nghèo, ốm no bò dạy. Tôi thường bị sổ mũi, ho mà có cần mời thầy lang đâu. Nằm vài bữa, trở dậy lại khỏe như cũ. Tôi tin thế nên đỡ lo.

- Dạo cha còn sống mẹ có ốm nặng không anh?

- Anh chả nhớ rõ.

Trưa nay, em ngủ nằm mơ thấy cha, em nhớ cha quá, ước gì cha sống lại...

Em tôi khóc to hơn. Tôi ôm em vào lòng, thương mến. Bên ngoài trời còn mưa lai rai. Ðêm cuối năm mù mịt. Anh em tôi lo lắng không dám ngủ. Lúc mẹ tung chăn chiếu, anh em tôi nhảy bổ vào ôm mẹ. Hơi nóng và mồi hôi sau cơn sốt thoát ra sưởi ấm anh em tôi giữa đêm trừ tịch. Mẹ tôi vuốt tóc em.

- Mai, ngủ thôi chứ con, mai dậy sớm mẹ mừng tuổi tiền mua pháo tép.

Em tôi nũng nịu :

- Con mua pháo ống lệnh cơ!

- Ừ thì mua pháo ống lệnh.

- Mới lại cái gương cho con sáo nó soi.

- Gớm cô ả vòi vĩnh mãi.

Mẹ tôi chiều con, mẹ nói hơi nhiều, giọng mẹ mệt nhọc. Tôi định hỏi mẹ cái gì, nhưng thương mẹ lại nghĩ không ra. Anh em tôi tắt đèn đi ngủ.

Sáng mồng một tôi dậy sớm. Em tôi ngủ mê mệt, tôi đắp thêm chiếu cho em ấm áp ngủ lâu. Mẹ tôi hình như đã đỡ. Mẹ nhìn em tôi, lắc đầu ái ngại. Dưới ngọn đèn lù mù, tôi thấy nước mắt mẹ tôi lăn tăn trên gò má xanh xao, khắc khổ. Mẹ tôi nói nhỏ :

- Hữu này, mẹ dặn con nghe nhé! Hôm nay đừng lởn vởn ngoài ngõ, đừng lấy tiền của ai cho.

Mẹ tôi dặn tôi bằng thừa. Cậu mợ tôi dạy tôi nhiều bài học độc ác, giả đạo đức quá rồi, tôi thèm thuồng gì mà ngửa tay ra để người ta nhổ bọt vào. Nhưng tôi phải đáp :

- Vâng ạ!

Giọng mẹ tôi đứt từng câu ngắn :

- Tại mẹ ốm... thành thử... tết này nhà mình... thiếu cỗ. Con nhớ... thắp hương... bàn thờ cha con nhé! Con lớn rồi, chả cần, chứ em con, ngày tết... không được miếng thịt...

Mẹ tôi bỏ lửng câu nói, ôm mặt khóc tấm tức. Tôi bỏ ra ngoài sân. Trời lạnh hẳn. Phía nhà trên, gia đình ông ngoại đang giết gà, vo gạo, thổi xôi... Chiều qua nhà ông mổ lợn. Tôi muốn lên chầu chực để may ra ông thương hại thí cho một miếng về ăn tết. Song tôi nhớ tới chú Nghị, tới những bài học làm người chú dạy tôi nên tôi lại thôi. Dường như hồi chú ghé đây để đan cái lồng sáo, chú nhìn tôi rồi gật gù, bao giờ chú cùng gật gù sau buổi dạy học :

- Cháu thông minh lắm, cháu giỏi lắm.

- Nhưng mẹ cháu nghèo.

- Hề gì, đói rách đâu phải là tội lỗi, cháu đừng buồn. Rồi ngày kia cháu sẽ lẻ loi, cháu sẽ thấy trong sự đau khổ người ta mới xét đoán mọi việc đứng đắn.

- Rồi cháu có sung sướng không chú?

- Chú không dám nói cháu sung sướng nhưng chú quả quyết cháu có tài, có nhiều tài...

- Thật hả chú?

- Thật chứ, song cháu chả nên quy lụy ai , quy lụy nó hèn con người đi thì rồi cái tài cũng đến xếp xó.

Chú ưa kể chuyện cha tôi và ngón sở trường âm nhạc : đàn thập lục. Chú bảo ngày ông nội đuổi cha tôi khỏi nhà, cha tôi không có đồng xu nào dính túi. Thế mà cha tôi gây dựng nổi đời cha. Tại cha tôi chết sớm chứ không thể nào cũng có ngày cha về làng mua đất dựng nhà. Tôi kém cha tôi nhiều quá, tôi chỉ biết khóc.

Lúc này đứng nhìn thiên hạ đón xuân, tôi nghĩ đến em gái tôi, nghĩ đến miếng thịt gà, thịt lợn hay thịt chim khi em tôi tỉnh dậy. Anh em tôi chỉ có mỗi con sáo. Con sáo nuôi bao nhiêu ngày mới biết nói. Chẳng lẽ tôi giết nó? Chẳng lẽ em tôi ăn cơm với muối ngày đầu năm? Năm nay em tôi mười tuổi, mười mùa xuân bay vụt qua, mười mùa xuân tẻ nhạt, buồn thảm chấp nối thành thời thơ ấu của em tôi. Mùa xuân trôi theo kỷ nhiệm, có khi nào níu lại được? Tôi không muốn em tôi lớn lên phải nghẹn ngào nhắc tới một trang chua chát, xiên lệch trong cuộc đời. Vậy thì tôi sẽ giết con sáo. Tôi nghĩ tôi biết buộc tổ, biết nuôi sáo, nuôi bằng cái lồng của chú Nghị thì sáo nào chẳng biết nói, biết hót. Dẫu con sáo này chết, tháng sau tôi buộc tổ sáo khác. Mùa xuân tàn rất nhanh, tôi có đàn sáo mới, tôi nuôi một đôi để chúng quyến luyến nhau cơ hồ anh em tôi, chắc em tôi sung sướng lắm. Ý tưởng ấy khiến tôi bớt se sắt, bớt tủi nhục. Tôi len lén trở vào xách cái lồng sáo xuống bếp. Trời còn tối, sáo không nhận ra tôi. Nếu nó chết thì nó oán hờn sự nghèo khổ và bàn tay tàn ác nào đó. Vong hồn cha tôi sẽ phù hộ tôi. Giết nó, tôi đau đớn vô ngần nhưng tôi phải thương em tôi hơn. Em tôi phải được ăn thịt sáo nấu su hào ngày mồng một tháng giêng năm mới. Chỉ vì em, tôi quên tất cả.

Tôi mở cửa lồng thò tay tìm con sáo. Nó nhảy trốn, móng chân nó cào vào tay tôi đau buốt. Cuối cùng tôi tóm nó. Nó kêu ai oán, từ xưa nó chưa từng kêu như thế. Nó g giẫy giụa. Tôi vặn cổ nó chết tươi. Làm xong công việc tàn nhẫn đó, tôi nhóm lửa nấu nước làm lông. Tôi run run chặt dao trúng ngón tay. Máu tôi hòa cùng máu con sáo.

Tôi xào thịt với hành mỡ thơm lừng rồi đổ nước đun thật lâu. Trong khi chờ đợi, tôi gọt su hào.

Lúc ở bếp bước ra, trời hừng sáng. Tôi đem lông sáo và cái lồng giấu phía sau nhà. Tôi ngồi bệt xuống đất, ôm mặt khóc. Pháo nổ vang trời đất, chuông trống khua inh ỏi. Lòng tôi sôi bùng bùng, tan nát. Tôi nhớ chú Nghị, tôi nhớ cha tôi. Những người thân yêu có thể che chở cuộc đời mẹ con tôi đều bỏ đi cả. Bây giờ mùa xuân về, mẹ con tôi cô độc, nghèo nàn. Tôi đâu đớn trút nỗi buồn vào hai bàn tay non nớt, bóp bẹp cái lồng sáo. Niềm vui thơ ấu của anh em phần bị chết chóc, phần bị dúm dó, gẫy vụn. Tôi cứ ngồi tưởng tiếc. Mãi khi nghe tiếng mẹ gọi , tôi mới trở vào.

Mẹ tôi hỏi :

- Tại sao con khóc?

Tôi đưa vạt áo thấm nước mắt, trả lời :

- Thưa mẹ khói làm con cay mắt đấy ạ!

Rồi tôi mỉm cười, nhưng nụ cười gượng gạo ấy giấu sao nổi một tâm tư đang cuồn cuộn muôn vàn ý nghĩ. Tôi nghe tiếng mẹ thở dài. Tôi đánh thức em tôi dạy. Mẹ tôi mừng tuổi cho mỗi đứa hai đồng. Tôi tặng cả em. Em tôi sung sướng nhận ngay không hỏi lôi thôi như những ngày thường. Gió xuân vừa tạt qua đôi má thơ ngây của em. Tôi nói :

- Mai, đi rửa mặt rồi vào ăn cỗ em!

Em reo to :

- Có cỗ hở anh?

- Ừ, cỗ to lắm.

- Anh cúng cha chưa?

- Ðã.

Tôi nói dối em chứ ai lại cúng cha bằng thịt sáo. Em tôi chưa biết gì cả. Khi ngồi ăn, em mơ màng chuyện đâu đâu. Em khen thịt ngon. Bất chợt em hỏi tôi :

- Thịt gì đấy anh?

- Thịt chim.

- Anh mua à?

- Không.

- Thế ai cho, ông ngoại hở?

Tôi im lặng nghĩ câu trả lời. Em tôi tự nhiên buông đũa, đứng dậy, cuống quít :

- Con sáo của anh em mình anh ạ! Ta mừng tuổi nó chứ?

Thấy tôi rầu rầu không nói, đứa em gái sầu thảm của tôi ngây người đứng ngó. Và em chạy vụt ra sân ngơ ngác tìm kiếm xong lại chạy vô gậm giường? Chẳng thấy lồng sáo đâu, em hỏi :

- Nó ở đâu hở anh?

- Chắc trộm bắt mất rồi em ạ!

Em tôi thẫn thờ bước khỏi ngưỡng cửa. Lòng tôi rối bời. Nước mắt trào dâng lên, nhỏ giọt xuống bát canh su hào thịt sáo. Tôi cứ ngồi, nước mắt cứ rơi, lặng thinh như phiến gỗ. Tôi đợi em vào để xin lỗi. Tôi hối hận, tôi muốn chạy ngay ra ngõ gào khóc bi thương ngộ may có Phật hiện hình thì xin ước cho con sáo sống lại. Nhưng cõi đời tăm tôi của anh em tôi, Phật là chú Nghị, chú chết rồi, tôi ước nguyện gì đây? Mãi chả thấy em trở vào, tôi hoảng hốt chạy về phía nhà sau. Ở đấy có bộ lông sáo sũng nước và cái lồng tre chú Nghị đã đan cho em tôi. Em tôi ôm cái lồng vào tay thương tiếc. Tôi đi nhẹ tới gần em. Bước chân tôi run rẩy trên nền đất quê ngoại. Tôi khẽ gọi :

- Mai, em Mai...

Em không ngoảnh lại. Tôi biết em ghét tôi lắm. Em đứng dậy, vẫn ôm cái lồng, lững thững đi ra bờ ao. Tôi phải nói thế nào để em tôi hiểu tại sao tôi giết con sáo? Tôi toan giãi bày, nhưng khốn nạn, sự nghẹn ngào rình mò đúng lúc vít chặt lấy cổ họng tôi. Tôi chỉ còn biết ấp úng :

- Em ơi! Anh xin...

Tôi buông chưa dứt lời, em quay lại nhìn tôi, đôi mắt chớp mau. Bốn con mắt anh em tôi lúc ấy mờ đi dưới cái màng sám hối, đau thương. Bộ mặt đau khổ của tôi nói với em nhiều rằng tôi quý con sáo nhưng tôi yêu em. Em tôi chừng hiểu chuyện, em buông đôi tay. Cái lồng và bộ lông con sáo rơi xuống đất. Em chạy xô tới ôm lấy tôi, khóc nức nở.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 21:54 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
3 . Cái Diều


Mai nằm sấp trên chõng tre, say mê dở từng trang cuốn Quốc văn Giáo khao Thư lớp dự bị. Hữu đang ngồi trông hàng. Bây giờ là mùa hạ. Nhạc ve ran ran sầu và ở giàn thiên lý, hoa đã trĩu xuống từng chùm thơm dìu dịu. Dưới nước, họ hàng nhà gọng vó thi nhau bơi ngược giòng. Cây sung ngả mình ra gần nửa khúc sông, quả chín đỏ ối, rơi lõm bõm như như muốn dụ dỗ những con cá đói mồi. Tiếng sáo vi vu, lơ lửng trong bầu trời xanh, làm tăng thêm nỗi buồn thôn dã.

Dạo này, Mai lớn vượt lên như mấy cây đu đủ ngoài bến đò. Tóc con bé xanh mướt, đôi mắt tròn đen lay láy. Nó thuộc lòng nhiều bài tập đọc, đã làm hết phần câu hỏi, ứng dụng... Thỉnh thoảng, nó còn vẽ lại từng bức tranh nho nhỏ trên đầu trang sách như bức Chỗ quê hương là đẹp hơn cả, họa hình người đeo tay nải đội khăn xếp mặc áo dài, đứng cạnh bờ tường đất nứt lở với bụi tre thưa, với mảnh vườn còm cõi, với bạn bè thăm hỏi chuyện du sơn du thủy; bức Bệnh chó dại hoạ hình thằng Canh chăn bò, bị chó cắn, bố nó phải chở nó đến bệnh viện Pasteur...

Nghĩ tới lúc Mai đứng ngắm bọn mục đồng cho trâu về chuồng rồi cảm hứng đọc bài Chăn trâu, Hữu bật cười. Em nó ngạc nhiên:

- Anh cười em đấy hở, anh ?

- Đâu nào.

- Anh nói dối, anh cười em. Trông em buồn cười, hở ?

- Thật mà, anh chả cười em đâu.

- Thế anh cười cái gì ?

- Anh cười cái ông tác giả.

- Sao lại cười << ông >> tác giả ?

- Vì ông ấy đặt bài Chăn trâu.

- Hễ ai đặt bài học thì người ấy là tác giả hở, anh ?

- Ừ.

- Ai dạy anh vậy ?

- Chú Nghị.

Mai nheo mắt cười, đôi má con bé lúm đồng tiền, xinh xinh đáo để.

- Thích nhỉ, em cũng là tác giả anh Hữu nhỉ ?

Hữu bỡn cợt :

- Em ấy à ?

- Chứ còn ai nữa !

- Em đã làm được bài nào, kể anh nghe đi !

Mai ngồi nhỏm dậy, con bé xòe bàn tay ra, đặt ngón cái vào đốt dưới ngón út, tính toán :

- Ê, anh quên rồi à ? Này nhé, em tả con trâu là một, con chó là hai, cây đa là...

Hữu xích lại gần em, đặt đôi tay nham nhở mạt tre với lên mái tóc mà gió bến đò thổi rối tung của Mai. Cử chỉ thân ái bất chợt ấy khiến em nó ngơ ngác. Con bé hỏi :

- Em nói sai hở, em không là tác giả hở, anh ?

- Em mới tập làm văn, trả lời câu hỏi. Chú Nghị nói giỏi lắm mới thành tác giả.

Mai thè lưỡi thán phục. Giây lát, nó tỏ vẻ nghi ngờ :

- Tác giả giỏi sao anh dám cười ông ấy ?

- À... à... tại ông ấy bảo chăn trâu sướng.

- Ừ nhỉ, chăn trâu khổ thì có anh nhỉ ? Thế tác giả không giỏi nữa hở anh ?

- Giỏi chứ.

- Ông ấy nói sai mà anh ?

- Ừ, sai vì ông ấy chưa phải chăn trâu.

Im lặng, một lúc sau, Mai nói :

- Quyển này có bài em ghét nhất, đố anh biết bài nào ?

- Bài Mấy lời khuyên về vệ sinh.

- Sai.

- Bài Chơi đùa không phải là vô ích

- Sai nốt, anh chịu chưa ?

- Anh chịu.

- Em đọc anh nghe nhé !

- Đọc khe khẽ thôi, kẻo mẹ thức giấc.

Mai nâng quyển sách vừa tầm mắt, đoạn nó đọc :

<< Ông tôi.

Ông tôi năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi. Đầu râu tóc bạc, da đã nhăn, má đã lõm, lưng đã còng, đi đâu phải chống gậy. Ông tôi không làm việc nặng nhọc nữa. Thường ông tôi ở nhà coi sóc cha mẹ tôi và dạy bảo chúng tôi. Thỉnh thoảng, ông tôi kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe... Chúng tôi lấy làm thích thú lắm. Những khi đi học về, tôi hay đem chuyện nhà trường nói cho ông tôi nghe. Ông tôi lại nhân đấy mà giảng giải cho anh em tôi học được nhiều điều khác nữa.

Tôi yêu ông tôi lắm >>.

Dứt bài, Mai buông quyển sách rơi xuống đất. Giọng nó buồn buồn :

- Ông chúng nó tốt quá anh nhỉ ?

- Ừ.

- Tại sao ông chúng mình không kể chuyện cổ tích hở, anh ?

- Chắc ông ghét anh em mình.

- Tại sao ông ghét ?

- Chắc mẹ con mình nghèo.

- Tại sao qua nhà ông, chúng mình run cuống cuồng ?

- Chắc anh em mình mồ côi.

Mai nín thinh. Đôi mắt con bé hoe đỏ và đôi mắt Hữu, những giọt nước mắt cũng sắp sửa tuôn trào.

Hữu bỗng hối hận vì trót khơi nỗi buồn cố hữu của gia đình với em. Rồi chẳng muốn ôm lấy nhau mà khóc như mỗi bận, nó cố gắng khôi hài:

- Em có biết tại sao đầu ông ngoại trọc tếu như cái bình vôi không ?

- Chắc ông ác ?

- Đúng.

- Ông không có râu anh ạ ! Ông còn sống lâu lắm, em ghét ông ghê.

Hữu phá ra cười. Mai cười theo, thích thú. Nhưng sau đó, Hữu thấy má nó ươn ướt. Nó sợ em nó hay nên vội lảng sang chuyện cái diều.

- Anh định làm diều cánh thoi Mai ạ !

- Diều cánh thoi là gì ?

- Là hình nó giống hình con thoi ở khung cửi ấy.

- Thế diều cánh cốc ?

- Diều cánh cốc giống hình con cốc bay.

- Thế diều cánh phản, diều bì ?

- Diều bì to bằng ba gian nhà, trẻ con chơi sao được.

- Thật hở, anh ?

- Em mó vào dây thì nó lôi em lên giời.

- Anh chỉ dọa em.

- Chả tin, chiều nay ông xã Thản thả diều bì em ra bãi mà xem. Nó bổ xuống cứ gọi là vỡ sọ.

- Eo ơi, em thèm vào chơi diều bì.

- Vậy ngủ đi, chút nữa vót xong khung, anh gọi dậy.

Mai lại ngoan ngoãn nằm xuống chõng. Đôi mắt con bé khép kín và hơi thở đều đều nương giấc nó ngủ.

Buổi trưa nhà quê vắng vẻ. Sự tĩnh mịch này đã quá quen thuộc đới với Hữu. Dường như, nó đã lớn, đã biết chịu đựng. Nó nhìn Mai ngủ, bất giác thấy nghẹn ngào.

Ba bốn hôm liền, Hữu để tâm vào việc làm diều. Thoạt đầu, nó vác dao rựa ra bụi, chặt khúc tre cộc. Tre cộc thì già và dẻo, dễ uốn. Thằng Vọng bảo nó thế. Nó ngồi chẻ tre thành những thanh nhỏ rồi lấy dao vót. Chẻ chán, vót chán cũng vẫn chưa được. Hai bàn tay nó xước xác nhiều vết dao xuýt đứt. Mấy ngón bên phải, dao cứa sâu máu chảy đỏ lòe. Lòng bàn tay, ở dưới ngón, nhiều chỗ mọng nước. Mẹ nó mắng nó. Mẹ nó xé vải áo cũ, rịt thuốc lào vào vết thương, buộc lại. Mẹ nó cấm nó nghịch. Nhưng mỗi buổi chiều, tiếng sáo diều nổi lên vang lừng cả bầu trời thôn dã và từng bọn người, lớn thì thả diều lớn, nhỏ thì thả diều nhỏ ở bãi trống khiến lòng Hữu xốn xang khó tả. Nó quên cả lời mẹ dặn, cả những ngón tay rịt thuốc lào, hý hoáy chặt tre, vót khung diều. Đến nỗi, bữa ăn không nhớ, Mai phải gọi.

Hữu thường trốn Mai, tìm nơi nào thật kín, cặm cụi làm. Vì em nó hay hỏi vớ vẩn nên nó hay bị hỏng. Hôm qua, vừa vót nhẵn xong bộ khung, Mai tới phá đám.

- Sao anh lại vót bằng mảnh chai ?

- Mảnh chai dễ vót mà có lỡ tay cũng không bị lẹm nhiều.

- Anh nói dối, tay anh đứt, anh sợ dao thì có. Nếu anh sợ, để em vót hộ nhé ?

- Em làm hỏng mất.

- Không, em vót tài lắm mà, cho em vót anh nhé ?

Hữu ngần ngừ. Em nó vội lấy dao, giằng cái nan trong tay nó. Con Mai giằng mạnh quá. Cái nan gẫy. Hữu định trách em song thấy mặt em buồn thiu ra dáng hối hận, nên nó gượng cười, an ủi em :

- Tre này xấu quá em ạ ! Vừa đụng đã gẫy thì chịu sao nổi gió to. Anh phải kiếm khúc tre khác mới được.

Vậy là mất thêm nửa buổi. Hôm nay khung diều đã hoàn thành. Mai ngồi im xem anh lấy dây buộc vào giữa mỗi chiếc nan, cân nặng nhẹ. Hễ bên nào nặng, Hữu lại cầm miếng thủy tinh vót bớt đi cho tới khi hai bên bằng nhau. Xong, nó buộc cái khung ở giữa hai nan. Rồi mới gò thành hình cái diều con thoi. Anh em thằng Hữu tin chắc nó sẽ lên cao ghê lắm. Mai vẫn ngồi im thin thít. Con bé muốn hỏi nhưng sợ tội hôm qua nên đành bấm bụng. Mắt nó long lanh nỗi vui. Hữu đưa cái khung, tác phẩm vĩ đại của nó lên, ngắm nghía.

- Đẹp không ?

- Đẹp.

- Diều cánh thoi đấy.

- Diều của anh có đuôi không ?

- Không.

- Em thấy thằng Vọng thả diều có đuôi cơ mà ?

- À, diều của nó là diều cánh cốc.

- Sao anh không làm diều cánh cốc ?

- Tại anh không biết làm.

- Sao anh không biết làm ?

- Tại thằng Vọng chỉ dạy anh làm diều cánh thoi.

- Thế hở, nó tồi nhỉ, anh nhỉ ?

- Ừ.

- Diều anh có sáo không ?

- Không.

- Sao không có sáo ?

- Tại diều của anh bé. Nếu nó nhẹ đầu thì anh buộc cái vè cho nó kêu ve ve...

- Sao biết nó nhẹ đầu ?

- Thằng Vọng bảo lúc thả diều nó buộc lèo, nặng đầu hay nhẹ đầu nó chữa hộ. Sang năm anh làm diều bo.

- Diều bo hình thế nào hở, anh ?

- Diều bo kêu bo bo, diều bì kêu bì bì...

Hữu nghe tiếng sáo mà đặt tên diều, em nó hỏi nó cứ trả lời bừa. Mai ngớ ngẳn tin là thật. Con bé giục anh làm nhanh để chiều chiều khi mặt trời chui dưới bụi tre thì đem diều ra bãi thả. Cái diều, tự nhiên, hứa hẹn với anh em thằng Hữu bao nỗi vui mừng sau chuỗi ngày tẻ nhạt ở bến đò quê ngoại.

Khung diều tươm tất, thằng Vọng gật đầu khen đẹp. Như thế, Hữu có thể yên tâm phất giấy. Mẹ Hữu mắng nó lấy lệ rồi cũng mở hòm cho nó quyển sách thuốc của cha nó để nó phất diều. Hữu đem bún phết vào khung diều, xé giấy thành từng mảnh phất. Song cuốn sách thuốc của cha nó cũ quá, giấy lại mỏng, sợ không chịu được sức gió nến thằng Vọng xúi Hữu xin tiền mẹ mua giấy bản mới. Nó mắng Hữu ngu, phất diều phải phất bằng nhựa sung. Mẹ Hữu đi chợ mua giấy ngay. Me kiếm vỏ trai cho anh đựng nhựa.

Những scây sung gần Hữu cao lắm, nó sợ không dám trèo. Mai bàn tới ông ngoại xin vì cây sung ở nhà ông thấp lè tè. Anh em thằng Hữu vác dao, vác vỏ trai vào nhà ông. Ông nó đi vắng, các cậu mợ đều đi làm cả. Hữu ngại ngần toan bỏ về, rồi nghĩ ông có biết cũng chả sao. Mai đứng trên cầu ao. Hữu lội xuống nước chặt mấy nhát vô thân cây. Xong, hứng vỏ trai đợi cho nhựa chảy đầy. Anh em nó mang nhựa ra ngõ, đang vui vẻ cười nói thì cậu chúng nó ngoài ngõ xăm xăm bước tới. Cậu hỏi chúng nó vào nhà làm gì. Hữu trả lời xin nhựa sung về nhà phất diều. Cậu nó cấm chỉ từ nay không được lai vãng gần khu nhà cậu. Ngay lúc đó, bọn trẻ con ở đầu ồ ra. Anh em thằng Hữu sợ bị bắt nạn như mọi bận, cắm cổ chạy. Nhựa sung rớt bẩn cả quần áo. Chỉ có tí nhựa sung mà suýt nữa anh em thằng Hữu bị sỉ nhục. Nó thấy mối thù của nó đối với bên ngoại càng ngày càng to lớn. Sự nghẹn ngào dâng lên cổ họng, vướng vít cả nỗi niềm. Hữu nhìn em, em nó nhìn nó, bốn con mắt một ý nghĩ. Nhưng nghĩ tới cái diều nhiều hơn, thành thử quên ngay họ ngoại.

Giấy bản, nhựa sung sẵn rồi, thằng Vọng ngồi dạy Hữu phất diều. Nó bắt Hữu vò nhầu giấy xong hãy dán. Hữu làm y lời của nó. Chẳng mấy chốc, anh em thằng Hữu có cái diều cánh thoi nho nhỏ. Bấy giờ, đúng dịp mẹ Hữu nhuộm vải. Thằng Vọng giục nó quét nước nâu lên giấy. Phơi khô rồi lại quét. Làm vài lần thì giấy cứng, gió bão cũng không thủng được. Quả nhiên, cái diều của Hữu cứng cáp, mầu nâu non đẹp ghê. Hữu còn thiếu dây. Nhưng dây khỏi lo. Mẹ nó hứa cho nó cuộn dây gai. Hữu chả phải tước dây chuối. Dây chuối luộc mới dai, bền, phiền phức lắm. Vậy thì Hữu chỉ sợ diều không lên. Thằng Vọng cứ luôn cái mồm :

- Không lên cứ đem cái đầu tao ra mà chặt.

Nó cầm cái diều, sửa nắn cái lèo ra chiều đắc ý. Anh em thằng Hữu tin tưởng vào nó. Tâm hồn lâng lâng cơ hồ cái diều nuốt dây lên cao, cao mãi...

2.

Buổi chiều, trời chưa tắt nắng. Thế mà ngoài bãi đã đông trẻ thả diều. Đứa diều cánh cốc, đứa diều cánh phản, đứa diều tàu bay, chạy chạy, đâm đâm rối rít. Những chiếc diều như muốn làm đỏm thêm cho bầu trời xanh. Anh em thằng Hữu cũng có mặt nơi đây. Mẹ Hữu dặn đi dặn lại rằng hết nắng hãy thả diều vì mùa này là mùa viêm nhiệt, cảm thì chết. Chờ mãi vẫn còn nắng. Gió đã nổi lên rì rào. Diều của thiên hạ lên phơi phới. Sáo kêu vi vu, vi vu...

Anh em thằng Hữu cầm lòng chẳng được bèn chạy ùa ra. Hữu dặn em :

- Em cầm chỗ này. Hễ anh hô << đâm >> thì << đâm >> nhé ?

- << Đâm >> xuống đất hở, anh ?

Hữu phì cười :

- << Đâm >> lên trời chứ.

Mai cãi :

- Sao anh không bảo em tung diều ?

- Tại chúng nó gọi là << đâm >>. Em nhớ nhé ?

Mai gật đầu. Hữu vất cuộn dây xuống bãi cỏ, thả ra một quãng khá dài. Em nó nhìn nó, toét miệng cười :

- << Đâm >> chưa anh ?

- Chưa.

- Còn đợi gì hở, anh ?

- Đợi gió.

- Bao giờ mới có gió ?

- Có gió rồi đấy, << đâm >> đi!

Mai cuống quýt tung bừa khiến cái diều xoay tròn mấy vòng rổi bổ xuống bãi. Hữu thất vọng rồi bắt đầu tiếc chiếc kẹo vừng cho thằng Vọng.

- Em << đâm >> lại đi đừng sợ, cứ thong thả đưa lên thì mới được, << đâm >> đi!

Mai lại << đâm >>. Lần này Hữu cầm dây chạy, chả hiểu cái diều xoay cách nào. Bọn trẻ con cười ầm ỹ. Ngoái cổ, nó thấy cái diều nằm ở dưới bãi lúc nào, mà cứ chạy. Thằng Vọng trong làng ra vừa tới nơi. Nó sửa cái lèo ngay ngắn. Rồi nó bảo Hữu ra << đâm >>. Nó dử dử, nghiêng người bên trái, chạy bên phải, mắt theo rõi diều, tay nó giựt giựt. Chỉ một lát sau, cái diều ăn gió, lên vun vút.

Hữu thả hết dây. Cuộn dây dài hơn của những đứa khác nên diều bay cao nhất. Dây thẳng chứ không võng. Bao nhiêu đứa xúm lại khen ngợi. Thằng Vọng được phen khoe tài. Anh em Hữu dẫn diều về khu vắng, buộc vào cành cây trên nấm mộ rồi cùng nhau nằm ngắm cái diều nhỏ bé đang lơ lửng giữa bầu trời.

- Thằng Vọng nói đúng thật.

- Nó tài anh nhỉ ?

- Ừ, diều của mọi đứa nặng đầu, nhẹ đuôi. Cánh phải nặng, cánh trái nhẹ cứ lung tung. Thế mà diều của anh em mình thả là lên liền. Rồi anh làm cái diều cánh cốc cho em.

- Thật hở, anh ?

- Ừ.

- Con gái cũng thả diều à?

- Ừ.

- Em có thấy đứa nào ngoài bãi đâu ?

- À, à... tại chúng nó... nhà quê.

- Thế anh em mình cũng nhà quê ?

- Nhưng trước mình ở tỉnh.

- Ờ nhỉ! Anh em Hữu đang nói chuyện vớ vẩn thì thằng Vinh tới. Nó đòi Hữu cho nó cầm một tí. Hữu cười. Vinh nằm cạnh Hữu ngắm diều cánh thoi của Hữu rồi thò vào rút quyển sách nó dắt trong cạp quần, khoe Hữu :

- Mày có quyển này không ?

- Quyển gì ?

- Xem thì biết, hay lắm. Em mày chắc thích.

Hữu cầm quyển sách. Đó là quyển Quốc-văn Giáo-khoa Thư lớp sơ đẳng. Quyển này hay thật. Nhiều truyện nhiều tranh. Hồi xưa, Hữu cũng có, nhưng dọn nhà mấy bận, rơi đâu mất. Hữu đưa cho Mai đọc. Em nó dở ra lẩm nhẩm ngay : "Xuân đi học coi người hớn hở, gặp cậu Thu đi ở giữa đường..." Thế là Mai quên diều, nằm ngửa trên bãi cỏ say mê dở hết trang này sang trang khác. Thằng Vinh đợi Mai đọc xong bài Con bò và con gà trống, đòi lại. Mai năn nỉ :

- Cho tao mượn tí nữa, làm bộ thế ?

- Nhưng tao về đây.

- Về làm gì, ở đây chơi diều.

Mai đập nhẹ vai anh :

- Anh cho nó chơi điều với anh nhé !

- Ừ.

Thằng Vinh nằng nặc đòi quyển sách khiến Hữu phải bảo nó :

- Cho em tao mượn rồi ít bữa tao làm hộ mày cái diều.

Vinh ngồi nhỏm dậy. Hữu tưởng nó giằng sách chạy về, không ngờ nó sát gần Hữu, nói khẽ :

- Tao không nhờ mày, tao muốn hỏi nhưng sợ mày chửi.

- Tao không chửi bậy, mẹ tao nghe thấy, đánh chết.

- Mày thề đi.

- Tao không biết thề.

Vinh nghiêm nét mặt, chỉ trỏ ngón tay :

- Đứa nào chửi tao, trời đánh thánh vật nhé ?

- Ừ.

Rồi vẫn như chưa tin hẳn, Vinh gặng hỏi :

- Thật nhé ?

- Ừ, mày muốn hỏi gì ?

Vinh thầm thì :

- Mày muốn đổi diều lấy quyển sách không ?

Hữu ngạc nhiên :

- Đổi diều tao lấy quyển sách của mày ?

Hữu nói to làm Mai đang say mê bài Chuyện anh em họ Điền vùng dậy hỏi :

- Gì thế anh ?

- Thằng Vinh nó đòi đổi sách lấy diều của anh em mình.

Em nó nín thinh. Con bé gấp sách lại. Vinh khoe khoang :

- Thằng Bảo muốn đổi diều của tao cho nó nhưng tao thích diều của mày.

- Tao vừa làm xong, mới thả hôm nay, tao không đổi.

Mai lẳng lặng ném trả sách thằng Vinh, nó nói :

- Mày không đổi thì tao đổi cho thằng Bảo.

- Kệ mày.

Vinh xấu hổ nhét sách vào cạp quần rồi bỏ đi. Mai trông theo bóng nó rồi nhìn cái diều nghiêng bên này, ghé bên kia cơ hồ muốn bỡn cợt với gió mùa hạ. Bất chợt, Mai hỏi :

- Sách của thằng Vinh hay hơn sách của em. Không có bài Ông tôi anh ạ ! Lại lớp sơ đẳng nữa. Nhiều bài hay ghê...

Giọng em nó buồn buồn. Hữu cảm thấy điệu buồn ấy đang len lỏi trong tâm hồn nó. Mai đứng dậy, ra bứt cỏ may. Hữu muốn hỏi em nhưng lại thôi. Tự nhiên, lòng nó băn khoăn. Nó chẳng thiết ngắm con diều đang õng ẹo chao đi chao lại trên nền trời chiều hạ. Hữu gọi Mai :

- Em ơi...

Con bé ngoái cổ, nhếch mép cười gượng gạo :

- Anh hỏi em gì ?

- Em không thích diều à ?

- Thích chứ.

- Em có thích quyển sách của thằng Vinh không ?

- Có. Nhưng đổi diều thì em không thích. Diều của anh làm mà.

Phải, diều của Hữu làm. Nó đã cặm cụi bao mhiêu ngày. Tay nó còn vết dao cứa. Da non chưa làm già trên những chỗ mọng nước. Nó đã cùng em lặn lội dưới ao chặt nhựa sung bên nhà ông ngoại, hai anh em bị hất hủi, xua đuổi. Nó đã lấy cả sách thuốc của cha đem phất diều, cả cuộn dây gai mà cha mua ngày xưa để khâu lốp xe, nay mẹ cho anh em nó thả diều. Nó còn mắc tội lấy trộm kẹo vừng cho thằng Vọng nữa. Cái diều của nó đã bay bổng. Nó sung sướng lắm rồi. Thế mà thằng Vinh đòi đổi sách. Em nó thích sách của Vinh. Em nó không nói thích sách hơn diều. Hữu biết em nó. Con bé mồ coi cha, mẹ thì nghèo khổ, lại ham học. Ham học nhưng thiếu sách. Nó đã thấy em nó thuộc lòng cả quyển Quốc-văn Giáo-khoa Thư lớp dự bị. Nó đã thấy mắt em ánh lên những tia thèm thuồng cuốn sách của thằng Vinh. Dáng điệu em nó lúc này sầu não làm sao ! Tuy sự sầu não chưa đến nổi rơi nước mắt như mùa xuân năm ngoái, khi em nó ôm chiếc lồng và bộ lông sáo sũng nước.

Hữu chợt nhớ rằng nó còn nợ em nó một nỗi buồn. Nỗi buồn ấy nó chưa trả và chẳng thể nào trả được. Nó chỉ có thể thay vào đấy bằng một niềm vui nhè nhẹ. Hữu nhìn chiếc diều cánh thoi. Nó chỉ chơi được trọn mùa hạ. Hữu nghĩ đến quyển sách sẽ chơi với em nó trọn quãng đời thơ ấu. Và nó bỏ mặc em đứng ngơ ngác, cắm cổ vừa chạy vừa đuổi theo thằng Vinh vừa gọi. Hữu nói đổi diều cho Vinh. Nó hả hê chạy theo Hữu về phía con Mai đứng chờ.

Vinh trao quyển sách tận tay Mai. Nó nói :

-Anh mày bằng lòng đổi cho tao rồi.

Mai ngập ngừng, mắt con bé chớp mau. Nó cầm quyển sách, xích lại gần anh, thỏ thẻ hỏi :

- Anh đổi rồi à ?

- Ừ.

- Dại lắm anh ạ ! Diều làm tốn công phu.

Hữu hiểu em nó thương nó, em nó không muốn vì quyển sách mà mất diều. Mai chăm chú ngắm bìa quyển sách. Phân vân. Hữu cúi xuống nói thầm với em :

- Diều của anh sắp hỏng, thằng Vọng vừa bảo anh rằng chỉ chơi được vài hôm thôi.

Hữu nói dối em. Mai tưởng thật, đang ủ rũ, vụt tươi tỉnh.

- Thật hở, anh ?

- Thật, nói khẽ chứ kẻo thằng Vinh nghe thấy nó không đổi nữa.

- Rồi anh có làm diều nữa không ?

- Có, anh làm diều to bằng hai chiếc này.

- Thật hở, anh ? Có phải cho thằng Vọng kẹo nữa không ?

- Không, bây giờ anh làm một mình được.

Anh em thằng Hữu nhìn nhau cười khúc khích. Mai nhẩy nhót sung sướng. Con bé đem sách ra một chỗ xa ngồi đọc. Vinh và Hữu nằm dài trên bãi cỏ ngắm diều. Hữu bảo Vinh :

- Mày cho tao mượn chơi nốt ngày mai nhé ?

- Nhỡ mày làm hỏng của tao thì sao ?

- Thì em tao trả mày sách.

- Chịu thôi, đã khoéo tay rồi, đổi cấm trả lại, "con sông cạn ngòi mới đòi được nhau".

- Hễ hỏng tao làm cho mày chiếc khác.

- Chiếc khác tao không thích.

Hữu nuốt nước bọt tiêng tiếc. Gió chiều thổi mạnh. Con diều ăn no gió, còn thèm mây. Nó chao mãi như thể nó chào vĩnh biệt Hữu. Hữu theo rõi hình dáng bé nhỏ của chiếc diều cao tít. Đột nhiên, nó nghe tiếng << bực >>. Dây diều võng xuống từ từ. Và trên nền trời trong xanh, chiếc diều cánh thoi của Hữu mặc sức nghiêng ngửa. Nó lộn vài vòng cơ hồ người mất hồn và bị gió cuốn đi.

Hữu chết lặng nhìn theo. Vinh đứng phắt dậy, chạy ngay về phía con Mai, giằng mạnh quyển sách rồi cắm cổ chạy biến. Mai chưa hay gì. Con bé ngạc nhiên, đôi mắt tròn xoe trông theo thằng Vinh vừa chạy vừa reo âm ỹ :

- Diều thằng Hữu đứt dây rồi !

Hữu đứng cạnh em, lắp bắp một câu trống không :

- Diều... đứt... dây... rồi..

Mai nhìn dáng điệu thiểu não của anh mà thương hại. Con bé thản nhiên nói :

- Đứt dây thì thôi anh ạ !

- Nhưng em mất sách.

- Sách nào cơ anh ?

- Sách của thằng Vinh.

- Quyển ấy không hay, có mỗi bài hay nhất thì em thuộc rồi.

- Thật hở, em ? Bài nào ?

- Bài ông Lý Tích sắc thuốc cho chị, vô ý để cháy mất bộ râu...

Mai trả lời xong cười khúc khích. Hữu cũng cười. Anh em Hữu quên ngay nỗi buồn trong khoảnh khắc, nằm lăn ra bãi cỏ, cười rũ rượi. Nhưng giây lát sau anh em nó mới rõ mình cười vờ. Đứa này nhìn đứa nọ, bốn con mắt non nớt gặp nhau. Và những giọt nước mắt bắt đầu rơi rụng.


1962

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 21:56 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
4 . Nắng Chiều Quê Nội


Mùa Thu rắc lấm tấm hoa vàng lên bè rau muống già lềnh bềnh bên bờ sông hẹp. Từng cơn gió heo may mang từ cánh đồng lúa sữa về bến đò hương thơm dìu dịu và lướt nhẹ trên mặt nước làm lạc hướng lũ gọng vó. Những cánh rau rút, sợ gió hôn, thẹn thùng cúp cả lại. Giàn mướp trước cửa xơ xác mấy cái lá già, trơ trọi vài quả giống sạm nắng hè, đong đưa theo gió. Bây giờ, vắng bóng những con ong tệ bạc, những con bướm lả lơi, những con cánh cam đỏm dáng. Cảnh đìu hiu đã xào xạc trong bụi tre sau nhà. Thỉnh thoảng, có đêm im vắng, tiếng súng từ mạn Nam-định vọng sang, nghe rõ mồn một. Nỗi lo âu bắt đầu hiện lên khuôn mặt hiền lành của dân đồng nội tỉnh Thái-bình.

Mẹ tôi tỏ vẻ sợ sệt. Mẹ chắt bóp từng đồng để ngộ nhỡ tản cư. Giữa lúc đó, cô tôi từ làng bên mò sang báo tin cho mẹ tôi hay là ông nội tôi ốm nặng. Ông tôi muốn gặp mẹ con tôi trước khi vĩnh biệt cõi đời.

Hôm cô tôi bước chân vào quán hàng, anh em tôi đang nằm dài trên chõng tre, thương nhớ vu vơ. Chúng tôi hững hờ nhìn cô, chẳng khác gì nhìn khách lạ. Mẹ tôi bối rối giây lát rồi mẹ gượng cười đon đả chào cô. Mẹ tôi chỉ anh em tôi, nói với cô:

- Hai cháu đấy cô ạ ! Cháu Hữu, à đáng lẽ tên cháu…

Mẹ tôi ngừng lại. Mẹ thấy hình phạt tinh thần tê tái lắm vì mẹ tôi đã trải qua tháng ngày sống nhờ túp lều sau vườn nhà ông ngoại. Cô tôi chừng hiểu thế. Cô cúi gầm mặt, vân vê tà áo. Mẹ tôi, một phút lỡ lời vì mối sầu dĩ vãng, đã trở về ngay bản tính cố hữu của người đàn bà Việt Nam quê mùa, người mẹ suốt đời chịu đựng và sẵn sàng tha thứ. Mẹ tôi tiếp lời bỏ dở:

- Cháu Hữu, cháu Mai cô ạ ! Hai con lạy cô đi.

Cô tôi xua tay dễ dãi:

- Các cháu còn lạ, chị ạ ! Thôi đừng bắt tội chúng.

Tự nhiên tôi sững sờ. Em tôi run run làm tuột cuốn sách khỏi tay. Chúng tôi hỏi nhau bằng mắt, bằng sự im lặng, xem có phải người đàn bà đứng kia là em ruột của cha tôi, là em ruột chú Nghị? Cô tôi nhỏ bé xinh xắn. Cô chưa lấy chồng. Tôi thoáng cảm thấy cô có đôi nét giống em Mai. Nhưng nỗi buồn quê nội mơ hồ đột khởi, vẻ hiền dịu của cô tôi, khoảnh khắc, biến mất. Tôi không hiểu tại sao mẹ tôi niềm nở, thay vì mẹ tôi cúi mặt làm ngơ.

Cô tôi nhẹ nhàng đến gần anh em tôi. Cô nắm tay tôi khen ngoan ngoãn, giống cha như đúc. Tôi gỡ vội tay ra khiến cô tôi ngỡ ngàng xấu hổ. Trong tâm tưởng, tôi vẫn thường mường tượng những người bên nội, trừ chú Nghị, phải ác nghiệt, hung bạo. Những người ấy thu lượm sao nổi cảm tình thừa thãi của anh em tôi. Cô tôi bẽn lẽn quay lại đưa gói cùi dừa và năm sáu tấm bánh đa nướng cho em Mai, âu yếm vuốt ve em. Điều đó chẳng làm em Mai cảm động. Em vùng vằng chạy về phía mẹ tôi, vất trả cô tôi quà bánh.

Anh em tôi đã trả thù giùm mẹ tôi. Lòng tôi hả hê khôn xiết. Tôi nghĩ mẹ tôi sung sướng, mẹ tôi sẽ khen ngợi chúng tôi. Tôi đợi nụ cười trìu mến, thiết tha của mẹ tôi. Nào ngờ, mẹ tôi tức giận nghiêm giọng mắng:

- Đồ hư thân mất nết, lạy cô đi.

Cô tôi lại xua tay:

- Thôi chị ạ ! Các cháu còn dại, với lại các cháu còn lạ.

Mẹ tôi lấy ngón tay dí vào trán tôi, đe dọa:

- Chốc nữa thì chúng mày biết tao. Đồ mất dạy.

Tôi sững sờ hơn. từ xưa có bao giờ mẹ tôi mắng mỏ anh em tôi tàn tệ đến thế đâu. Lại gọi anh em tôi là “chúng mày” và xưng “tao.” Tôi len lén nhìn mẹ và thấy mắt mẹ tôi đỏ ngầu, đôi dòng lệ lăn tăn trên gò má, mà nhìn rõ, tôi mới hay má mẹ tôi đã có vết nhăn. Tôi biết mẹ tôi đau đớn khi bắt đứa con thân yêu xưng cháu với người cô xưa kia đọa đầy mẹ nó hồi nó còn nằm trong bụng mẹ, chịu đựng chung khối tủi nhục cùng mẹ nó. Cô tôi cũng khóc. Những giọt nước mắt của cô chưa rửa sạch ngay mọi ý nghĩ oán hờn của anh em tôi. Nên anh em tôi miễn cưỡng vâng lời mẹ, cúi đầu chắp tay chào cô tôi, chào người đàn bà mười mấy năm về trước đã hắt hủi, xua đuổi mẹ tôi như xua đuổi con chó dại.

Cô tôi xoa đầu anh em tôi. Xoa đầu em tôi còn được, chứ xoa đầu tôi thì tôi ức lắm. Tôi mười lăm tuổi rồi mà. Tôi ngắm nghía cô tôi, hai hàm răng nghiến mạnh muốn nát tan niềm uất ức. Mẹ tôi yếu đuối quá. Tâm hồn mẹ trĩu nặng tình cảm, dễ xúc động, giàu lòng vị tha. Tôi nhớ hồi cha tôi chết, họ hàng bên nội có ai thèm tìm đến quấn giúp anh em tôi mảnh khăn tang đâu. Mẹ con tôi đói rách, khổ sở, có ai thèm ngó ngàng săn sóc đâu. Trời ơi, vẫn chỉ một mình chú Nghị. Thế mà hôm nay, bỗng dưng, cô tôi cất công sang mời mẹ tôi về chịu tang ông nội. Cha tôi đã bị từ bỏ rồi, anh em tôi còn nghĩa lý gì nữa. Đáng lẽ, mẹ tôi từ chối, mẹ tôi lại nhận lời. Cô tôi không dám hỏi chuyện anh em tôi, dặn dò mẹ tôi rồi xin phép về ngay. Mẹ tôi cố mời cô tôi bớt chút thì giờ dùng bữa cơm đạm bạc. Cô tôi từ chối, nại cớ bên nhà bận rộn. Trước khi con đò nhổ sào đưa cô qua sông Đồng-đức, cô tôi còn nhẹ nhàng vẫy đôi tay thon nhỏ, nhắn nhủ anh em tôi:

- Ông bà mong các cháu đấy, cả các cô các chú nữa, sang nhé Hữu, Mai nhé!

***


Tối hôm ấy, mẹ con tôi thức khuya sửa soạn mọi việc. Mẹ tôi đem mấy bộ quần áo mới nhất của anh em tôi, vuốt ve phẳng phiu rồi bắt anh em tôi mặc thử. May mắn cho tôi là bộ quần áo cắt năm ngoái mẹ tôi đã cẩn thận dặn bác phó may đo dài rộng để hòng lớn. Bởi vậy tôi mặc vừa vặn. Còn em Mai, bác Kỳ quên cắt phòng xa, thành thử, cái áo mỡ gà co lại. Em tôi lớn mau như thổi, mặc vào như bó lấy thân hình. Cái quần nái thâm thì ngắn cũn cỡn. Đã thế, mấy con dán khốn nạn lại cắn thêm vài lỗ nhỏ. Mẹ tôi bảo chả hề chi, đẹp chán. Em Mai buồn thiu, em biết mẹ nói dối. Tội nghiệp em tôi, thiệt thòi đủ thứ. Em phụng phịu hỏi mẹ:

- Mặc quần áo đẹp làm gì hở, mẹ?

- Về quê cha phải khăn áo chỉnh tề, ai cũng vậy.

- Nhưng quần áo của con chật thì sao?

- Chật đâu, hỏi anh con xem nào, vừa vặn ghê…

Bỗng nhiên, em tôi nói:

- Sao lúc trưa mẹ mắng anh em con là “chúng mày,” mẹ xưng “tao” hở, mẹ?

Mẹ tôi à à rồi quay mặt đi. Lát sau, tôi thấy mẹ tôi đưa vạt áo lên thấm mắt. Tôi sợ em Mai khơi nỗi buồn khiến mẹ tôi đau khổ, nên nhanh miệng khen em:

- Áo của em vừa lắm, quần hơi ngắn một tí thôi. Ngắn đỡ mất công xăn, dài chỉ tổ vấp ngã chứ ăn thua gì.

Mẹ tôi nhân dịp đó nói thêm:

- Đấy, con xem, anh con nói có đúng không?

Em Mai cười toe toét:

- Thật hở, mẹ?

- Ừ.

Mai nhảy vào lòng mẹ tôi, nũng nịu. mẹ tôi ôm ấp em tôi, mắng yêu:

- Bố mày, khéo vòi vĩnh là…

Mai vờ mếu máo, lải nhải:

- Bắt đền mẹ đấy, gọi con là “mày” nữa.

Mẹ tôi cười dỗ dành em:

- Thôi đứng dậy rồi mẹ đền. Mẹ đền cái tát nhé!

- Ứ, ừ.

Em tôi ngoan ngoãn nghe lời mẹ. Và, trong khi mẹ tôi gấp quần áo của anh em tôi xong gối đầu giường thì tôi ngồi nghĩ đến chú Nghiêm. Tôi hằng ấp ủ ý định mai mốt học giỏi, tôi sẽ cho chú Nghiêm biết tay. Song tôi vẫn ngại mình còn bé, mai tôi về quê nội gặp chú. Tôi đã đọc mấy nhà văn tả quê nội. Sao mà tha thiết thơ mộng thế! Tôi sợ quê nội nhà tôi chẳng được như vậy, vì có túp lều bên khóm chuối tiêu, nơi ấy, mọi người đều rõ, một đêm vắng vẻ, tôi cất tiếng khóc chào đời.

Không, tôi không oán hận cái hình ảnh ấy. Chú Nghị an ủi tôi rằng:
- “Cháu sẽ nên người nhờ khóm chuối tiêu quê nội…”
Nên cái hình ảnh tôi oán hận nhất là chú Nghiêm. Chú là đàn ông mà tâm hồn hẹp hòi hơn cả đàn bà. Mẹ tôi kể chú Nghiêm đỗ tú tài, lấy vợ thành thị. Chú Nghiêm làm việc ở Hà-nội, thiên hạ gọi chú là ông Phán. Chú khinh người ra mặt nhưng sợ vợ đến nỗi phải giấu giếm tiền nong mua quà bánh gửi về quê biếu cha mẹ. Chú chưa có con trai. Vợ chú đồng bóng, lễ bái, đàn chay, tốn khối công của mà trời vẫn làm ngơ. Tôi đoán chừng thế ông tôi mới cần đến mẹ con tôi. Giá chú Nghiêm có con trai thì dễ gì ông tôi đoái thương tới đứa cháu đích tôn bị ruồng bỏ. Tôi thấy tủi thân quá. Tôi hỏi mẹ tôi:

- Chú Nghiêm ác lắm hở, mẹ?

- Chắc chú đổi tính rồi. Có vợ con, phải khác chứ.

- Con sợ!

- Sợ gì?

- Sợ chú ấy hất hủi mẹ con mình.

Mẹ tôi nín thinh. Tôi hỏi tiếp:

-Tại sao ông lại gọi sang?

- Ông ốm nặng mà.

- Trước kia ông không ốm nặng à?

- Không.

- Hay đừng sang mẹ ạ!

- Con sợ gì?

- Con sợ mình mồ côi cha, thiếu cha thì hay bị người bắt nạt.

Mẹ tôi nhìn tôi, thương hại. Rồi mẹ im lặng tưởng nhớ cha tôi. Tôi nghĩ thế. Giây lát, mẹ tôi nói nhỏ cơ hồ không muốn ai nghe thấy, ngoài mẹ con tôi, tuy ở bến đò vào những đêm trở gió lạnh, vắng tanh vắng ngắt.
- Mẹ đợi dịp này mười lăm năm rồi con ạ! Cha con hồi còn sống giận ông ghê lắm nhưng nhiều lúc cha con cũng mong được ông đoái thương. Mẹ chả muốn sang làm gì. Sang thì ăn vàng ăn bạc gì. Khốn nỗi, mẹ sợ nhỡ Trời Phật không thương mẹ con mình mà bắt mẹ chết thì các con bơ vơ. Nên mẹ đưa các con về, dẫu thế nào chăng nữa thì “giọt máu đào còn hơn ao nước lã.”

Mẹ ngừng lại, suy nghĩ một lát, rồi nói tiếp:

- Mẹ con ta cứ sang thăm ông bà. Hễ sao, mình lại về bến đò bán hàng, mẹ con đùm bọc nhau, lo gì.

Em Mai tự nãy vẫn ngồi yên chăm chú nghe chuyện. Em khêu bấc đèn cho sáng thêm, đoạn em hỏi mẹ bằng giọng nói đầy lo lắng:

- Nhỡ ông nội bắt anh em con rồi đuổi mẹ đi, thì sao?

Mẹ tôi đưa tay níu em Mai, vuốt tóc em, âu yếm:

- Thì con ở với ông bà.

Mai ngúng nguẩy:

- Ứ ừ, con thèm vào.

- Hỗn con, ở với ông bà sung sướng hơn ở với mẹ.

- Nhưng con thích mẹ, con không thích sung sướng.

Mẹ tôi trêu em:

- Không thích, ông cũng bắt sang. Mẹ nghèo, hết gạo nuôi con rồi.

Em Mai tưởng thật, òa lên khóc. Mẹ tôi lại vỗ về em:

- Nín đi con ngoan của mẹ, mẹ nói đùa mà, ai dám bắt con của mẹ. Mất con thì mẹ chết.

Mẹ tôi lau mắt cho Mai. Em ghì chặt thân hình mẹ như sợ người ta cướp mất mẹ. Em thỏ thẻ:

- Mẹ đừng để ông bắt con nhé, mẹ nhé!

- Ừ, vậy đi ngủ đi.

- Vâng ạ …

Mẹ tôi dặn tôi:

- Mai sang ông, nhỡ chú Nghiêm mắng mỏ, con phải nín lặng nhá!

- Sao phải nín lặng hở, mẹ?

- Để chú nghĩ rằng con mồ côi không mất dậy.

Tôi chưa kịp trả lời. Mẹ tôi đứng dậy đi về phía bàn thờ cha tôi. Mẹ thắp hương, khấn vái thì thầm. Anh em tôi, phần cảm động, phần nhớ cha, ôm lấy nhau. Những con mắt non nớt rươm rướm lệ.

Con đường đất nhỏ nhô lên, thụt xuống, từng khúc ngắn như những bậc thang. Hai bên, cỏ dại mọc xanh um, hoa hèn đua nhau nở. Sương mùa thu vương mắc long lanh khiến hoa đã hèn càng hèn, cỏ đã dại lại càng dại chẳng khác chi mấy cô gái xấu son phấn tô điểm dung nhan. Mặt trời chắc đêm qua thức khuya, hôm nay dậy muộn. Gió thổi mát rượi mang theo hương lúa thơm ngon.

Em Mai chừng đã mỏi chân, bước đi uể oải. Một tay giữ chặt quai nón cho gió khỏi tung, một tay em xách đôi guốc. Anh em tôi nói chuyện huyên thuyên để quên đường dài. Thọat đầu là truyện Quốc-văn Giáo-khoa Thư. Mai hỏi tôi:

- Anh có nhớ những bài trong sách Quốc-văn không?

- Nhớ như in.

- Anh nói khoác.

- Chả tin em đố anh mà xem.

- Thật hở?

- Ừ.

- Em đọc một câu, anh phải trả lời ở quyển nào tên bài là gì nhé?

- Đọc đi.

Không cần ngẫm nghĩ, Mai đọc:

- “Một đêm, nằm mãi không ngủ được, tôi lắng tai nghe.”

- Bài Tiếng động ban đêm, lớp dự bị, vẽ hình người đàn ông nằm ngủ, tay vắt ngang trán, chân phải gác lên gối chân trái.

- Đúng. “Cơm nước xong xuôi, trời vừa tối…”

- “…Ngọn đèn treo ở giữa nhà.” Bài Tối ở nhà, lớp dự bị, vẽ hình…

- Thôi đừng nói hình nữa. “Thằng Sửu thấy ở trên cành cây có một tổ chim chích chòe…”

- Bài Không nên phá tổ chim, lớp sơ đẳng.

Mai lè lưỡi ngạc nhiên:

- Anh giỏi ghê.

- Bây giờ anh đố em nhé?

- Vâng.

- Anh chắc em thua.

- Thì anh cứ đọc xem nào.

- “Ba, ra ngoài sân cầm cái rổ vào đây cho tao. – Con sợ lắm. – Sợ cái gì? - Trời tối lắm, con sợ ma!”

Tôi đọc xong, nhìn em, mỉm cười. Em tôi có vẻ suy nghĩ. Rồi em tôi nói bừa:

- Bài Phải bạo dạn, lớp sơ đẳng.

- Sai.

- Thế lớp dự bị.

- Cũng sai. Em thua mà.

- Chắc anh lấy ở sách khác.

- Ừ.

- Thảo nào, chứ hai lớp sơ đẳng với lớp dự bị, em thuộc lòng.

- Anh biết thế nên anh đố em bài trong quyển Luân lý Giáo khoa Thư.

Anh em tôi cười vang. Quãng đường ngắn dần lại. Mẹ tôi bảo, hết quãng đường này, qua nhịp cầu mong manh vắt vẻo ngang con ngòi là vào tới đất làng Trường-an. Tôi nóng lòng muốn biết quê hương, quên cả mỏi mệt. tâm hồn tôi mỗi lúc một trải rộng. Mẹ tôi cũng thế. Tôi thấy nét mặt mẹ hớn hở vui tươi.

Rồi qua nhịp cầu tre, mẹ con tôi không ai bảo ai mà tim đánh thình thịch, bước chân run rẩy. Mối cảm xúc dần lên cùng với nỗi lo âu hồi hộp. Em Mai đã xỏ guốc vào chân. Em ngây thơ hỏi vớ vẩn khiến tôi bớt sợ hãi.

- Anh ơi, ông nội mình có râu không nhỉ?

- Chắc có.

- Có, thì ông hiền.

- Sao em biết.

- Em thấy sách vẽ “Ông tôi” râu dài, tóc bạc, ông ngoại mình không có râu, lại đầu trọc, nên ông ác, anh ạ!

Câu nói ngộ nghĩnh ấy, lúc khác thì tôi đã ôm bụng cười. Nhưng, bây giờ, chân tôi đang in vết trên lối ngõ quê cha, tâm hồn tôi đang xao xuyến, tôi không thể cười được. Mẹ tôi bước nhanh, mẹ bỏ rơi anh em tôi một khúc đường. Rồi mẹ đợi chúng tôi tới. Mẹ tôi chỉ tay về phía túp lều trống không bên bờ ngói, nói rằng đây là nơi cha mẹ tôi đã gặp nhau. Đi thêm vài chục thước nữa, thì rẽ sang tay phải. Mẹ tôi bảo: ông ngoại bắt mẹ đánh đập và gọt đầu bôi vôi ở khúc rẽ này. Mẹ tôi nhắc từng mẩu dĩ vãng đau buồn. Từ căn nhà lụp sụp mà cha tôi gửi gấm mẹ tôi hồi mẹ tôi bụng mang dạ chửa đến cái ao tù mà mẹ tôi đã phải ngoi ngóp dưới nước vớt bèo, kiếm rong nuôi lợn suốt cả mùa đông lạnh lẽo. Mắt mẹ tôi chớp mau rươm rướm lệ.

Kỷ niệm xa xưa không còn mơ hồ nữa. Quê nhà tôi, ai biết đâu lại chở chất bao nhiêu tình thương yêu, bao nhiêu niềm mong nhớ, bao nhiêu nỗi u sầu. Tôi tưởng tượng mỗi khóm cây, mỗi lối mòn đều để dành cho anh em tôi những cảm tình thắm thiết. Và, hôm nay, tôi trở về thu lượm dần những mối tình thắm thiết rơi rụng sau mười lăm năm xa vắng. Anh em tôi rón rén nép sau mẹ, nghĩ ngợi mông lung. Mẹ tôi dặn dò:

- Nhớ lời mẹ dạy chưa, các con?

- Thưa mẹ nhớ rồi ạ!

- Sắp đến nhà ông, Hữu sửa lại quần áo đi.

- Vâng.

Bây giờ anh em tôi bớt lo sợ. Nhưng sự uất ức đang nhóm lửa. Chú Nghiêm nhìn tôi chằm chằm. Chú hất hàm hỏi tôi:

- Mày học lớp mấy?

Mẹ tôi đưa mắt nhìn tôi, ngầm ý khuyên nhủ “hãy lễ phép.” Tôi đưa mắt nhìn mẹ tôi, nhìn em tôi, nhìn tất cả đám người họ nội đang quây lấy mẹ con tôi như thử thách, như bắt nạt. Nước mắt tôi muốn tuôn ra. Tôi chợt nhớ lời chú Nghị khuyên tôi phải luôn luôn can đảm, nên tôi dằn lòng, nghiến răng chịu nhục. Thím Nghiêm hằn học nói:

- Nó câm à?

Cô tôi (ba bốn cô song tôi chỉ biết mặt cô sang nhà tôi hôm trước) đỡ lời:

- Cháu nó nhát.

Cô tới gần tôi vỗ về:

- Cháu trả lời chú đi, cháu học lớp mấy?

Tôi ức quá, nói với cô tôi:

- Cháu không nhát. Mẹ cháu nghèo, cháu không đi học, nhưng mẹ cháu không gọi cháu là mày. Ai gọi cháu là mày, cháu không trả lời.

Chú Nghiêm ghét tôi, chẳng thèm hỏi nữa. Còn thím Nghiêm bĩu môi, mỉa mai:

- Mẹ con mày tưởng giỏi lắm đấy.

Tôi cãi lại:

- Cháu không giỏi nhưng cháu không mất dạy. Cháu mất dạy đã có mẹ cháu, cháu không thèm nhờ ai.

Mẹ tôi chắc giận tôi. Mẹ ngồi im lặng. Bà tôi kéo mẹ tôi xuống bếp nói chuyện gì không biết mà bà tôi và mẹ tôi khóc nức nở. Các cô tôi săn đón em Mai. Cô nào cũng nhận em tôi giống mình. Tôi bỏ rơi hiện tại để thăm quá khứ, bỗng tôi nghi ngờ tất cả. Giả dối hết. Mẹ con tôi chưa được thăm ông tôi. Điều đó tôi nghĩ chả cần vì, sự thực, cho tới lúc này, tôi đã thương ai ở bên nội đâu, trừ chú Nghị.

Tôi lén ra vườn sau nhưng không thấy túp lều mà chỉ thấy dăm bảy khóm chuối tiêu, trái đang chờ chín. Một nỗi buồn thoáng lọt trong tâm tưởng tôi. Tôi trở vào đúng lúc các cô tôi tìm tôi bảo là ông tôi vừa tỉnh giấc.

Các cô đưa tôi lên nhà trên. Ở đây đã tụ họp nhiều người. Mẹ tôi ngồi bên bà tôi. Em Mai chạy sang phía tôi. Bao nhiêu con mắt cùng đổ dồn vào một ông già đang thiêm thiếp ngủ trên giường nệm trải vải trắng toát. Ông tôi đấy. Qua bức màn lan tiêu, anh em tôi thấy ông tôi tóc bạc râu dài. Em Mai bấm tay tôi đưa mắt hỏi han. Tôi cúi thấp xuống. Em ghé miệng gần tai tôi thì thầm:

- Ông có râu dài.

Tôi nhăn mặt, bấm tay em, ra hiệu im mồm. Nhưng em tưởng tôi ăn ý nên kiểng chân lên nói tiếp:

- Tóc ông bạc, anh ạ!

Ngay lúc đó, ông tôi cựa mình và đôi mắt chơm chớp rồi mở to dần dần. Bà tôi đi lại chỗ ông nằm, chỉ tay về phía anh em tôi. Bà nói thong thả từng tiếng một:

- Hai cháu ông kia kìa…

Anh em tôi đứng ngây. Tôi nhớ rằng tôi có ông bà, song dường như hai tiếng thiêng liêng ấy đã bỏ anh em tôi chuỗi thời gian xa xôi quá nên giờ đây tôi chưa cảm thấy gì. Ông tôi khó nhọc nghiêng mình, nhìn anh em tôi. Ông tôi vừa thở vừa nói đứt khúc, mỏi mệt:

- Mẹ… chúng… nó… đâu…

Mẹ tôi không dám đứng dậy, mẹ lết người tới. Ông tôi đặt tay lên đầu mẹ tôi, ông nói:

- Con… dâu… tôi…

Mẹ tôi chỉ kịp nghe tới đấy đã vội òa khóc. Mười mấy năm rồi, mẹ tôi chờ đợi ngày hôm nay, ngày đứa con gái bỏ nhà theo giai được công nhận làm dâu họ Nguyễn.

Ông tôi bắt vén màn lên. Bà tôi đỡ mẹ tôi lui xa. Mẹ tôi khóc sướt mướt. Ông tôi nhìn anh em tôi bằng đôi mắt yếu đuối. Ông nâng cánh tay gầy đét, khẳng khiu một cách khó nhọc vẫy vẫy anh em tôi. Cô tôi giục tôi tới ông. Anh em tôi cứ đứng nhìn ông mãi, đến khi thấy hai dòng lệ ngắn ứa ra từ đôi mắt già nua của ông tôi thì tim tôi tự nhiên đập mạnh. Chỉ hai dòng lệ ngắn ấy cũng đủ rửa sạch mọi ý nghĩ hờn oán của anh em tôi suốt thời thơ ấu tối tăm dài đằng đẵng. Ông tôi bị bịnh xuyễn, ông muốn nói rất nhiều, rất nhiều với anh em tôi, nhưng đờm còn vướng ở cổ họng. Bộ mặt ông tôi lúc này thiểu não uất nghẹn. Cái thứ uất nghẹn của một người thèm nói mà không nói nên lời. Ông tôi cơ hồ cố thu góp hời thở thành tiếng, gọi anh em tôi:

- Cháu… cháu… đích tôn… của… ông…

Tiếng ông tôi thoang thoảng như một cung đàn gần đứt. Anh em tôi lắng nghe. Và nghe xong không đứa nào bảo đứa nào, nước mắt trào dâng, chạy xô lại ôm lấy ông tôi, nức nở. Tự nhiên, con đờm xuôi xuống, ông tôi khỏe mạnh lạ thường. Ông tôi vuốt ve anh em tôi. Ông tôi nhắc lại câu ban nãy:

- Cháu đích tôn của ông.

Tôi xoa ngực ông tôi, nói trong cơn thổn thức:

- Ông ơi…

Ông tôi khe khẽ gọi:

- Cháu ơi!

- Dạ.

Giọng ông tôi trở nên nghẹn ngào, trắc ẩn. Ông nắm chặt tay tôi:

- Cháu khổ sở nhiều, hả ?

- . . .

- Chẳng đứa nào ngó ngàng hai cháu của ông, hả ?

- . . .

- Không ai đền bù cho các cháu được đâu.

Nước mắt anh em tôi rơi rụng trên mình ông tôi thấm qua hai lần áo dầy, ươn ướt làn da nhăn nheo. Tôi nói:

- Ông đền bù chúng cháu rồi.

Em Mai vuốt râu ông, thủ thỉ:

- Ông khỏe ông kể chuyện cổ tích cho anh em cháu nghe, ông nhé?

Ông tôi nhếch miệng cười. Ông gọi chú Nghiêm dặn dò, rồi đuổi mọi người ra, trừ anh em tôi. Chúng tôi trèo lên giường, mỗi đứa nằm một bên ông, cố thu về hơi ấm mất mát từ lâu. Ông tôi ôm ấp anh em tôi. Chúng tôi nằm im, mặc cho tình thương len lỏi mạch máu, vào thớ thịt. Hơn nửa tiếng sau, tôi không nghe thấy hơi thở của ông tôi nữa. Chả biết khi con đờm vít kín cổ họng, ông tôi có đau đớn không. Chắc ông tôi chết trong nỗi niềm sung sướng. Tôi mới tin rằng ông tôi đã đền bù cho anh em tôi nụ cười cuối cùng trước khi sang bên kia thế giới.

Buổi chiều ở quê nội nhà tôi lung linh màu sắc. Anh em tôi tha thẩn ngoài ngõ nhìn nắng vàng rớt rơi trên nội cỏ ngàn cây. Nắng chiều mong manh thật. Bừng sáng rực rỡ rồi tắt đi vội vàng. Mẹ tôi thường hay nói:

- Nắng cứ sắp tắt thì lóe lên đẹp đẹp là…

Hôm nay trông rõ nắng sắp tắt, tôi chợt hiểu tại sao mẹ tôi mong đợi ngày về quê nội. Lòng tôi xốn xang, tôi cất tiếng hát đuổi theo bóng nắng đang lướt nhẹ bên bờ giậu: “Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm chạy dài trên khóm cây, đàn chim ríu rít ca…” Em tôi hòa điệu: “Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm, chuyện trò vui với nhau, đời sống thần tiên…”

Bài hát này tôi học năm tôi bảy tuổi. Bây giờ hát lên, tôi mới thấy thấm thía.


1962

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 22:15 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
5 . Cỏ Non


Chúng nó tụ tập đông đủ , con ngõ cư xá bị nghẽn lối. Xe đạp, xe máy thì chịu khó xuống đất. Ô tô, xích lô máy thì bóp còi inh ỏi một lúc và đợi hàng hai ba phút mới có lối đi qua. Không khí trận mạc phảng phất trên những khuôn mặt non choẹt của tụi nhãi. Những thanh củi nhỏ, ngắn, những sợi dây cao su gói hàng, những viên đạn giấy lén thầy "sáng chế" trong giờ học và những tiếng súng mồm hứa hẹn thật nhiền sôi nổi ở trận chiến sắp tới.

Phe đảng chia xong xuôi rồi. Thằng Phúc làm "chúa" mọi da đỏ, thằng Chương làm "xếp" cao bồi. Hai đứa bắt đầu coi nhau như kẻ "tử thù". Lát nữa, "chúa" mọi da đỏ mà tóm cổ được "xếp" cao bồi hay "xếp" cao bồi mà tóm cổ được "chúa" mọi da đỏ, chắc chắn sẽ có chuyện lột da đầu giả vờ hay treo cổ bằng dây thừng tưởng tượng. Bây giờ, đến lượt tuyển mộ các tay súng oai hùng.

Chương chọn trước :

- Tao lấy thằng Tâm, thằng Hội, thằng Tám, thằng Báu, thằng Ngân, thằng Tấn, thằng Bảo, còn bao nhiêu phần mày.

Phúc lắc đầu :

- Đâu có được, mày khôn bỏ cha đi ấy !

Chương vênh mặt tự đắc :

- Khôn cái gì ?

Mày lựa hết trọi những thằng "chì", tao toàn những thằng như "kịa" !

Chương nói xỏ :

- Mọi da đỏ chả như "kịa" là cái gì ? Mày xem chớp bóng thì mày biết, chết như ngóe. Một thằng cao bồi bắn ngã cả trăm thằng mọi.

Phúc trả miếng :

- Cao bồi cũng như con "kịa", chỉ được cái nước cậy nhiều súng nhiều đạn.

Chương láu cá :

- Thế mày còn đòi "kịa" làm gì nữa ?

Phúc bị "hố". Nhưng nó vẫn khăng khăng :

- Mày trả tao thằng Hội với thằng Tấn tao mới chơi.

- Thôi đi mày, hai thằng này bắn xét tia chớp, mày đòi về bên mày, tụi nó bắn chết hết quân tao.

- Nó ở bên mày quân tao cũng chết hết.

- Quân mày gấp ba quân tao cơ mà.

- Mặc kệ, mày không trả thằng Hội, thằng Tấn, tao thèm vào chơi.

Chương ngẫm nghĩ một lát. Nó hỏi thằng Tấn :

- Mày chịu làm mọi da đỏ không ?

Tấn đáp :

- Tao khoái nhất.

Chương lại hỏi Hội :

- Thế mày ?

Hội hinh hỉnh cái mũi, khinh thường Phúc :

- Tụi mọi dở ẹc, tao muốn bắn chết hết mọi chứ không muốn làm mọi.

Phúc nổi khùng :

- Con nhà Hội nhớ nhé ! Mày sẽ biết tay ông. Được rồi, tao lấy thằng Tấn, cho mày thằng Kiên. A lê, dàn trận gấp !

Ngay lúc đó, thằng oắt tì Khôi, em "xếp" cao bồi Chương lon ton chạy tới. Khôi diện y hệt một thằng cao bồi chính cống. Nó đội cái mũ hướng đạo, lưng đeo thắt lưng bằng ni lông, khệ nệ hai khẩu súng cũng bằng ni lông nốt.

Súng chứa đầy "đạn nước". Nó cố bắt chước kiểu đi của tụi cao bồi. Tay nó khuỳnh ra. Mười ngón tay sát gần hai khẩu súng như sắp sửa rút thật nhanh để khạc đạn. Trông nó buồn cười lắm. Thằng Phúc vờ run rẩy, trêu oắt tì Khôi :

- Chạy mau anh em, thằng "Giô-ni Con Chó" ( Tên một phim cao bồi : phim Johnny Concho. ) nó bắn chết hết bây giờ !

Cao bồi oắt tì Khôi bị chế nhạo, tức ứ hơi, bèn rút súng toan bắn... ướt áo "chúa" mọi Phúc. Song súng mắc kẹt, móc mãi không ra. Tụi mọi đã lên đường phục kích khá xa, uổng ghê !

Đến giang sơn của mình, "chúa" mọi Phúc vẫy tay một cái thật mạnh. Ngót hai mươi thằng mọi con tuân lệnh răm rắp. Phúc móc túi lấy miếng vải đỏ thắt ngang đầu. Nó giắt thêm ba chiếc lông cánh ngỗng trắng lên trán. Tụi nhãi con liền "hóa trang" mọi theo. Thằng thì băng vải xanh. Thằng thì băng vải tím và chỉ được giắt một chiếc lông thôi. Lông gà hay lông vịt đều "chu" tuốt. Mọi con dắt một chiếc lông, mọi "chúa" dắt ba chiếc. Luật của chúng nó như vậy. Đánh nhau, không bao giờ "chúa" mọi hay "xếp" cao bồi chết sớm cả. Hai thằng này luôn luôn chết sau cùng và chết một lúc.

Trước giờ xuất phát đánh tụi cao bồi, "chúa" mọi Phúc ra lệnh hát bài "Lên đường". Bọn mọi con quây thành cái vòng tròn, đứa nào đứa ấy lăm lăm thanh củi trong tay, tưởng tượng đó là lưỡi búa "tô-ma-hốc". Phúc giơ tay. Bọn mọi con hơi hơi khom lưng, nhấc cao chân giậm thình thịch đi quanh "chúa" mọi của chúng nó. Phúc bắt giọng :

- Nào anh em ta... Hai, ba...

Bọn mọi con hợp ca. Cái "lâu đài âm thanh" ấy hỗn độn không... âm nhạc một tí nào cả. Thằng hét lớn như lệnh vỡ, thằng hát nhanh hơn vệ tinh bay, thằng đuối chậm quá xe thổ mộ. Tuy nhiên nó vẫn là bài hợp ca rất hùng hồn :

"Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đường. Kiếm nguồn tươi sáng. Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông từ đây. Ra sức anh tài. Đoàn ta chen vai, nề chi chông gai, lên đường. Ta người "Việt Nam"...".

Trong khi đó, ở "văn phòng xê ríp". Chương đút tay vào túi lôi ra năm sáu sợi dây cao su. Nó luồn vào cổ tay trái. Những tay cao bồi "nhỏ" kiểm soát "đạn" và nóng lòng rút súng quá trời ! "Xếp" cao bồi Chương dặn :

- Bắt sống con nhà Tấn nhé, tụi mày !

Bọn cao bồi "nhỏ" gật đầu. Thằng Hội hỏi :

- Đi chưa ?

Chương nhếch mép cười :

- Khoan đã bồ !

- Khoan làm gì ?

- Khoan... ăn lạc rang !

Chương móc gói lạc khao mỗi thằng bạn vài hạt. Rồi nó nói :

- Thôi, đi bắn bỏ mẹ bọn da đỏ khốn kiếp đi. Anh em hãy lên ngựa !

Cao bồi oắt tì Khôi tức "Giô-ni Con Chó" lẻo nhẻo :

- Cho em đi với.

"Xếp" cao bồi Chương hét :

- Mày không đi được.

- Em đi được.

- Mày bắn chậm thấy mồ. "Bắn chậm thì chết", thôi ở nhà canh phòng bọn... Mễ-tây-cơ say rượu...

- Không, cho em đi với.

- Tao bảo không đi được mà.

"Giô-ni Con Chó" méo xệch cái mặt. Chương thương hại em quá, nó xiêu xiêu lòng :

- Ừ thì đi, nhưng đừng xa xa kẻo tụi nó xô ngã nhé !

"Giô-ni Con Chó" Khôi tươi tỉnh ngay lập tức. Nó rút súng bắn tóe nước lên trời. Cả bọn "hí ngựa mồm" và hát bài :

"Ngựa phi, ngựa phi đường xa, tiến lên đường cát trắng trắng xóa, tiến lên đường nắng chói chói lòa..."

Ngựa phi bon bon, bọn cao bồi uống rượu làm tàng quên khuấy rằng mọi da đỏ đang rình đợi lột da đầu chúng nó.

Bọn cao bồi lọt vào vùng mọi da đỏ. Chúng nó phòng "nước đại", cát bụi tung bay mù mịt. Sợi dây cao su quàng qua hai ngón tay trỏ và ngón tay giữa thay vào cái nạng được nạp đạn sẵn sàng. Cao su đã kéo căng, chờ bắn đạn giấy vỡ sọ kẻ thù. Cao bồi có hai thứ khí giới : súng cao su đạn giấy và súng tay phải đạn mồm.

Trông thấy kẻ thù ở xa thì có quyền nổ đạn giấy, đánh xáp lá cà thì nổ đạn mồm. Mọi da đỏ cũng chơi hai thứ khí giới : búa "tô-ma-hốc" củi và nỏ miệng. Búa "tô-ma-hốc" chỉ dùng khi bắt được cao bồi và chỉ được "uýnh" rất khẽ vào mông tên tù. Còn nỏ miệng "vèo" tên mọi trường hợp.

Bọn cao bồi bớt vẻ nghênh ngang. Chúng ghìm "ngựa đi nước kiệu" và dừng lại buộc ngựa vô bụi cây, nghe ngóng. "Chúa" mọi Phúc mấy tuần trước từng sắm vai "xếp" cao bồi nên "kinh nghiệm chiến trường" thừa thãi. Phúc xua quân vòng xuống giếng, qua ngõ H, ra đường, thọc về ngõ D là ngõ bọn cao bồi đang lạc "vùng tử địa". Phúc đưa hai tay dang rộng, bọn mọi con chia thành hàng đôi, nép sát bên ngõ, âm thầm tiến.

Bọn cao bồi chưa biết mảy may. Cách chúng nó chừng ba mươi thước, "chúa" Phúc búng tay tách một cái và đồng thời phóng "vèo" một mũi tên tấn công. Bọn mọi con xô nhau chồm lên phía cao bồi. Thất kinh, "xếp" cao bồi Chương nằm vội xuống, lăn ba vòng rất điệu. Bọn cao bồi "nhỏ" biểu diễn ngã không kém gì "xếp". Khoảng khắc, tiếng tên bay "vèo, vèo" và tiếng đạn nổ "pàng, pàng, pàng" loạn xạ cả miền "sa mạc cát bỏng hoang vu". Bọn cao bồi vừa bắn vừa hét :

- Ê, Văn mày bị trúng đạn rồi ngã đi !

Mọi Văn đứng lại, gân cổ cãi :

- Trúng chó đâu mà trúng.

Hội bồi thêm ba phát :

- "Pàng, pàng, pàng" lần này mày chết rồi, ngã đi chứ !

Văn lè lưỡi :

- Chết cái con bọ xít !

Và nó giơ thanh củi dọa :

- Ông lại phóng búa vỡ sọ ra bi giờ.

Cao bồi Hội cụt hứng, nhắm bắn những tên mọi khác. Bảy tay súng oai hùng Tâm, Hội, Tám, Kiên, Báu, Ngân, Bảo cùng "xếp" Chương nắm tay phải, chìa hai ngón trỏ và giữa làm nòng bắn mọi tơi bời. Chưa thằng mọi nào chịu ngã cả. "Xếp" cao bồi Chương giục "chúa" mọi da đỏ Phúc :

- Bảo chúng nó chết vơi đi mày.

"Chúa" mọi Phúc thừa hiểu rằng mọi da đỏ cần chết thì trận đấu mới thú vị ở hồi kết cuộc. Nó cũng hiểu rằng bọn mọi của nó không thằng nào thích chết "non". Chết "non" bị loại ra rìa sớm. Đang vui chơi mà bị loại đứa nào chẳng buồn. Nên bọn mọi con ham chết "già". Phúc cáu con nhà Hội lắm. Lúc này nó dám hỉnh hỉnh cái mũi khinh thường "chúa" mọi Phúc và muốn bắn chết hết mọi. Phúc phải "lột da đầu" con nhà Hội cho hả giận. Nghĩ thế, "chúa" mọi Phúc mặc cả :

- Mày để tao bắt sống thằng Hội nhé.

- Có đổi tù binh không ?

- Có.

- Một thằng cao bồi ăn mấy thằng mọi da đỏ ?

- Ăn ba thằng.

- Ăn gì ít thế ?

- Vậy mày thích ăn mấy thằng ?

- Năm thằng.

- "Kịa", ăn tham quá trời !

- Thế bốn thằng nhé !

- Ba thằng thôi, bọn tao còn chết nữa cơ mà.

- Chết mấy thằng ?

- Ba thằng.

- Chết năm thằng đi. Chết năm bị bắt sống ba, bằng lòng nhé, Phúc nhé !

"Chúa" mọi trả lời bằng tiếng Mỹ :

- Ô kê !

Hội nghe ngóng sự "mua bán" giữa cao bồi và mọi da đỏ, nó giậm chân đành đạch. Mạc xác nó, bọn mọi tấn công hăng quá, "xếp" Chương không kịp suy nghĩ tình cảm vớ vẩn. Súng nổ dồn dập. Năm thằng mọi tình nguyện hi sinh cuộc đời cho "chúa" Phúc nắm quay lơ, mở mắt thao láo. Tụi khốn khiếp, chết mà còn nhe răng cười hềnh hệch. Rõ đồ... mọi da đỏ.

Phúc hô quân tóm cổ thằng Hội. Mười thằng mọi con nhào tới, ôm chầm lấy thằng Hội kéo đi xềnh xệch. Bọn cao bồi "bắn chỉ thiên" giải nguy bạn. Số phận con nhà Hội là số bị mọi bắt nên khó ai cứu nổi. Hội bị bắt, "xếp" cao bồi Chương muốn "chớp" thằng Tấn. Nó bắn mười mấy phát liên tiếp. Con nhà Tấn nháy mắt trêu tức Chương. Nó giương cái nỏ tưởng tượng, vèo vèo những mũi tên mồm "đáp lễ" Chương. Chương mím môi bóp cò khẩu "côn đui" :

- Pàng, pàng, pàng... thằng Tấn chết rồi.

Tấn cũng cho tên bay :

- Vèo, vèo... "xếp" cao bồi bị thương ở tay phải.

Chương vẫn bắn :

- Pàng, pàng... tao bắn tay trái nhanh như tay phải, đạn trúng tim mày rồi, chết đi Tấn.

Tấn chỉ tay dưới rốn, ưỡn người cãi hỗn :

- Còn "phia".

- À, mày chơi đểu hả ?

- Ừ đấy, ai bảo mày bảo ông chết, ông còn sống lâu lắm, "xếp" cao bồi ơi !

"Xếp" cao bồi ức hộc máu mồm, nó gọi "chúa" mọi da đỏ :

- Ê, Phúc !

- Cái gì ?

- Con nhà Tấn không chịu chết.

- Thế hả !

- Ừ !

- Mày bắn nó trúng vào đâu ?

- Vào tim.

"Chúa" mọi bênh mọi con :

- Mắt mày "cặp bà là té, mắt bé mắt to, mắt có lò xo, mắt to mắt bé" rồi, cao bồi ạ ! đạn sượt qua đầu vù nó mà mày bảo đạn trúng tim. Bắn dở ẹc, cao bồi ơi, bắn sượt đầu vú đâu có chết !

Nói dứt lời, "chúa" mọi Phúc hô lớn :

- Rút lui.

Bọn mọi con hí hí vang lừng rồi bỏ chạy. Chúng nó giẫm cả lên tụi mọi chết trên chiến trường khiến tụi này đau quá, sống lại, chửa bới om xòm. "Xếp" cao bồi Chương nghiến răng nhìn tụi mọi biến mất trong "những lớp cát bụi sa mạc dầy đặc".

Bọn mọi đã trở về tới "bộ lạc" của mình. "Chúa" mọi Phúc kiểm điểm lại quân số. Hai mươi thằng, chết năm, bị bắt sống ba, trừ đi còn có mười hai. Mười hai thằng đủ chơi một trận quyết liệt. "Chúa" mọi Phúc xăn tay áo lên, sửa soạn "thịt" thằng cao bồi Hội.

Nó bắt thằng Hội đưa hai tay bắt chéo ra sau lưng. Hội nghe lời, không dám hé răng. Phúc luồn tay vào chiếc áo Hội, trước hết "súng đạn". Đoạn nó mở hội khao quân. Bọn mọi da đỏ quây vòng quanh thằng Hội.

Lại vẫn cái tập quán cũ rích, bọn mọi lăm lăm trong tay lưỡi búa "tô-ma-hốc", hơi hơi khom lưng, nhấc cao chân giậm thình thịch, vừa đi vừa hí hí như khỉ ở sở thú. "Chúa" mọi Phúc nhường cái "vinh hạnh" đứng giữa cho thằng Hội. Nó nhập bọn với mọi con để "lãnh đạo" tụi nhãi tép này hành hạ tên tù binh cao bồi da trắng Hội.

Phúc béo thằng Hội một cái thật đau, Hội kêu ơi ới :

- Bẹo gì mạnh thế mày ?

Phúc giả vờ không nghe thấy. Nó búng ngón tay "tách". Bọn mọi con thi nhau "phết" búa "tô-ma-hốc" vào mông thằng Hội. Phúc nhìn Hội, khích bác :

- Tụi mọi dở ẹc hả, cao bồi ?

Hội giận phát run lên. Mọi Tấn xui "chúa" Phúc "lột da đầu" thằng Hội, "chúa" Phúc cười hô hố khoái chí. Nó mon men gần thằng Hội, đưa tay vuốt ve đầu tên cao bồi khốn nạn này và thình lình nó rứt mạnh hai sợi tóc. Hội hét to. Phúc nháy mắt. Bọn mọi con xúm lại : đứa đấm đứa đá, đứa nhổ tóc, đứa "thó" mấy tờ chương trình hát bóng của Hội. Lúc đầu, con nhà Hội còn chịu được, sau đau quá nó vùng chạy. Chạy sao thoát. Bọn mọi da đỏ hung hăng tóm cổ nó lại, rứt tóc tơi bời. Hội khóc hu hu. "Chúa" mọi Phúc nói :

- Ai bảo mày thích cao bồi ?

Hội quệt nước mắt :

- Tao thích cao bồi vì cao bồi không chết sớm.

Phúc xỏ ngọt :

- Cao bồi không chết sớm nhưng cao bồi bị mọi da đỏ lột da đầu. Mày có xem chớp bóng không ?

- Có.

- Sao mày ngu thế ? Cao bồi trong phim đâu có khóc như mày. Mày là cao bồi hèn nhát.

Sỉ vả cao bồi Hội chán chê, "chúa" mọi Phúc ra lệnh cho bọn thằng Tấn, thằng Văn "săn sóc" tên tù da trắng Hội. Tấn và Văn mỗi thằng "xực" Hội một cái bẹo tai rồi lôi nó đi "nhốt" ở "hang", cách nơi tập trung quân mọi của "chúa" Phúc vài bước. "Chúa" Phúc dặn dò bọn mọi con đôi điều xong lôi bắp ngô nướng ra gặm. Trông "chúa" mọi gặm ngô chẳng khác gì nhạc sĩ khẩu cầm thổi ác-mô-ni-ca.

Vào lúc ấy, tại "văn phòng xê-ríp" của "xếp" cao bồi Chương, ba tên mọi da đỏ ủ rũ ngồi. Chúng nó được đối đãi hết sức công bằng, nhân đạo theo nếp sống văn minh của bọn da trắng, nghĩa là không bị đánh đập tàn nhẫn, chỉ bị khinh miệt thôi.

Ba tên mọi da đỏ tên là Khải, Mão, Nhân. Bọn tù binh này hiền khô chứ không "gấu" như bọn còn sống. Những thằng hiền thường bị bắt và chết sớm. "Xếp" cao bồi Chương làm bộ "cao thượng" không hành hạ chúng nó nhưng "xếp" đã dung túng cho thằng cao bồi oắt tì Khôi tức "Giô-ni Con Chó" làm tàng.

"Giô-ni Con Chó" rút súng khỏi bao, mắt tóe căm thù chĩa thẳng vào mặt bọn tù binh mọi. Nó đứng dạng chân, hất hàm, hống hách hỏi :

- Ê, tụi mọi có đói không ?

Mọi Nhận cáu sườn :

- Đói cái củ từ !

"Giô-ni Con Chó" gầm lên :

- Mày nói đểu hả ?

- Ừ đấy "Giô-ni Con Chó" ạ !

Bị gọi là "Con Chó", cao bồi oắt tì Khôi sôi ruột. Nó bóp cò liền. Nước tóe đầy mặt tên mọi Nhân. Mọi Nhân đọc tên bố "Giô-ni Con Chó" chửi bới. "Xếp" cao bồi Chương cảnh cáo nó một cái cốc nhẹ. Bọn mọi im thin thít. Tụi cao bồi phá ra cười ầm ỹ. Mọi Nhân nghiến răng nuốt "căm hờn". Nó nghĩ thầm chốc nữa nó sẽ "xơi" thằng oắt tì Khôi mấy cú "phật thủ".

Bọn cao bồi dời "văn phòng xê-ríp". "Xếp" Chương giao ba tên mọi cho "Giô-ni Con Chó". Trận chiến cuối cùng sắp sửa mở màn.

Lần này bọn mọi da đỏ tấn công ngay. Chúng nó đàng hoàng tiến chứ không thèm đánh bọc hậu. Những tiếng hí xuất quân nghe chói cả tai. Bọn cao bồi xông lên chiến đấu. Tên bay, súng nổ ỏm tỏi. Bắn nhau chừng hai phút, "xếp" cao bồi ra lệnh :

- Thằng Báu, thằng Tám chết đi !

Hai tên cao bồi "ngã ngựa" ngay lập tức. "Chúa" mọi cũng ra lệnh :

- Chết tám thằng mọi !

Bọn mọi con thằng nọ đùn thằng kia mãi mới chịu chết. Lại bắn nhau thêm hai phút nữa.

- Thằng Bảo trúng tên của tao nhé !

- Mọi Hiền vỡ ngực rồi, chết đi !

- Chết cái cục "tẩy" ông đây này.

- Mọi da đỏ chết ba thằng.

- Cao bồi Ngân, Tâm chết. A, con nhà Tâm cơi búa "tô-ma-hốc" vỡ cha nó đầu.

- Ôn con đểu vừa vừa chứ !

"Chúa" mọi Phúc hợp sức với "xếp" cao bồi, gào to :

- Mọi chết hết, cao bồi cũng chết hết, còn hai thằng tao sống thôi.

Bọn cao bồi nhỏ, bọn mọi con lồm cồm bò dậy, đứng nép hai bên ngó. "Xếp" cao bồi bắt buộc hết đạn và "chúa" mọi cũng bắt buộc mất búa "tô-ma-hốc". Hai thằng nhào vào ôm chặt vật lộn nhau. Sóng gió sôi nổi ở chiến trường, khán giả trận đấu tay đôi này là tụi nhãi con vừa chết đã được tiên cứu sống.

Chương tóm được đầu Phúc giật vội cái lông ngỗng ; không phải tay vừa, Phúc thoi mạnh một quả khiến Chương hét lên. Phải có một thằng chết và thằng chết ấy phải là chú mọi. Nhưng "chúa" mọi Phúc rất thích "ăn" cao bồi Chương. Thua "giả vờ" mãi chán lắm rồi. Phúc muốn làm "xếp" thằng Chương luôn. Nghĩ vậy, nó dồn hết sức mạnh phi thân chồm tới Chương. Chương đâu có ngán Phúc mặc dù Phúc làm "chúa" mọi da đỏ. "Xếp" cao bồi ghì chặt, toan đệm chân hạ ngã "chúa" mọi da đỏ. Song hai kẻ thù đồng cân đồng lạng nên trận đấu mỗi lúc một gay cấn.

Giữa lúc hai tay dũng sĩ đang tìm cách cho nhau "đo ván" thì "Giô-ni Con Chó" chạy đến tìm anh, khóc sướt mướt. "Xếp" cao bồi vội buông "chúa" mọi. Phúc lợi dụng dịp may nghìn năm một thuở quật té nhào Chương. Bọn mọi con vỗ tay hoan hô ầm ỹ.

Chương nhổ nước bọt ra vẻ khinh bỉ "hành động" đê hèn của quân chuyên môn đánh lén. Nó cóc cần thắng nữa. Em nó bị thằng nào bắt nạt mới cần. Thấy "Giô-ni Con Chó" mặt mày quần áo ướt sũng, Chương hỏi :

- Sao thế Khôi, đứa nào bắt nạt em ?

"Giô-ni Con Chó" nức nở :

- Thằng mọi Nhân, nó tước súng của em bắn em ướt hết, anh ạ ! Anh đánh chết tụi mọi đi.

Bọn mọi con biết chuyện ba thằng Khải, Mão, Nhân cướp súng của "Giô-ni Con Chó", vượt ngục, khoái quá ôm bụng cười lăn lộn.

"Giô-ni Con Cho" giục anh :

- Anh đánh chết tụi mọi, anh nhé !

"Xếp" cao bồi nhìn "chúa" Phúc, hẹn ngầm :

- Ừ, chiều mai anh sẽ đánh gẫy răng tụi mọi da đỏ.

"Giô-ni Con Chó" đứng bên anh, lại làm tàng. Nó rút hai khẩu súng, tay nhanh như chớp, khạc đạn :

- Èng, èng, èng...

"Chú" mọi da đỏ Phúc vờ ôm ngực ngã lăn. Bỗng nó đứng lên, toét miệng cười, rồi hô quân :

- Chạy mau, anh em ! Thằng "Giô-ni Con Chó" nó bắn chết hết bây giờ.

Tụi mọi chạy biến. Chúng nó thôi hí. "Giô-ni Con Chó" chĩa súng bắn đuổi :

- Èng, èng, èng...


(8-1964)

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 22:20 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
6 . Đào Kép Cũ


Gánh " Gió Bụi " của ông bầu Xưởng là một gánh hát nhỏ và nghèo. Đến nỗi giấc mơ duy nhất của ông là được chuyện gánh về thủ đô hát một tháng, một tuần hay chỉ một đêm thôi mà cũng chưa bao giờ thực hiện nỗi. Cho đến bây giờ thì giấc mơ ấy thực sự đã chết trong lòng ông bầu già nặng lòng với nghệ thuật.

Những cô đào lẳng, đào thương cỏ chút nhan sắc ; những chàng kép độc có giọng ca mùi mẫn ; những anh hề có tài chọc cười duyên dáng, lần lượt bỏ bầu Xưởng ra đi tìm tiền tài và danh vọng ở phương trời khác. Rồi tới phiên anh soạn giả ruột, anh đạo diễn tâm huyết, anh họa sĩ hào hoa giã từ "Gió Bụi" để lại cho bầu Xưởng vài vở hát cũ mèm, vài tấm phông nham nhở mầu sắc thì gánh của bầu Xưởng bắt đầu hấp hối trên miệng hố đen ngòm của đe dọa đói rách, bệnh tật...

Bầu Xưởng gánh "Gió Bụi" bằng hai vai, bằng tự ái nghề nghiệp và bằng lòng kiêm hãnh của kiếp tài tử. Ông soạn lại các vở cũ, sơn phết lại phông, đạo diễn luôn tuồng kịch. Ông làm việc ngày đêm ôn đồm đủ thử, đủ mòn. Tóc ông bạc phơ râu ông dài tua tủa. Ông đâm ra thù đời, thù người. Ít lâu sau ông biến thành một bầu gánh khó tính độc tài không tin cậy ai cả trừ vợ ông và hai cô đào chánh, con gái yêu của ông.

Bầu Xưởng đưa "Gió Bụi" lang thang khắp nẻo đường gió bụi lục tỉnh. Khi những đấng thiên tử những anh hùng hiệp sĩ xuất hiện trên sân khấu thì đồng thời cũng hiện những thằng ăn mày những thằng phản bội ở hậu trường. Gánh hát của bầu Xưởng toàn gặp thất bại ê chề. Chiếc xe chuyên chở phong cảnh hành lý và công nhân của bầu Xưởng đã bán đứt cho chủ vựa cá. Người ta bèn dùng nó vào việc thiết thực hơn là việc nghệ thuật. Thành thử mỗi lần chuyển gánh, bầu Xưởng lại phải mướn xe đò. Do sự mướn thuê đau buốt tim gan đó nên cứ một phen ra đi là một phen gửi lại chút it đồ đạc làm kỷ niệm. Dần dề, đồ nghề thưa thởt. Thưa thớt luôn cả nghệ sĩ. Vì họ vội nghĩ tới một đời sống tầm thường, một đời sống không sóng gió nhưng no lành, yên ổn. Đào thì kết duyên với các thầy đại diện xã, các thầy hội viên cảnh sát hoặc các thầy trung sĩ trấn thủ quận lỵ, hoặc nữa, làm lẽ mấy ông chủ vựa cá, chủ xe đò... Kép thì lọt vào những đôi mắt xanh của các cô thợ may, các cô bán hàng ngoài chợ. Có anh tốt số vớ được cô nữ sinh con ông điền chủ ái mộ tài hoa. Thế lả nghệ sĩ có quyền vĩnh biệt ông bầu, quên sáu câu vọng cổ, bài xàng xê và những tháng ngày đói rách để lảm cuộc đời mới...

Sự kiện này tiến diễn không ngừng khiến bầu Xưởng ứa nước mắt. Ông kiên nhẫn chịu đựng. Cái hi vọng ngày mai tươi sáng là ngọn nến leo lét trong đầu óc ông. Bầu Xưởng không thể bỏ cuộc vì ít ra ông còn một số đàn em trung thảnh với ông, số đàn em nguyện cùng ông, cùng gánh "Gió Bụi" rút ruột nhả tơ đến ngày trở về cát bụi. Bầu Xưởng lo vá lại mũ mãng, y phục vả kết nạp thêm đảo kép trẻ. Mặc dù "Gió Bụi" nằm gánh nhiều nơi, mặc dù những lượng vàng dành dụm của vợ, của con gái tháo hết đổi cơm cháo, cà phê, thuốc lá cho nghệ sĩ, bầu Xưởng vẫn tin vào cơn gió thần, ngày nào đó, sẽ thổi tung "Gió Bụi" cho tiếng trống tuồng vang vang thuở oanh liệt lúc ban đầu.

Và đây là giấc mơ thư hai...


Một buổi chiều u ám, gánh "Gió Bụi" của bầu Xưởng lạc loài tới Hậu-nghĩa. Hậu-nghĩa là một tỉnh lỵ mới thành lập. Từ công sở đến chợ búa, từ chùa chiền đến rạp hát, tường chưa khô mùi vữa, mái còn đỏ tươi dưới ánh nắng chói chang. Dân tỉnh lỵ rất dễ tính. Người ta đón người đến như đón bà con thân thuộc. Người đến, nếu ở lại lâu sẽ được săn sóc chu đáo, sẽ được an ủi tinh thần, giúp đỡ vật chất.

Gánh "Gió Bụi" dĩ nhiên được hoan nghênh nhiệt liệt. Nó cũng giống những trái dừa giữa sa mạc nóng bỏng. Nó tới đúng lúc người ta khát khao. Bất kể sự rách rưới, nghèo đói, người ta chỉ cần biết nó là gánh cải lương đầu tiên đặt chân lên miền đất trẻ trung này.

Bầu Xưởng sung sướng muốn khóc. Ông la phấn khởi đôn đốc nghệ sĩ tập dượt lại những vở tuồng ruột. Hai ngày cái tỉnh lỵ nhỏ bé Hậu-nghĩa đã om sòm tiếng trống cổ động của gánh "Gió Bụi". Tấm "băng-đờ-rôn" căng thẳng trước rạp. Hai chữ "Gió Bụi" đỏ chói đập vào mắt người qua đường. Những bức ảnh đào kép treo trên tường làm mồi câu khán giản. Sở dĩ gọi là "mồi" vỉ những bức ảnh này đều chụp hồi đào kép còn trẻ đẹp, béo tốt. Bầu Xưởng nắn nót cán bút sơn lên những tờ "áp-phích" dán khắp phố. Những tờ "áp-phích" hấp dẫn dân chúng tỉnh lỵ hơn những tờ "tuyên cáo" của chính phủ.

Khán giả bắt đầu thuộc tên kép Mộng-Tần, Tám Liều, Chín Long-xuyên, Năm Định-tường, hề Tiếu-Tử ; tên đào Ái-Hoa, Duyên-Hương, Ba Chợ-lớn, Bẩy Gò-đen... Bầu trưởng đã bóp óc nặn ra những dòng văn chương bay bướm như thế này : "Gió Bụi, một ban hát tổng hợp mọi danh tài của vạn nẻo sông hồ gió bụi với ngôi sao bắc đổi của vừng trời ca kịch xứ sở Ái-Hoa ; với giọng vàng thế kỷ Duyên-Hương ; với sắc đẹp tuyệt vời của Cléopâtre Việt-Nam Bẩy Gò-đen ; với giọng ca thiên phú trầm ấm Mộng-Tần ; với tiếng hát truyền cảm tuyệt vời Tám-Liều và chìa thoá mở kho cười vô tận Tiếu-Tử. Gió Bụi, tiếng chuông vàng của những tiếnng chuông vàng, nghệ thuật của những nghệ thuật. Đúng chín giờ đêm nay, tấm màn nhung Gió Bụi sẽ hé mở để quý ngài bước vào thế giới âm nhạc cải lương, quý ngài sẽ mê ly ngây ngất và thương cảm cho mối tinh đầu dang dở của đôi trai tài gái sắc tronq tuồng "Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài". Y phục Thượng-hải bạc triệu. Chú ý: Quý ngài nhớ mang mùi xoa theo để thấm nước mắt..."

Văn chương qnảng cáo tuồng của bầu Xưởng êm ái cơ hồ điệu vĩ cầm, đã lọt vào tai dân Hậu-nghĩa. Đêm ấy, người ta xô đẩy nhau mua vé ban "Gió Bụi" chơi tuồng "Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài". Đào già Năm Phồn, bầu Xưởng ngỡ ngàng như sống trong chiêm bao. Đào ngồi ở "ghi sê" mà cứ đang tưởng ngồi ở đảo hạnh phúc. Đào xé vé lia lịa, đếm tiền rào rào. Vé bán hết thật nhanh. Nhiều khán giả chậm chân đành phải trở về. Đào Năm Phồn tươi tỉnh xin lỗi và hứa hẹn đêm mai sẽ in nhiều vé hơn. Năm Phồn cảm thấy mình trẻ ra vài chục tuổi. Khi đống tiền đã nằm gọn trong cái "xắc" lớn, đào già Năm Phồn mới nhớ tới kỷ niệm của những đêm mưa chong đèn đợi khán giả, những đêm đau khổ móc tiền đổi lại vé, những đêm ăn cháo trắng hột vịt muối nằm nghe tiếng thở dài, những đêm khóc tỉ tê nghĩ đến ngày mai đen tối.

Giữa giây phút thần tiền của vợ, bầu Xưởng hé tấm màn cũ kỹ nhìn xuống. Khán giả đông nghịt. Bầu Xưởng cảm động nghẹn lời. Nước mắt ông ứa ra, những giọt nước mắt của ông thấm vào tâm hồn đào kép. Chưa bao giờ họ được chơi tuồng trước số khán giả kỷ lục như thế. Hồn tài tử vụt thức. Trong khoản khắc họ quên tất cả mọi nỗi niềm cực nhục ê chề. Họ chỉ nghĩ họ là nghệ sĩ đúng với danh hiệu trời phong cho họ. Và họ đã sống thật cùng nhân vật tuồng. Họ không cần hỏi diễn tuồng xong họ sẽ ăn cơm hay nhịn đói như thường lệ. Cuộc đời của họ, vinh quang của họ cơ chừng có một đêm nay.

Ban "Gió Bụi" chinh phục khán giả tỉnh lỵ Hậu-nghĩa dễ dàng. Khán giả khoái sáu câu của Mộng-Tần, mê sắc đẹp của Cléopâtre Bẩy Gò-đen, cười nghiêng ngửa vời Tiếu-Tử đến nỗi dám tha thứ cho "y phục Thương-hải" của bầu Xưởng. Bầu bèn tìm kế hồi sinh gánh hát.

"Đất lành chim đậu" Gánh "Gió Bụi" của bầu Xường đóng đô thường trực tại rạp "Sông Hồ". Nhờ sự ủng hộ nhiệt tình của khán giả. bầu Xưởng đã có đủ phương tiện để sắm sửa thêm phông cảnh, quần áo, mũ mãng, đàn sáo... Đời sống đào kép được bảo đảm nhưng bầu Xưởng thật sự là một ông bầu độc tài. Những tay soạn giả, đạo diễn xuất sắc tình nguyện đầu quân gánh "Gió Bụi" đều bị bầu Xưởng xua đuổi. Ông không cần đạo diễn soạn giả ông thừa tài để lèo lái gánh hát của ông. Vinh quang biến ông thành kẻ kiêu hãnh, phách lối. Bầu Xưởng cứ "bổn cũ soạn lại" diễn hết tuần này sang tuần khác. Khán giả vẫn đông nghịt. Không ai chê một lời nào. "Gió Bụi" vỏn vẹn có mười vở tuồng mà bầu Xưởng kéo dài chương trình trình diễn ngót ba tháng. Bây giờ, đôi tay của đào già Năm Phồn nặng trịch những vàng. Chiếc nhẫn đeo ngón giữa nổi bật những viên kim cương óng ánh. Bây giờ, đào già Năm Phồn đã quên những đêm ăn cháo trắng hột vịt muối cầm hơi và giọng của đào kênh kiệu như giọng của trăm ngàn bà bầu giầu sang khác. Bây giờ, tủ áo của đôi đào lẳng Ái-Hoa, Duyên-Hương, ái nữ của ông bà bầu đã đầy nhóc những chiếc áo dài đắt tiền. Nước hoa Chanel số 5, son Elizabeth Arden, phấn Hariet Hubbard Ayer thơm phức. Bây giờ bầu Xưởng không hút thuốc Mélia vàng nữa. Ông mua những cải tẩu Dunhill bạc ngàn, hút thuốc Prince Albert. Luôn luôn ông ngậm tẩu và ví mình với các đạo diễn gạo cội quốc tể. Bây giờ, ở hậu trường sân khấu mọc lên hai bộ bàn đèn đuốc phiện. Các kép nằm hút chửi ông bầu. Thuốc phiện có sức quyến rũ mãnh liệt. Chẳng bao lâu vợ chồng bầu Xưởng cũng rủ nhau "đi mây về gió".

Gánh "Gió Bụi" bắt đầu lưới biếng. Bầu Xưởng quên hẳn giấc mơ chuyển gánh về thủ đô phô bày nghệ thuật. Khỉ đã thành công một cách dễ dàng, mấy ai cần cố gắng. Cái xã hội "Gió Bụi" được đà đi sâu vào dâm ô, thối nát. Thời gian buồn nản trôi. Đào già Năm Phồn nhìn kỹ mới thấy mình trẻ hơn chồng.. Thuốc phiện đối với đàn bà là thuốc hồi xuân. Bất giác đào Năm Phồn nhớ lại dĩ vãng hoa bướm để rồi cắm lên đầu bầu Xưởng những cái sừng dài nhọn hoắt. Bầu Xưởng chưa hay sự tình.

Kép Mộng-Tần một mặt "ái tình vụng" với đào già Năm Phồng một mặt "ái tình công khai" với đào lẳng Ái-Hoa. Hai mẹ con bầu Xưởng âm thầm ghen ghét nhau. Đến khi hai mẹ con cùng mang bầu thi bầu Xưởng mới tỉnh men... thuốc phiện. Ông khai trừ kép Mộng-Tần khỏi gánh. Kép Mộng-Tần đòi "bồi thường". Hai bên dọa kiện nhau ầm ỹ. Chưa hết chuyện, kép Tám-Liều tố cáo bầu Xưởng hiếp dâm người yêu của kép là đào Ba Chợ-lớn. Đào Duyên-Hương bênh cha phát giác tội kép Tám-Liều đêm khuya mò mẫm vào mùng của đào. Ôi cha, cứ rối tung như hẹ. Hết người này kể tội người nọ đến người khác điểm chỉ người kia. Cái xã hội "Gió Bụi" thối um. Cuối cùng, sợ khán giả đả đảo thì bể nồi cơm, người ta điều đình. Mọi điều đều ôn thỏa. Gánh "Gió Bụi" vẫn nguyên số đào kép cũ. Họ chung sống với nhau nhưng sống trong thù hận vả chỉ rình rập cơ hội hại nhau.


Khán giả xem đi xem lại "Lương Sơn Bá, Chục Anh Đào" mãi phát ngấy. Cảm tình ban đầu vơi đi. Người ta mong có ban hát cải lương mới. Nhưng cái tỉnh lỵ còm cõi này, gánh hát danh tiếng nào thèm lai vãng. Họa chăng chỉ có loại "Gió Bụi". Người ta nản lòng đến nỗi ước ao gánh mới, cần mới mẻ thôi, rồi có dở hơn "Gió Bụi" cũng chịu khó thưởng thức vậy. Đón được dư luận thèm tuồng mới của khán giả, các đào kép yêu cầu bầu Xưởng mướn soạn giả hoặc mua tuồng lạ. Bầu Xưởng không hứa hẹn gì cả.

Ông lấy quyền làm bầu át giọng các đào kép. Gánh "Gió Bụi" thách đố khán giả tỉnh lỵ Hậu-nghĩa bằng cách cứ diễn tuồng cũ rích. Khán giả không hoan hô song vé bán không ế. Ông bầu độc tài Xưởng đáng lẽ nể khán giả thì ông lại khinh thị ra mặt. Ông cho rằng có ban "Gió Bụi" của ông trình diễn ở đây là phúc lắm rồi. Khán giả không có quyền đòi hỏi tuồng mới tuồng cũ. Khán giả như những con cá đói, ném phân xuống cũng phải đớp.

Sự khinh khi ấy khiến bầu Xưởng càng ngày càng độc đoán. Ông bỏ ngoài tai những ý kiến xây dựng gánh của anh em nghệ sĩ. Đến khi khán giả tẩy chay tuồng vở cũ mèm của bầu Xưởng ra mặt, ông mới bối rối. Bối rối nên mất bình tĩnh. Ông đuổi công nhân, bớt lương đảo kép và hứa vội rằng sẽ đổi tuồng mới. Nhưng trong thời gian chờ đợi, khán giả hãy lạm xem tuồng cũ.

Khán giả bằng lòng. Đào già Năm Phồn ưỡn cái tác phẩm của Mộng-Tần, thu tiền chặt túi. Bầu Xưởng lại lo ăn hút. Năm Phồn lại cho chồng mọc sừng. Đào Ba Chợ-lớn lại lo cho bầu Xưởng hiếp dâm kiếm chác thêm tí tiền mua hột xoàn. Kép Tám-Liều lại lo chui vô mùng đào Duyên-Hương. Cái xã hội "Gió Bụi" lại tiếp tục bu quanh các bàn đèn thuốc phện, lại chửi nhau, lại cám ơn nhau, lại tử tế, lại đểu giả, lại rình rập hạ nhau. Khán giả bị đánh lừa nhiều lần tức hộc máu. Bọn đàn em trung thành của bầu Xưởng bị bạc đãi cũng ức hộc máu. Họ vận động một cuộc đánh gục uy tín bầu Xưởng. Họ ngầm bố trí đưa bầu Xưởng vào bẫy.

Bẫy đã giương sẳn sàng. Một đêm hát do Hội Phụ Nữ tổ chức, bầu Xưởng uốn ba tấc lưỡi hứa hẹn đổi mới, đổi rất mới. Đúng giờ, ba tiếng vồ oan khiên nện trên sân khấu, tấm màn nhung mở rộng. Diễn viên đình công phản đối bầu Xưởng. Họ bí mật rủ nhau đi xem hát bóng trước giờ trình diễn năm phút. Khán giả đợi mãi không thấy nghệ sĩ ra trò. Bầu Xưởng hết hồn, lắp bắp mấy câu xin lỗi.

Khán giả ghét bầu Xưởng, không cho xin lỗi. Họ chồm lên đấm đá ông tơi bời. Thân già chịu đòn sao nổi. Bầu Xưởng chết tươi trên sân khấu. Ông sinh ra ở sân khấu, sống bằng sân khấu rồi chết ở sân khấu. Đúng là "Gió Bụi" lại trở về gió bụi.

Khán giá "thịt" bầu Xưởng xong, nhào ra "ghi-sê" vồ tiền. Đào giả Năm Phồn tưởng bị tống tiền, kêu cứu inh ỏi. Đào sợ quá, ngất đi. Lúc tỉnh, đào trở vào hậu trường thì thấy đứa con gái mình nằm ngay đơ, tay chân bị trói chặt, mồm lại nhét đầy giẻ. Cởi trói cho con, đào dắt con đi kiếm chồng. Đào Năm Phồn hét lớn, nhẩy bổ lại ôm lấy chồng khóc nức nở. Hai cô đào lẳng Ái-Hoa và Duyên-Hương cũng ôm lấy cha, rên xiết.

Đây là màn bi kịch độc đáo nhất của cuộc đời, tiếc rằng khán giả đã về hết.


Cuộc đảo chính lật đổ bầu Xưởng của anh em nghệ sĩ gánh "Gió Bụi" thảnh công mỹ mãn. Gánh hát bắt buộc phải nghĩ ít lâu. Họ điều đình với đào già Năm Phồn để mua trả góp y phục, mũ mãng... Một tháng sau, gánh "Gió Bụi" đổi tên mới cho hợp thời. Lựa chọn mãi, cuối cùng họ quyết định là "Đường Đời Gió Bụi" do Mộng-Tần làm bầu có Mộng-Lương về tăng cường. Họ tung ra vở mới toanh "Bạo Chúa Tần Thủy Hoàng".

Cô đào lẳng Ái-Hoa thay chân bà bầu của mẹ. Kép Mộng-Tần đã lấy cô hẳn hoi. Cái bào thai trong bụng đào già Năm Phồng, kép Mộng-Tần hứa sẽ bao bọc nó nếu nó sống. Cô đào Duyên-Hương khăn gói về thủ đô gia nhập gánh "Ra Đi". Mọi sự đều thay đổi. Đào Bẩy Gò-đen nghiễm nhiên thành đào chính. Công nhân thì vẫn là công nhân, vẫn phải quét dọn và khuân vác đồ đạc. Và lương bỗng không tăng đồng nào. Khán giả nóng lòng coi hát. Nghiền ghê mất rồi. Đóng cửa một tháng còn chi nữa.

Rồi một buổi sáng trời trong mây lành, khán giả bỗng nghe thấy tiếng trống quen thuộc. Người ta đổ xô ra đường. "áp-phích" của gánh "Đường Đời Gió Bụi" dán đầy phố vơi những dòng văn chương như thế này :

"Sau khi đã cải tổ nội bộ, đoàn "Đường Đời Gió Bụi" do Mộng-Tân lãnh đạo hoàn toàn đổi mới. Đổi mới hết, từ phông cảnh, tuồng tích đến đào kép. Chúng tôi không dám nói dối đâu. Quý nqài tới coi sẽ rõ. Đêm ra mắt bà con, chúng tôi trịnh trọng khai trương vở "Bạo Chúa Tần Thủy Hoàng". Tới coi quý ngài sè thấy tráng sĩ Kinh Kha... xuýt đâm chết bạo chúa. Vở mới ! Đào kép mới ! Đợt sóng mới ! Tài năng mới ! Khung cảnh mới ! Tinh thần phụ vụ cũng mới !"

Khán giả xô nhau tới rạp "Sóng Hồ". Vé hết rất sớm. Người ta chờ từng giây phút. Khi tấm màn nhung quen thuộc mở rộng, người ta vội vàng sửng sốt. Vẫn phông cảnh cũ, vẫn đào kép cũ. Khác có tuồng mới. Người ta say sưa thưởng thức. Chỉ tiếc đào kép hơi cũ và tuồng mới hay không quá một đêm khai trương.


16. 11. 1963
(Sau ngày cách mạng năm ngày

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 22:22 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
7 . Ánh Lửa Đêm Tù


Nguyễn Văn Quân là một nhà văn trẻ sống cô đơn ở một ngõ hẻm ngoại ô. Một người con gái cảm Quân... Kẻ theo đuổi người con gái thất tình. Hắn trả thù Quân bằng cách vu Quân ăn cắp. Nhiều nhân chứng hùa nhau hại Quân, cảnh sát tóm cổ Quân. Đau đớn, nhục nhã. Quân lao đầu vào tường tự vẫn. Không chết. Người ta vội chở Quân đến nhà thương cấp cứu. Rồi tống cổ Quân vô khám.

Phòng 2C2 là phòng nổi tiếng nhất của khám đường. Phòng đó chứa ngót một trăm tội nhân. Toàn thị ăn cắp, hiếp dâm, giết người. Những tay anh chị nhất của Sài-gòn Chợ-lớn, Gia-định chạm trán nhau tại đây. Họ đã thanh toán nhau những mối hận thù trong bốn bức tường tù mà ở ngoài chưa kịp ra tay. Nhiều đứa chết như những con chó. Bọn tù làm ngơ. Không đứa nào dám hó hé. Chúng nó sợ kẻ sát nhân hơn sợ giám thị. Nên công lý vô nghĩa. Và lũ giám thị tắc trách và lắc đầu buông xuôi tay nhìn tội ác phô trương thay thế. Nhiều đứa bị đánh hộc máu mồm, gẫy bả vai, trật bánh chè, nghiến răng chịu đòn. Chúng nuôi căm hờn chờ ngày trở về nếp sống cũ sẽ tính chuyện. Những vụ thanh toán đẫm máu công khai này không ngoài mục đích giành chức xếp sòng.

Quyên Tân-định là xếp sòng 2C2. Nó to con, cao lớn. Quyên xuất thân ở lò du đãng Tân-định. Nó có nhiều "nghề" : duy-đô, bốc, vovinam... môn nào cũng trội cả. Nó chừng hai mươi nhăm tuổi. Chẳng biết nó nhập làng anh chị do nguyên cớ nào. Trên ngực nó xâm hình cái đầu lâu to tướng. Hai lưỡi dao găm nhọn hoát cắm lút cán vào hai mang tai. Duới ghi bốn chữ "vì đời rửa hận".

Nguyên cái hình xâm đó cũng đủ "anh hùng" rồi huống chi chung quanh con người Quyên Tân-định còn thêu dệt bao nhiêu chuyện "chọc trời khuấy nước". Nó đâm địch thủ không gớm tay. Quyên Tân-định chuyên xử dụng dao con chó. Có tay đàn em đi biên giới làm ăn tặng Quyên con dao. Quyên khoái con dao bấm nút ba bốn lưỡi bay này lắm. Luôn luôn nó giắt bên mình.

Bốn tháng về trước. Quyên Tân-định kéo đàn em tống tiền tiệm vàng Vạn Lịch, hiếp con gái bà chủ và đánh vỡ đầu ông chủ. Cảnh sát kịp thời bao vây. Quyên bị thộp cổ cùng ba thằng đàn em. Và chúng nó kéo nhau vào 2C2.

Bấy giờ, chức xếp xòng nằm gọn trong tay Tâm Cống Bà Xếp. Tâm không phải tay vừa. Thành tích của nó chỉ nghe chơi cũng đủ ớn xương sống. Nó cầm đầu năm mươi bảy tên du đãng cỡ dám rạch mặt thiên hạ xin tí máu dâng chúa đảng. Can tội giết một người cảnh sát, đoạt khẩu súng lục, Tâm Cống Bà Xếp xộ khám. Nó đã trầy vẩy hạ tên Năm Mặt Rỗ để lên ngôi xếp sòng 2C2. Nhưng gặp Quyên Tân-định, sau mười lăm phút thượng đài, Tâm Cống Bà Xếp ăn no đòn và tụt xuống thứ đàn em hạng bét.

Quyên Tân-định chiến thắng oai hùng. Ngót một trăm tội nhân tuân lệnh nó răm rắp, nó muốn gì được nấy và coi giám thị tựa mỡ tép. Trong phòng 2C2 có nhiều thằng bị ghép tội du đãng oan uổng. Có nhiều thằng vì bị tình nhân phụ bạc, nổi cơn ghen giết người tình. Những thằng này thường là những thằng hiền, con nhà khá giả. Cha mẹ tiếp tế đủ thứ. Tiền, thuốc lá, giò chả. Muốn yên thân, chúng nó cống hiến Quyên Tân-định hết.

Nghiễm nhiên Quyên Tân-định là vua tù. Nó không thiếu thốn gì cả. Quyên còn để dành được món tiền lớn. Nó hy vọng mãn tù sẽ chơi bời thả cửa. Giám thị thấy nó cai trị nổi bọn đầu trâu mặt ngựa 2C2, cho nó quyền ưu tiên.

Quyên Tân-định nằm lì ở phòng, mặc tụi "nhãi" làm việc. Buổi trưa nó ngủ, hai tên tù ngồi quạt. Buổi tối, nó nằm sấp trên chiếu, dang tay dang chân thoải mái. Năm tên đàn em chia tay, chân và lưng đấm bóp. Khi nó trái ý, nó chửi đánh bọn tù như bố chửi con.

Tháng ngày nối tiếp như thế, thằng này dời 2C2, thằng khác vô. Quyên Tân-định không hề sứt mẻ một chút uy tín. Nguyễn văn Quân đã lạc vào giang sơn của nó.



Buổi sáng hôm đầu Quyên Tân-định chưa thèm hỏi han Quân.

Tối đến, nó tập họp bọn tù. Quyên Tân-định ngồi giữa chiếc chiếu. Bọn tù bu quanh nó. Quyên xoè hai ngón tay đập khẽ lên môi. Thằng tù hầu cận móc túi rút điếu thuốc "Con Mèo" cắm vào môi nó. Thằng tù khác bật diêm cho nó mồi thuốc. Quyên Tân-Định rít một hơi dài, trề cằm, nhả khỏi hít hết bằng mũi. Đoạn nó tròn môi, lấy lưỡi đẩy ra một vòng khói đẹp mắt.

Quyên Tân-định cất tiếng hỏi :

- Thằng mới vô hồi sáng đâu ?

Tên tù hầu cận đáp :

- Thưa đại ca, nó ngồi đằng kia.

Quyên Tân-định hất hàm :

- Kêu nó lại đây !

Tên tù hầu cận tới chỗ Quân ngồi, túm tóc Quân lôi dậy :

- Lại ra mắt đại ca mậy !

Quân khép nép theo tên tù. Nó bảo Quân :

- Nhớ khoanh tay nghe mậy !

Quyên Tân-định ngắm nghía Quân một lát. Bỗng nó phá ra cười. Bọn tù hiểu ý xếp sòng, ôm bụng cười hô hố. Cười chán, Quyên Tân-định "điều tra" Quân :

- Tên mầy là gì ?

- Quân, Nguyễn văn Quân.

Quyên Tân-định búng tay tách một cái. Tên tù hầu cận xun xoe :

- Đại ca dạy em chi ?

- Đ. m. chú mày chỉ dẫn nó cách xưng hô với đàn anh coi.

- Dạ, dạ...

Sau hai tiếng "dạ", một cú quai hàm nẩy lửa tặng Quân. Anh lạng người đi. Tên tù kéo anh lại, dặn dò :

- Đ. m., mày phải thưa đại ca nghe, thằng chó đẻ !

Quân đưa tay chùi vết máu sớt ngang bên mép. Anh gật đầu. Tên tù nói tiếp :

- Đ. m., xin lỗi đại ca đi mậy !

Trận đòn bên ngoài chưa làm Quân lại sức. Quân sợ Quyên Tân-định đánh anh tàn nhẫn hơn. Anh cúi đầu chịu nhục. Quyên Tân-định có vẻ hài lòng. Nó nhìn Quân, huýt sáo. Quân tinh ý lễ phép :

- Thưa đại ca, tôi là Nguyễn văn Quân.

Quyên Tân-định chửi thề :

- Đ. m., xưng em nghe mậy !

- Dạ, dạ...

Nó tiếp tục tra vấn :

- Nhà mày có giàu không ?

Quân khai thật tình :

- Thưa đại ca, em không có gia đình ạ !

- Đ. m. mày nói thiệt hả ?

- Dạ, thưa đại ca, em nói thật.

Quyên Tân-định lại búng tay. Tên tù hầu cận nhảy chồm lên đấm đá. Trận mưa đòn rơi trên thân thể Quân. Quyên tê đi và bớt đau hơn những cú đầu tiên. Bọn tù khuyến khích cuộc khảo đả ầm ĩ. Giám thị ngó vào, làm lơ. Cũng có những tên tù che mặt sợ hãi. Quyên Tân-định ra hiệu ngừng đánh.

Ly cà phê đen sánh đặt trước mặt nó. Quyên Tân-định khuấy đường. Tên tù rút thuốc lá. Quyên Tân-định mồi lừa. Nó hớp từng ngụm cà phê nóng. Quân đứng co ro. Đầu óc rũ rượi. Máu sùi hai bên mép chảy ròng xuống cằm. Đau đớn. Quân cảm thấy mình nhỏ bé, hèn hạ trong phòng 2C2. Anh sợ Quyên Tân-định rồi. Anh muốn lạy nó tha tội cho anh. Anh sắp hóa thành con heo, con heo chết lầy thịt dưới chân của thủ hạ Quyên Tân-định.

Nó vẫn phớt tỉnh. Chợt nó đứng dậy. Nó bưng ly cà phê tới gần Quân. Nó mời Quân uống. Anh nốc một hơi cạn ly. Quyên Tân-định giằng cái ly, đập bể tan tành. Nó bồi một quả trúng rốn Quân. Cà phê dồn lên họng anh, ói ra khỏi miệng. Quyên Tân-định mỉm cười :

- Đ. m., tưởng mày con nhà giầu !

Quân lắp bắp :

- Thưa đại ca, em đói rách lắm, xin đại ca thương tình.

- Hồi đi lính, mày đóng chức gi ?

- Thưa đại ca, em chức lính.

- Đ. m., mày rỡn à !

- Dạ, em là binh nhì ạ !

Quyên Tân-định hét lớn :

- Đ. m., mày quên thưa đại ca rồi. Ba Bệu đánh cho nó nhớ đi mậy !

Tên tù tuân lệnh đại ca của nó, sửa Quân tơi bời. Nó đấm đá liên miên. Cho tới lúc Quân gục xuống sàn, với một dòng máu rỉ ra bên mép.



Quân ở 2C2 đã ngót ba tháng. Sau trận đòn ra mắt Quyên Tân-định, anh được kết nạp làm đàn em của nó. Quyên Tân-định thôi hành hạ Quân. Ngược lại, Quân phục nó như những tên tù khác.

Chiều nay là chiều ba mươi tháng chạp. Còn nửa ngày nữa là tết. Cả phòng 2C2 kéo nhau đi làm "cỏ vê". Tất nhiên giám thị mới của 2C2 xuất thân là tên tù có án nặng. Nó mới nhận chức bữa trước, coi bộ nó rất tàn nhẫn.

Nó chú ý Quân. Con nai tơ đã lọt vào cặp mắt bổ đói. Kinh nghiệm anh chị dạy nó phải hạ một thằng trong đám thủ hạ của Quyên Tân-định để gây vốn thị uy. Ngắm kỹ, nó quyết định chọn Quân thay vì chọn Ba Bệu. Nó hách dịch nói :

- Chúng mày ngừng tay chút xíu đi !

Chỉ mặt Quân, nó hỏi :

- Tên mày là gì ?

- Quân ạ !

Nó nhổ bãi nước miếng :

- Quân hả, quân mắc dịch ! Mày lười quá, đi với tao có chút việc.

Quân tuân lệnh thằng giám thị. Nó đưa anh vào văn phòng của nó, lấy còng khoá chặt tay anh và trổ tài đấm đá. Nó đánh Quân tới tấp. Quân gục. Nó túm tóc lôi lên, vả lia lịa vào mặt anh. Trận đòn ấy khốc liệt hơn trận đòn ra mắt Quyên Tân-định.

Anh đạp nó mấy cú trả đũa. Không thấm tháp gì. Nó càng cáu, càng tin rằng Quân là thứ dữ cần trị tội. Sau mười lăm phút làm thân con chuột để thằng giám thị giương móng vuốt mèo đùa bỡn, nó cởi còng cho Quân và dắt anh ra chỗ đồng bọn. Mặt mày Quân sưng vù. Máu sùi hai bên mép. Thằng giám thị đạp Quân một đạp nữa, Quân quỵ hẳn. Nó chửi bới om sòm.

Ba Bệu nhìn Quân chết lịm. Nó vù vội về báo cáo Quyên Tân-định, mặc kệ thằng giám thị dọa. Quyên đang nằm dài hút thuốc lá, ôn dĩ vãng, vụt dậy. Nó giắt lưỡi dao cạo râu vào cánh tay, lấy dây thun quấn chặt, rồi buông tay áo xuống.

Quyên Tân-định bổ nhào tới phía thủ hạ của mình. Lúc đó, thằng giám thị đương hò hét, thị oai. Quyên Tân-định đến sau lưng nó mà nó không hay, Quyên vỗ tay thằng giám thị. Nó vừa kịp quay lại thì Quyên đã đấm nó một quả trúng mắt và bồi thêm một cái đạp.

Thằng giám thị ngã ngửa. Quyên giẫm chân lên ngực nó, hạch tội :

- Đ. m., mày vừa hạ đàn em tao hả ? Được lắm, tao cho mày nếm đòn Quyên Tân-định ! Mày chưa nghe tiếng cha nội mày, hả thằng chó đẻ ?

Quyên ra lệnh :

- Ba Bệu và Tám Lé khiêng thằng Quân về phòng, Tâm giúp tao một tay.

Tâm Cống Bà Xếp xăn tay áo, dựng đứng thằng giám thị. Quyên Tân-định nhổ toẹt bãi nước miếng giữa mặt nó :

- Đ. m., giám thị, ông nội mày cũng không có ngán. Đ.m., mày dám qua mặt ông. Ông sẽ xài mày như mày đã xài đàn em ông. Mở mắt ra, thằng chó đẻ !

Nó vận dụng hết sức lực, giáng những quả đấm phục thù trên thân thể thằng giám thị. Quyên say sưa trổ đòn. Cho tới khi thằng giám thị ngã xuống bãi cỏ. Bấy giờ, Quvên Tân-định mới móc lưỡi dao cạo râu, rạch mặt thằng giám thị ba vết. Máu tươi ri rỉ chảy. Quyên Tân-định lè lưỡi liếm dao, nghiến răng :

-Đ. m., ông muốn ở đây trọn đời mà ! Mày có ngon thì chơi ông đi. Đ. m., lần sau còn ti toe thì ông xẻo đứt cái tai đa !

Quyên Tân-định lầm lũi về phòng. Mặt trời tắt hẳn. Cả khám biết chuyện Quyên vừa nêu thêm thành tích cho 2C2.

Quân tĩnh một lát rồi lại thiếp đi. Ba Bệu và Tám Lé thay phiên ướp khăn ướt lên mặt Quân. Đến đêm, Quyên mới gượng dậy được. Đèn đóm tắt hết. Tiếng ngáy khò khò của bọn tù đều đặn. Quân khát nước. Quân lồm cồm bò đi kiếm đồ uống, đụng Quyên Tân-định.

Quyên Tân-định lên tiếng :

- Đứa nào đó ?

Giọng Quân yếu ớt :

- Em. Quân đây, đại ca ơi.

Quyên tung mền nhỏm dậy :

- Chú còn đau không ? Kiếm gì đấy ?

- Thưa đại ca, em khát nước quá. Thằng giám thị đấm em hung quá.

- Đ. m., thằng chó đẻ, Anh hạ nó đo ván, rạch mặt nó rửa hận cho chú rồi. Đ.m., chắc anh dám ở đây lâu hơn bạn tù quá, chú ạ ! Cần chó gì. Ai bảo thằng chó đẻ dám hạ chú !

Quyên ân hận :

- Mấy thằng mắc dịch của anh hèn mạt để nó sĩ nhục chú. Nghĩ ức muốn hộc máu. Đ.m., anh thương chú nhất trong bọn. Để anh kiếm nước nghe.

Quyên Tân-định đưa ca nước cho Quân. Anh đỡ lấy, uống ừng ực. Quyên hỏi :

- Chú hút một điếu thuốc đen nhé !

Quyên rút thuốc đặt vào môi Quân. Nó xòe diêm. Ánh lửa từ que diêm tỏa ra một vùng ánh sáng nhỏ. Nhỏ lắm. Nhưng đủ để Quân trông rõ khuôn mặt của Quyên Tân-định.

Quân hít một hơi thuốc thật dài. Khói thuốc bay. Quân nghĩ đến mùi thơm phảng phất trong chất thuốc đắng. Tự nhiên, anh cảm thấy những vết đau lành hẳn. Ngoài trời, dường như mùa xuân đã sang rồi.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 22:24 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
8 . Khúc Rẽ Cuộc Đời


Khoa về huyện Phụ-Dực thăm Vĩnh. Đường số 10 nhan nhản những hầm hố chựa kịp lấp, những nhịp cầu bị phá gục chưạ kịp bắc, những chiếc xe tăng, cam nhông chạm mìn nổ tung nằm phơi xốc bên đường hay văng xuống ruộng. Lâu lắm Khoa mới có dịp đi trên con đường này. Trời tháng tám; nắng còn gay gắt. Đồng ruộng bỏ hoang, cỏ dại chen nhau mọc. Mùi bùn ngai ngái đưa lên. Khoa gò lưng đạp xe, mồ hôi chảy ướt áo, nhễ nhãi mặt. Khoa không cảm thấy mệt. Khoa nghĩ tới lúc gặp Vĩnh. Từ ngày Vĩnh bỏ Hà-Nội trở về quê ngoại, Khoa bặt tin Vĩnh. Khoa vẫn tự hỏi với mẫu người như Vĩnh thì cuộc sống sẽ ra sao ở miền quê heo hút bốn bề giăng giăng bom đạn. Hai năm rồi hai năm thương nhớ. Khoa hằng tin tưởng tâm hồn Vĩnh đã trang trải hơn xưa. Cuộc đời dễ chừng cũng ngưng dậy Vĩnh nhiều bài học se sắt. Khoa tưởng tượng Vĩnh đang cười thầm khi mọi người cười lớn. Ý nghĩ khôi hài ấy làm Khoa phấn khởi. Khoa huýt sáo một điệu hành khúc tiếp nhịp đôi bàn chân.

Đến Vũ-Hạ, đáng lẽ Khoa rẽ lối tắt ra bến đò Hạ sang huyện lỵ cho gần, nghĩ sao Khoa lại đi thẳng. Tới ngã tư Môi, Khoa dừng xe ngơ ngác kiếm tìm. Phong cảnh thay đối cả. Chinh chiến vừa lướt qua để rơi rớt xuống mảnh đất này sự điêu tàn lạnh rợn. Xưởng máy của cụ cả Xưởng xiêu vẹo hẳn lên từng vết đạn bắn nứt rạn tường dầy. Vài quán hàng theo khói lửa ra tro. Cơn gió tha hồ thổi qua, hàng tre, dãy nhà hết án ngữ. Khoa nhìn mãi mới nhận được con đường rải đá lởm chởm dẫn vào huyện lỵ. Con đường nho nhỏ quen thuộc ngày xưa, bà Huyện, chị Hiền, Vĩnh, Bảo và Khoa ngồi trên xe song mã từ huyện ra ngả tư Môi đón ông Huyện ở tỉnh về. Ông Huyện đáp ô tô Thái-Bình - Hải-Phòng. Ông quen đi xe con Thỏ nên bọn Khoa, Vĩnh, Bảo hễ trông thấy xe con Thỏ dừng bến tạm ngã tư Môi là vội vàng đổ xô tới vì thế nào cũng có ông Huyện trong chuyến xe buổi chiều. Rồi người đón đưa vừa khuất bóng, nỗi buồn tìm đến ngay.

Ngã tư Môi vốn đã quạnh hiu, bây giờ hiu quạnh gấp nghìn lần. Mắt Khoa cay cay nắng gió. Khoa thoáng gặp rất mơ hồ chiếc xe con Thỏ chở ông Huyện. chị Hiền, Bảo chạy vào quá khứ ; như khói lửa đưa ngã tư Môi vào kiếp nào xưa. Khói sầu tự nhiên dùn lên, lan tỏa. Khoa để hồn mình bay xa.



Trống trường điểm ba tiếng cộc lốc. Học trò trường huyện ùa vào sân. Từng bọn năm ba người, họ rủ nhau đánh đáo, đánh quan. Lớp sơ đẳng chọn riêng khoảng sân góc trường. Lớp dự bị biết mình yếu đuối tìm chơi phía sau sân. Lớp đồng ấu bé nhỏ, chỉ đứng nhìn đàn anh hằng đôi mắt ngây thơ cảm phục. Ngổ ngáo nhất là học trò lớp nhì một và nhì hai, chiếm hết phần sân trước tranh nhau với các anh lớp nhất. Bọn này lớn tuổi, có anh đã có một vợ hai con nên tỏ vẽ độ lượng, nhường nhịn. Vả chăng các anh cũng hết thích trò đá cầu, đuổi bắt.. Vài anh thơ thẩn đuổi bướm vàng bên bờ dậu. Vài anh bàn chuyện đấu bóng tròn giao hữa giữa Quỳnh-Côi và Phụ-Dực chủ nhật tới. Các anh chăm chỉ thì dọc sách dưới gốc bàng, thỉnh thoảng bứt hoa dâm bụt đặt lên vỗ kêu đôm đốp.

Năm ấy, Khoa học lớp nhì một. Khoa học giỏi nhưng tinh nghịch. Mọi lần Khoa hò hét ầm ĩ, phá đám lung tung. Không biết tại sao hôm nay Khoa đứng im lặng trên thềm nhìn mấy con chim di líu ríu trên cành nâu rồi nhìn ba chị em con quan huyện dưới gốc cây bẻ hoa dứt lá. Không ai đám tới gần ba chị em. Họ tới đâu thì ở đấy lánh xa chỗ khác bàn tán thầm thì. Khoa thấy lòng mình làm sao ấy. Tuy nhiên, Khoa chả mơ tưởng được chơi với con quan.

Khoa nhớ buổi sáng thứ hai bốn tháng trước. Thầy giáo Thanh dồn chỗ học trò. Thầy dành riêng ba bàn đầu. Thầy bảo chỗ của con quan Huyện mới đổi về. Khoảng tám giờ, người lính lệ dẫn hai cậu bé trạc tuổi Khoa vào lớp, hai cậu rụt rè lo ngại. Thầy Thanh ân cần mời hai cậu ngồi bàn đầu. Hai cậu cách biệt đám học trò lớp nhì một bằng hai cái bàn gỗ lim bóng loáng, rắn chắc. Người lính lệ ra khỏi, thầy Thanh bắt đầu dạy. Bài "luân lý" sáng thứ hai là bài "tình nhân loại". Lớp học yên lặng. Thỉnh thoảng hai cậu con quan ngoảnh xuống làm quen, biên giới bàn lim chắn lối. Đôi bận có người gặp đôi mắt quý phái nhìn mình, và nụ cười thì lại tưởng đôi mắt ấy vừa thu một hình ảnh ngô nghê của học trò trường Huyện và nụ cười kia là vẻ chế diễu, nên giả vờ cúi mặt.

Tháng thứ nhất, tháng thứ hai, tháng thứ ba, tháng thứ tư bình thản trôi đi. Chưa ai biết tên con quan huyện kể cả chị học lớp nhất. Ba chị em cô độc. Chị học lớp nhất ưa mặc áo dài xanh lam còn hai cậu em mặc âu phục trái với Khoa và các bạn Khoa mặc áo dài thâm quần chúc bâu trắng. Khoa ở phố huyện đối diện dinh quan. Chiều chiều con quan ra phố chơi, đôi lần ghé vào hàng nhà Khoa mua vài thứ lặt vặt. Những lần như thế, Khoa chạy đi núp, len lén nhìn thấy cha mẹ lễ phép chào mời. Khoa lại càng tin rằng con quan ghê lắm. Trong lòng Khoa đâm chồi thù ghét ngấm ngầm tuy Khoa rất sợ hải. Dần dần Khoa hối hận về sự hiềm tị vô cớ của mình. Con quan huyện có làm gì Khoa đâu. Ở nhà hồi bé bỏng, bà Khoa hay kể cho Khoa nghe chuyện Tấm Cám. Khoa thương con Tấm cô độc, lủi thủi một mình chả ai chơi với, lại còn bị mẹ con con Cám hất hủi nữa. Khoa ngây thơ dám ví con quan như Tấm trong trường huyện. Vì thoang thoáng Khoa biết nhiều học trò ưa kể xấu con quan, nào là học dốt mà cũng nhất, nhì... Thoạt đầu Khoa cũng vào hùa, sau Khoa im lặng cho đến hôm nay. Khoa bỏ chơi đứng ngắm con quan. Và Khoa bỗng có cảm tình với chị học lớp nhất. Cảm tình thầm kín ấy Khoa không dám giãi tỏ. Khoa chỉ rình lúc giờ ra chơi ngắm trộm chị em con quan.

Trống trường lại điểm ba tiếng cộc lốc. Khoa chạy vụt xuống sắp hàng vào lớp.



Thầy Thanh nghiêm giọng nói :

- Lát nữa quan huyện đến thăm trường, các con phải tỏ ra lễ phép nhé ! Dở sách ra, trang... bài... Sáng nay tập đọc thay cho cách trí.

Học trò cậu nào cậu ấy xanh mặt sợ hãi, hồi hộp đợi chờ. Mãi tới 8 giờ quan huyện mới tới. Cả lớp đứng dậy. Quan vẫy tay cho ngồi xuống. Quan khuyên nhủ vài lời, rồi quan hỏi thầy giáo xem ai giỏi nhất lớp. Thầy giáo chỉ tay về phía Khoa. Quan huyện mỉm cười lấy tay ra hiệu

Khoa nhỏm lên như cải lò xo. Quan nói tiếng Việt, khác với quan cữ và khác cả với ông thanh tra thích nói tiếng pháp. Giọng quan hiền hậu. làm Khoa đỡ run :

- Tên con là gì ?

- Dạ, thưa quan lớn tên con là Khoa,

- Tốt lắm, con ở đâu ?

- Thưa, con ở phố huyện.

- Cha mẹ con làm gì ?

- Thưa quan lớn cha mẹ con buôn bán.

- Giờ này con học bài nào ?

- Thưa quan lớn, tập đọc ạ !

- Con đọc cho ta nghe.

Khoa thong thả đọc bài "Cái thú nhà quê và cái thú kẻ chợ". Hết bài, quan huyện hỏi :

- Con thích ở nhà quê hay ở tỉnh ?

- Thưa quan lớn con thích ở nhà quê.

- Tại sao thế ?

- Thưa quan lởn vì ở nhà quê mát mẻ, không khí trong sạch, nhiều ao hồ bơi lội, và câu cá...

Quan gật đầu hải lòng. Quan hỏi tiếng Pháp với thầy giáo :

- II est très intelligent. Donnez-lui 9 points, monsieur.

Quan huyện hỏi vài người nữa. Quan nhìn hai cậu quý tử. Quan có vẻ bất mãn điều chi. Khi tiễn quan ra khỏi lớp, quan nói chuyện nhỏ vợi thầy giáo, thầy gật đầu vâng dạ.

Sau ngày đó học trò ngồi lại. Thầy giáo dồn chỗ lên hai bàn trống, thầy bảo Khoa ngồi cạnh con quan. Mấy bữa đầu ngượng ngàng bẽn lẽn chả biết làm quen thế nào, Khoa đành cầm lặng. Đến hôm thi vẽ, Khoa để quên bút chì ở nhà, được con quan cho mượn và tiện dịp con quan bắt chuvện Khoa. Tên hai cậu là Vĩnh và Bảo. Vĩnh là anh Bảo, tính tình điềm đạm, dễ yêu.

Vĩnh, Bảo quấn quít lấy Khoa. Giờ ra chơi hai cậu lôi Khoa ra khoe với chị Hiền. Chị Hiền dịu dàng hỏi Khoa, vuốt ve Khoa và chị cho Khoa tiền. Khoa không lấy. Khoa thành bạn thân cua Vĩnh, Bảo. Sự mong ước đã hiện hình nhưng Khoa mất bạn cũ. Buổi sáng Khoa không được kéo cờ, đánh trống. Thầy Thanh nhường vinh hạnh ấy cho bạn Khoa. Cái phức tạp của cuộc đời bắt nguồn trong mạch sống vô tư. Những giờ ra chợi Khoa lủi thủi góc sân hay dưới gốc ngâu. Hôm nào Vĩnh, Bảo nghỉ học, Khoa lẻn xuống nhà ông tùy phái ngồi khóc. Sự lẻ loi của Khoa có duyên cớ. Khoa luôn luôn bên cạnh con quan, bạn bè ai dám chơi với Khoa nữa. Khoa hực mình. Khọa đau khổ. Chẳng hiểu tại sao người ta cứ tìm cách xa lánh nhau, Vĩnh, Bảo chị Hiền đều còn nhỏ, đều muốn nhập vào niềm vui của đám đông. Đám đông từ chối, đám đông khép cửa tình cảm như tên phù thủy lấp hang nhốt Aladin.

Bây giờ Khoa không thả diều cùng bọn thằng Vọng. Không đi câu cá cùng bọn thằng Cung, không đi bắn chim cùng bọn thằng Vũ, không đi bơi lội cùng bọn thằng Căn. Chúng nó chế riễu Khoa. Khoa muốn khóc mỗi lần nghe chúng nói : "Thấy người sang bắt quàng làm họ". Khoa rơi trong sự cô độc chả khác chi Vĩnh, Bảo dạo nọ. Khoa chưa biết oán hờn nhưng Khoa buồn, buồn ở tuổi non dại. Khoa bỗng trở thành đứa ít nói, hay nghi ngờ và nhút nhát. Khoa đem chuyện bạn bè bỏ rơi kể với chị Hiền. Chị Hiền an ủi :

- Thì Khoa vào dinh chơi với Vĩnh, Bảo. Cần gì chúng nó.

Khoa ngần ngại nghe chị Hiền nói thế. Khoa vẫn cần bạn cũ. Thiếu chúng nó Khoa trống trải, cuộc đời thơ ấu nhạt nhẽo làm sao. Hai ba tuần, Khoa nằm Iì xó nhà, mong bọn thằng Vọng hiểu dùm là Khoa thích chúng nó hơn con quan. Đến trường, Khoa lẩn trốn Vĩnh, Bảo, tìm bọn thằng Thuận, song chúng nó hắt hủi Khoa, chúng nó định đánh Khoa nếu thầy giáo không bắt gặp. Rồi buồn quá Khoa phải vào dinh quan huyện nô đùa với Vĩnh, Bảo.

Chiều chiều, Khoa, Vĩnh và Bảo trèo lên chòi huyện xem người lính lệ đánh trống thu không. Tiếng trống từng tiếng một hòa cùng chuông chùa ngân nga trong nắng vắng úa sao mà cảm súc thế ! Khoa đứng bâng khuâng nhìn xuống huyện lỵ nghèo nàn. Những mái nhà lợp rạ nhuộm màn hoàng hôn, âm thầm chờ đêm tối. Đó đây có nhà đã thắp đèn. Vẻ âm u của huyện nhỏ rờn rợn tiếng chim bìm bịp kêu quanh thành chằng chịt giây bìm già. Ở đây trầm lặng. Nửa tháng mới có chuyến ô tô hàng già nua từ thị xã Thái-Bình sang Ninh-Giang. Xe thở phò phò như người hen, bóp còi inh ỏi mỗi khi qua huyện. Thỉnh thoảng xe bị chết máy ngay giữa phố. Tài, ét thay phiên nhau quay quay ma-ni-ven. Thường thường phải ngủ trọ một đêm. Sáng hôm sau lại ỳ ạch lên đường. Những lần xe qua huyện, trẻ con, đàn bà đổ xô ra cửa đợi chờ. Xe lướt ngang, anh ét lẳng lơ vẫy tay, điểm nụ cười. Dân phố cũng cười nhìn theo niềm vui mất hút trong bụi đường mù mịt. Sự tĩch mịch về chỗ cũ. Khoa lớn lên ở đấy, buôn ở đấy, tuy tháng năm thơ mộng chưa đáng buồn và bên bờ dậu bìm rất nhiều bươm bướm mùa xuân.

Khoa hay rủ Vĩnh, Bảo, chị Hiền ra cánh đồng ngoài huyện. Những hôm trời ốm yếu, mặt trời đắp chăn mây u ám, xa xa dẩy núi phía Kiến-An hiện rõ hình con voi phủ phục mờ mờ trong sương. Chị Hiền hỏi :

- Núi Voi ở Kiến-An hở Khoa ?

- Chính ra Hòa-Bình chị ạ ! Nhưng núi Voi Kiến-An rõ hình con voi hơn. Hàng năm có hội vui đáo để.

- Hội gì đấy Khoa ?

- Em cũng chả biết, mẹ em nói thế, mẹ em đã đi hội núi Voi vài lần.

- Khoa hiểu nhiều nhỉ, quê mẹ chị ở đây mà chị có biết gì đâu. Nhà bà ngoại chị gần... gần chỗ nào Vĩnh nhĩ ?

- Để về hỏi mẹ, em quên rồi...

- Núi Voi phục còn gì lạ không Khoa ?

- Còn sữa mẹ chị ạ !

- Thật à ?

Vâng. Trong núi có một cái hang chúc từ trên cao xuống mỏm đá hình vú mẹ. Nước từ khe nào nhỏ giọt không ai biết. Khách thập phương hứng lấy uống gọi là sữa mẹ. Được uống sữa ấy sẽ gặp nhiều điềm lành.

Vĩnh lắng tai chăm chú, Bảo thả mắt rõi theo những chiếc xe tay chạy cách nhau trên đường Ninh-Giang. Những chiếc xe nhỏ dần, vun vút mơ hồ như thời nào xa xôi lắm. Dạo ấy tâm hồn Khoa đã chớm mầm mơ mộng. Khoa dám thơ thẩn một mình giữa đồng không mông quạnh nghe gió heo mày giải nhẹ trên thảm lúa xanh rì. Khoa đọc sách báo say sưa. Những nhân vật tiểu thuvết ám ảnh Khoa, dệt quanh vành mắt Khoa hình ảnh tươi đẹp mai hậu. Khoa cũng hay lang thang nẻo phố vắng, dừng chân nói vài câu với ông ký nhà giây thép rồi về nằm suy nghĩ bâng quơ. Trước, Khoa ăn no ngủ kỹ, Khoa có biết buồn là gì đâu. Từ ngày Vĩnh, Bảo đi vào đời Khoa, rồi bạn học ghét bỏ Khoa. Khoa thấy đau đớn và Khoa đổi tâm tính. Ở sự thay đổi xanh chua, Vĩnh, Bảo nhất là chị Hiền phả vào lòng Khoa từng điệu nhạc yêu thương êm ái.

Khoa nhớ rõ một chuyện cảm động đến chết. Một buổi trên đường về học, thằng Văn gây sự đánh Khoa, Khoa nhường. Được thế Văn càng sỉ nhục. Tức quá, Khoa đấm nó sưng mắt. Thằng Văn là con ông cai Trá. Bố nó làm bộ lắm. Phổ huyện ai cũng nể. Bố nó lại hay xoay tiền. Khoa sợ hãi bỏ cơm sáng đó. Quả nhiên, đến chiều ông cai Trá dẫn thằng Văn ra bắt đền. Ông ta dọa sẽ trình quan bỏ tù cha Khoa. Mẹ Khoa khóc lóc van lạy. Ông ta còn nói gì ghê gớm nữa. Khoa nghe chẳng hiểu kịp nhưng cha Khoa tái mặt. Cha Khoa xin lỗi, xin đền tiền, ông cai Trá từ chối, đe dọa :

- Anh tưởng con anh chơi với con quan à ? Tôi sẽ trình quan xử tội của anh, cứ gọi là rũ tù.

Xong, ông cai Trá bỏ về. Mẹ Khoa lôi Khoa ra đánh. Đánh xong, phần thương con, phần nghĩ tới ngày mai đen tối, mẹ Khoa nằm lăn trên giường khóc sướt mướt. Cha Khoa ngồi im lặng thở dài. Khoa hối hận. Giá Khoa đừng đánh thằng Văn, Khoa tưởng tượng lính huyện trói tay cha Khoa lôi vào ngục. Mẹ con Khoa sẽ đói rách. Khoa sẽ phải bỏ học, sẽ dốt nát ngu si. Khoa nghĩ tới Vĩnh, Bảo, chị Hiền, ánh hy vọng lóe lên rồi tắt ngay vì âm hưởng rờn rợn lời ông cai Trá còn văng vẳng đâu đây. Khoa úp mặt vào tay nức nở...

Sáng sau Khoa ở nhà. Tan học, Vĩnh, Bảo chị Hiền tưởng Khoa ốm ghé vào thăm, cảnh tượng tiêu điều của gia đình Khoa làm chị Hiền ngạc nhiên. Chị hỏi nguyên cớ. Khoa chỉ khóc. Mãi rồi mẹ Khoa mới kể lại. Mắt mẹ Khoa đẫm lệ. Chị Hiền nghe chuyện, mặt chị biến sắc. Chị có vẻ giận dữ.

- Không sợ đâu, Khoa bảo mẹ đừng khóc nữa.

- Thằng cai Trá hỗn láo thế cơ mà ? Vĩnh nói, để bảo ba đuổi cổ nó đi, cho nó vào tù.

Bảo đến gần an ủi bạn :

- Vì thế Khoa nghỉ học hả ? Chiều đi nhé ! Đi xe với Bảo thì chúng nó hết bắt nạt.

Khoa vẫn khóc, chị Hiền dục em về ngay. Lát sau chị Hiền trở ra, có cả ông cai Trá và thằng Văn nữa. Ông cai Trá xin lỗi cha mẹ Khoa. Ông vờ vĩnh bảo vì không hiểu chuyện. Hôm sau ông ta bị đổi về huyện Thư-Trì xa lơ-xa lắc. Khoa lại đi học. Bảo đứng giữa sân trường nói lớn :

- Đứa nào bắt nạt Khoa, tao bảo lính đánh chết.

Chị Hiền mắng Bảo cái tội ngông nghênh. Vĩnh nắm tay dơ lến đe dọa cả trường, học trò trường huyện im thin thít. Khoa sung sướng lịm người, chẳng ai dám trêu Khoa. Lúc này Khoa đi học, về học chung xe với chị em Vĩnh. Cha Khoa cứ khen mãi chị Hiền. Chuyện lan khắp huyện. Mọi người bắt đầu nhận xét và đều suýt soa quan huyện mới tốt, công bình, thanh liêm...

Tự đấy sợi giây luyến ái ràng buộc Khoa với ba người. Khoa ăn ngủ trong huyện, ít khi về nhà. Ông bà huyện thương Khoa, chị Hiền mến Khoa. Những buổi tối học xong, chị Hiền hay đùa :

- Khoa giỏi thế ít nữa làm quan như ba chị, khối người muốn lấy.

Khoa ngây thơ :

- Lấy gì cơ chị ?

- Lấy làm chồng chứ lấy gì, cậu cả.

Khoa xấu hổ :

- Em, em chịu thôi. Em không thích làm quan.

- Sao thế ?

- Làm quan khó nhọc lắm chị ạ ! Lại nhiều người sợ mình nữa.

- Lớn lên em định làm nghề gì ?

- Em muốn viết văn.

- À, mộng văn sĩ hở, thảo nào giỏi luận. Thử tả nắng chiều chị nghe nào.

- Nắng chiều khó tính như ông cai Trá đe dọa loài người ta vào đêm tối như đe dọa cha em vào tù.

Chị Hiền phá lên cười. Ông huyện khen Khoa khôi hài dí dỏm. Bà huyện cứ tiếc không có con gái út. Vĩnh được thể khoe :

- Khoa làm thơ đấy me ạ !

Bảo đưa đẩy :

- Khoa kể chuyện hay lắm cơ ba ạ ! Khoa kể chuyện giọt lệ tím của nàng tiên đi Khoa.

Chị Hiền nói :

- Thôi đừng trêu cậu cả nữa, sắp đỏ mặt bây giờ ...

Khoa đỏ mặt thật, Khoa nghĩ nhiều về chị Hiền. Khoa định hỏi tại sao chị thích mặc áo xanh lam. Chị Hiền lớn rồi. Bằng tuổi chị vô số cô đi lấy chồng mà chi vẫn đi học. Khoa sực nhớ ở cái huyện Iỵ tồi tàn này thì ai dám ước mơ chị Hiền. Dạo tết, quan huyện Quỳnh-Côi sang chơi mang theo cả cậu con trai, Vĩnh thì thầm anh ta học tú tài muốn lấy chị Hiền nhưng chị Hiền chê anh ta xấu trai. Tội nghiệp chị, nơi nghèo nàn còm cõi này dễ gì đã nương nổi mộng ước của chị. Khoa đã thấy mối sầu đau nghiến các cô gái lớn lên tháng năm đợi chờ bóng người lý tưởng rồi thời gian làm tàn phai mộng ước. Đấy là những cô gái trong tiểu thuyết Khoa đọc, khi về già ngồi bên song nhìn nắng vàng nhỏ giọt buổi chiều. Biết đâu chị Hiền chả ngồi trên chòi canh nghe trống thu không não ruột mà tưởng tượng chuyện đời. Khoa chưa biết ngắm con gái. Nghe mẹ nói chị Hiền đẹp thì cũng bảo chị đẹp. Mà chị Hiền đẹp thật. Vẻ đẹp của chị bao trùm tâm hồn Khoa chuỗi ngày lạc loài ở huyện Phụ-Dực.

Khoa có bao nhiêu kỷ niệm gửi trong mắt chị Hiền, trong nụ cười Vĩnh, Bảo. Kỷ niệm tha thiết in hình vào miếng nắng, vào hàng cây, vào viên gạch huyện đường. Trọn đời, Khoa sẽ nhớ những buổi câu cá dưới gốc cây si nghe chị Hiền kể chuyện ma. Khoa sẽ nhớ bánh rán Ninh-Giang mỗi bận chị Hiền qua đấy mua về. Khoa cũng không thể nào quên được mảnh áo len tím chị Hiền đan tặng nhân mùa lạnh, và nhất, là tình thương mến chị Hiền trao Khoa. Người mẹ mớm cơm cho con mau lớn như chị Hiền mớm tình cảm cho Khoa chóng biết mơ mộng. Khoa mong ước sau này Khoa bước xuống cuộc đời gặp nhiều chị Hiền để ông cai Trá khỏi nhốt tình thương trong ngục tối. Và Khoa đâm ra ích kỷ, Khoa cầu nguyện đất trời cứ thế này mãi mãi. Chị Hiền đừng đi lấy chồng. Chị đi lấy chồng thì chị đem cả hành lý yêu thương theo chồng làm gì còn thừa cho Vĩnh, Bảo, Khoa nữa.

Nhưng rồi chị Hiền cũng đi. Đầu mùa hè năm sau, ông Huyện đổi sang tỉnh khác. Ông Huyện đi, cả huyện Phụ-Dực nuối tiếc. Khoa được tin buồn không ăn, đứng ngồi không yên. Khoa biết chả bao giờ còn những buổi chiều ngồi xe song mã với bà Huyện, chị Hiền, Vĩnh và Bảo trên đường từ huyện lỵ tới ngã tư Môi đón ông Huyện về chuyến xe con Thỏ nữa. Những người bạn tốt bỏ Khoa sống cô độc ở đất cũ, âm thầm như mái nhà lợp rạ nhuộm mầu hoàng hôn chờ đêm tối. Hôm tiễn chân gia đình ông Huyện, chị Hiền tặng Khoa bức ảnh chị chụp dưới giàn hoa thiên lý. Khoa đón nhận rưng rưng nước mắt. Vĩnh và Bảo ôm lấy Khoa nức nở. Bà Huyện cho Khoa tiền. Khoa lắc đầu chỉ xin cái áo len xanh lam của Vĩnh để nhớ mầu áo chị Hiền. Lúc biệt ly không nói được nhiều. Khoa tặng chị Hiền quyển vở luận trong ấy toàn những bài Khoa được tám điểm. Chuyến xe già nua chở gia đình quan huyện giã từ huyện ly nghèo nàn. Khoa nhìn kỷ niệm lướt dần. Xe mất hút trong bụi đường mù mịt.

Khoa chạy theo, bào tay có vẫy nhau, không ai trông thấy gì.



Khoa đến lớp côi cút. Bàn đầu còn một mình. Bạn học lảnh đạm, thầy giáo hết yêu. Vĩnh, Bảo xa rồi, sự cô độc xâm chiếm hồn Khoa. Khoa càng nhớ chị Hiền. Cha Khoa chừng cũng sợ ông cai Trá nào đó nên bàn với mẹ Khoa đi nơi khác. Ba tháng sau khi quan huyện đổi sang Nam-Định, gia đinh Khoa về quê cũ huyện Vũ-Tiên. Khoa chẳng biết địa chỉ của Vĩnh để viết thư. Chắc chị Hiền đã gửi thư cho Khoa về Phụ-Dực.

Khoa học ở thị xã Thái-Bình, trọ nhà chú thím. Thị xã vui nhưng không thấy núi Voi Kiến-An mỗi lần trời trổ bệnh. Học trò tỉnh ưa mặc áo trắng. Khoa chưa gặp cô nào có áo xanh lam như của chị Hiền. Tháng ngày nối tiếp trôi. Qua năm học lớp nhì hai, Khoa lên lớp nhất, sắp thi cử thì đảo chính Nhật. Rối loạn mãi cho đến cách mạng tháng tám, rồi toàn quốc kháng chiến. Thị xã được lệnh tiêu thổ. Khoa về làng bên bờ Bông Trà-Lý cuốc bộ mỗi ngày 15 cây số đi học. Khoa vẫn nhớ chị Hiền, Vĩnh, Bảo.

Ngày cách mạng nổi lên, vô số quan huyện bị đem ra xử tử. Không biết ba chị Hiền có việc gì không. Khoa tưởng tượng tới lúc người ta bịt mắt quan huyện lại rồi người ta bắn. Bắn chưa chết người ta đến gần kề súng vào tai bắn thêm vài phát nữa. Máu óc phọt ra ghê rợn. Khoa đã được xem xử tử tên Ban việt gian, tay sai cho phát xít Nhật ở cổng Vọng-Cung. Nghĩ mà sợ.

Lang thang ngoài hậu phương mãi tới độ Pháp chiếm Thái-Bình, gia đình Khoa về tề. Sự học dang dở, hoàn cảnh túng bần. Khoa lên Hà- Nội trông coi cửa hiệu giúp đỡ người bà con để có cơm áo học thêm. Khoa học trường Chu văn An buổi sáng, buổi chiều ngồi bán hàng. Một hôm tình cờ Khoa gặp Vĩnh tha thẩn ở bờ hồ. Vĩnh già dặn hơn hồi xưa nhưng Vĩnh buồn ghê gớm. Khoa gọi Vĩnh, Vĩnh giật mình quay lại. Nhận ra Khoa, Vĩnh bỡ ngỡ. Sự ngần ngại thoáng hiện trên mặt Vĩnh, Khoa biết rõ tại sao. Thời gian thường làm người ta nghi ngờ cả tình cảm. Không đợi Vĩnh chào hỏi, Khoa dang tay ôm chặt lấy Vĩnh, mừng rỡ.

Khoa rủ Vĩnh tới quán mụ Béo ngồi tâm sự. Vĩnh thuật chuyện gia đình Vĩnh từ khi đổi sang Nam-Định. Vĩnh nhớ Khoa. Chị Hiền, Bảo nhắc Khoa luôn. Năm cách mạng cha Vĩnh bị bọn người quá khích phá cổng huyện đường xông vào đâm chết. Hôm sau mới có lệnh khoan hồng gửi về. Cha Vĩnh chết oan. Bảo mắc bệnh thương hàn chữa mãi không khỏi. Bảo chết trước cha nửa năm. Chị Hiền đã lấy chồng. Chồng chị là sinh viên trường luật. Ngày khói lửa lan tràn, chồng chị gia nhập bộ đội chống Pháp. Chị Hiền bị Tây bắt trong trận hành quân qua làng, bọn lê dương thay phiên hãm hiếp chị đến chết. Chiến tranh tàn phá đời chị. Vĩnh và bà Huyện chạy mãi, rồi loạn ly đưa mẹ con về quê ngoại Phụ-Dực. Me Vĩnh bây giờ như người hết hồn, mắt bà bị lòa. Bà gửi Vĩnh sống với chú để Vĩnh học hành. Vĩnh kể nhiều lắrn, giọng Vĩnh sầu thảm. Những hình ảnh chính, Khoa vừa chụp. Ghê rợn. Khó mả tưởng tượng. Cõi đời nhiều khúc rẽ tàn nhẫn. Câu cuối cùng chuyện nhà, Vĩnh nói :

- Phải chứng kiến lưởi kiếm đâm từ ngực xuyên qua lưng ba Vĩnh. Phải thấy ba Vĩnh dẫy dựa trên vũng máu, Phải thấy me Vĩnh chết ngất trên thây ba. Phải thấy xác chị Hiền trần truồng. Phải thấy mắt chị trợn trừng uất hận mới hiểu cách mạng và chiến tranh. Tại sao những người hiền lành lại phải chết khốn nạn thế nhỉ ?

Khoa cảm động nắm tay Vĩnh, an ủi. Vĩnh cười khinh bạc :

- Xong rồi. Vĩnh lớn ở đây nhưng Vĩnh chả làm gì được đâu. Cuộc sống sao không chỉ có Khoa ? Tội nghiệp ba Vĩnh, chị Hiền.

Khoa im lặng nhìn sự đau khổ xếp tầng trên trán Vĩnh. Ngày xưa hoa bướm nhởn nhơ quanh dậu bìm. Hoa ngày nay kết trái chua chát, bướm hóa thành con sâu buồn đục tim phổi hai người trai trẻ. Ngồi mấy tiếng nhìn xuống đáy cốc tìm dĩ vãng. Chuông nhà thờ đổ dồn. Vĩnh dìu Khoa ra đường. Hai người đi bộ hết phố này sang phố khác. Nửa đêm Khoa đưa Vĩnh về nhà Vĩnh. Khoa ghi địa chỉ trao Vĩnh hẹn Vĩnh lại chơi luôn. Lúc chia tay Vĩnh hỏi :

- Còn nhớ Phụ-Dực không ?

- Còn.

- Nhớ nhất cái gì ?

- Cái lão cai Trá.

- Gì nữa ?

- Áo mầu xanh lam của chị Hiền.

- Gì nữa ?

- Nụ cười của Bảo.

- Gì nữa ?

- Con ma ở cây si.

- Hôm nào ôn hết chuyện ngày xưa nhé ?

- Ừ, hôm nào nhắc lại một thể.



Vĩnh đến tìm Khoa một buổi chiều. Trời lạnh gay gắt. Vĩnh mặc tấm áo mỏng manh. Nét mặt Vĩnh thiểu nảo. Vĩnh móc túi đưa Khoa xem lá thư viết bằng giấy học trò.

- Thư của me Vĩnh đấy, xem đi. Me Vĩnh biết Vĩnh gặp Khoa rồi. Vĩnh có nói với me, me nhờ người viết đấy Khoa ạ !

Khoa đọc nhanh. Trong thư bà Huyện muốn Vĩnh về huyện Phụ-Dực ngay. Bà sợ mình già nua rồi, nhỡ mệnh hộ nào thì khổ thân Vĩnh. Bà Huyện hỏi thăm Khoa. Khoa nao nao tâm hồn.

- Vĩnh định sao ?

- Phải về.

- Vì me à ? Sao Vĩnh không..

- Không gì, họ bắt me Vĩnh làm thế đấy.

- Ai ?

- Những người đã giết ba Vĩnh.

- Phụ-Dực là khu chiếm đóng mà.

- Đêm đêm họ vẫn về thu thóc và làm nhiều việc khác.

- Vĩnh trở lại Phụ-Dực được ích lợi gì ?

- Về đi cầy.

- Không được học à ?

- Có lẽ.

- Vĩnh chẳng về có sao ?

- Khổ me Vĩnh.

- Vĩnh còn trẻ, còn tương lai...

- Khó lắm, sau này sẵn dịp Vĩnh giãi bầy cho Khoa hay.

- Bao giờ Vĩnh bỏ Hà-Nội ?

- Mai, sáng mai. Mong xe gặp mìn !

- Nói dại, tối nay đi chơi nhé !

- Thôi.

- Tại sao ?

- Tội nghiệp, đừng bắt Vĩnh giải thích, Vĩnh xin phép về. Chúng ta chia tay ngay bây giờ. Chúc Khoa gặp nhiều may mắn.

- Chúc Vĩnh ...

- Thôi đủ rồi...

Vĩnh buông tay Khoa, chạy xuống đường gọi xích lô. Khoa nhìn theo. Cay đắng. Rồi vắng bặt tin Vĩnh. Hai năm liền, Vĩnh chưa gửi một lá thư nào. Cho đến hôm nay thanh bình đã trở lại và Khoa cũng trở lại đất xưa tìm người cũ. Chuyến xe con Thỏ vụt qua trong tâm tưởng. Khói sầu muốn bay lên cao quyện lấy linh hồn ông Huyện, chị Hiền, Bảo. Khoa để lòng mình về gần Vĩnh...



Phố huyện bây giờ khác lạ. Hàng rào giây thép gai thay bờ dậu bìm. Những con bìm bịp đi đâu rồi. Một vài chòi canh hở ra lỗ châu mai bốn phía. Súng đạn khạc lửa đã nhiều. Sự sợ hãi còn in trên nét mặt người dân miền Phụ-Dực. Niềm vui cuồng loạn lúc này chưa xua đuổi kịp nỗi lo âu vừa mất hút. Khoa nóng lòng gặp Vĩnh nên không cần nhận xét kỹ cảnh dâu biển của huyện lỵ tồi tàn.

Khoa men theo con đường nhỏ lát gạch tới nhà Vĩnh. Khoa dựng xe trước cửa ngôi nhà ngói vẹo xiêu, tường nóc nát đầy vết đạn. Con chó già thấy khách lạ lười biếng sủa. Người đàn ông trong sân chạy ra. Khoa nói với ông ta muốn tìm Vĩnh. Ông ta đưa Khoa vào trình bà Huyện. Bà Huyện nằm trên võng. Tóc bà bạc phơ. Đúng như Vĩnh nói, bà đã lòa vì khóc ròng rã tháng ngày tự lúc mũi kiếm oan nghiệt đâm thấu tim ông Huyện. Tiếng bà Huyện ai oán :

- Ai đấy ?

- Thưa bà cháu ạ ! Khoa đây ạ !

- Khoa à !

- Vâng ạ, cháu về thăm bà và anh Vĩnh.

- Cháu lại đây. Gớm, dễ gần tám chín năm rồi đấy nhỉ ?

- Vâng ạ, chín năm rồi.

- Cháu còn nhớ cả chứ, nghĩ mà tiếc cháu nhỉ ?

- Vâng ạ !

- Giá còn... Cháu lại đây, lại gần đây.

Khoa bước dần tới võng. Bà Huyện dơ tay ra quờ quạng. Đôi bàn tay ấy có lần đã vuốt ve Khoa, đã làm cho Khoa sung sướng. Khoa ái ngại đặt bàn tay sần sùi cơm áo của mình vào bàn tay khổ nhục. Khoa muốn dồn hết tình thương nỗi nhớ mong sưởi ấm bà Huyện. Nước mắt Khoa nhỏ giọt trên cánh tay già. Bà Huyện nắm được tay Khoa, bà đặt lên mũi thơm tho rồi bà kéo Khoa ngồi xuống, bà ôm chặt Khoa, rên xiết. Khi buông Khoa ra, bà Huyện âu yếm hỏi :

- Cháu ở đâu về ?

- Cháu ở thị xã ạ !

- Cháu gặp Vĩnh chưa ?

- Thưa bà chưa ạ !

- Đê bảo anh Thái đưa cháu ra với Vĩnh, anh Thái ơi, dẫn cậu Khoa ra đồng tìm chú Vĩnh. Chốc cháu về ăn cơm nhé !

- Vâng ạ !

Khoa theo người đàn ông lúc nãy ra đồng, nơi thủa nọ chị Hiền, Khoa, Vĩnh và Bảo thường đứng ngắm dãy núi Voi phục mờ mờ phía trời Kiến-An. Anh Thái chỉ túp lều dựng cạnh bờ ngòi :

- Chú Vĩnh ở trong ấy.

- Thôi, anh về đi, để tôi ra một mình.

Khoa lững thững bước nhẹ. Vĩnh quay lưng về phía Khoa nên không biết Khoa đang tiến đến. Khoa dừng lại nhìn cảnh tượng thắt ruột. Vĩnh ngồi trên mảnh đất cao, cởi trần, mặc quần đùi đen. Da dẻ sạm nắng. Thân hình gầy ốm. Đầu Vĩnh, dưới miếng nón mê lót cái lá sen to tướng trùm cả tai. Tay trái đưa ra sau lưng gải mụn muỗi đốt. Tay phải cầm cái gậy dài, trên ngọn buộc chùm lá chuối khô xé nhỏ. Vĩnh ngồi chăn vịt ! Trước mặt Vĩnh, đàn vịt kêu càng cạc chúc xuống nước mò tôm ốc. Khoa đau đớn nghĩ đến Vĩnh trải lòng mình làm đường rầy cho chuyến tầu thời đại nặng oán hờn nghiến lên. Một thời gian xa lắm, cũng ở nơi này, cậu Vĩnh con quan thả tầm mắt đón nhận tương lai. Vĩnh không mơ quan sang. Vĩnh ước viết sử như Khoa ước thành văn sĩ. Chao ôi ! Trang đầu lịch sử của đời Vĩnh đã ghi chép những dòng máu lệ tủi nhục. Khoa cúi xuống. Dưới chân Khoa là vực thẳm. Khoa nhìn lên. Trên đầu Khoa là trời cao. Trời cao vực thẳm câm nín như Vĩnh câm nín trước tầm mắt Khoa. Khoa lên tiếng :

- Này gả chăn vịt.

Giật mình, Vĩnh quay lại. Nhận ra Khoa, Vĩnh sung sướng chạy tới ôm chầm lấy bạn. Tự nhiên, Khoa tưởng như sắp mất Vĩnh, mắt Khoa rơm rớm lệ, nắm lấy Vĩnh không muốn rời tay. Nghẹn ngào, Khoa hỏi bạn :

- Chăn vịt thi đua hả ?

- Không, chăn vịt để sống.

Rồi chợt nhớ cảnh sống hiện tại, Vĩnh mỉa mai nói :

- Ở đây muốn sống yên thân phải dấu kín tình cảm Khoa ạ !

- Biết rồi.

- Thế thì Khoa buông Vĩnh ra ngay. Xuống bao giờ thế ?

- Vừa xong. Sao Vĩnh không viết thư cho Khoa ?

- Tưởng Vĩnh chết rồi à ? Ai đưa Khoa ra đây thế ?

- Anh Thái.

- Thăm me Vĩnh rồi hả ?

- Ừ, tiếc nhớ nhiều quá, Khoa muốn khóc như ngày xưa chúng mình còn bé.

- Vĩnh thì hết nước mắt rồi. Vĩnh đang tập để không còn biết thương nhớ là gì nữa,

- Giọng Vĩnh chua chát lắm đấy, chăn vịt thú vị không ?

- Giá chăn dê thú vị hơn vì còn được ví với Tô Vũ. Trong lịch sử có ai chăn vịt không nhỉ ?

- Có.

- Ai ?

- Vĩnh, chăn vịt đợi thời.

- Đợi chết thì có. Vào trong này nói chuyện.

Hai người chui vào lều. Nắng buổi chiều còn chói chang. Mùa thu mà trời oi ả quá. Vĩnh hỏi :

- Tưởng vào Nam rồi.

- Cũng định.

- Định chi nữa, muốn chết từ từ à ?

- Tại sao Vĩnh lại chăn vịt ?

- Vĩnh thích chứ sao.

- Không được đi học nữa à ?

- Ừ, mà dẫu được, mình học ích gì. Sách chúng mình học lạc hậu cả. Công thức, định lý ở đây toàn lên Nga khó đọc lắm nên Vĩnh chán. Này, Pythagore nói láo, sự khám phá của hắn chính là của ông gì "cốp" ấy. Képler, Newton, Einstein... sai hết. Nằm nhà sợ mang tiếng bất mãn chế độ, Vĩnh chăn vịt cho đỡ buồn.

- Vĩnh thấy cuộc sống mới thế nào ?

- Buồn cười đáo để. Nhưng hỏi làm gì ? Hay Khoa là công an ?

- Bậy bạ.

- Đúng đấy Khoa ạ ! Khoa còn nhớ bọn thằng Vọng, thằng Cung chứ ? Hôm Tây mới rút khỏi đây, chúng nó về treo cờ, tổ chức hội họp. Vĩnh gặp thằng Vũ, Vĩnh chào nó, nó vờ hỏi: "Anh là ai trông lạ quá". Vĩnh kể lai lịch, nó mỉa mai : "À, hóa ra cậu Vĩnh con cụ lớn ngày xưa". Buổi tối nó lại chơi, nó nằm cả đêm ở nhà Vĩnh hỏi han lung tung hết chuyện ai theo quốc dân đảng, ai theo đế quốc, phong kiến... Vĩnh trả lời qua loa. Nó rút sổ tay ghi chép cẩn thận. Vĩnh biết ngay nó làm công an. Vĩnh sợ, đâm ra nghi ngờ cả bạn bè..

- Thế hả, đau đớn nhỉ ?

- Ừ đau đớn thật.

- Vĩnh, có muốn vào Nam không ?

- Không.

- Ở nhà sống thế này hả ?

- Ừ, đợi chết mà.

- Nghĩ kỹ đi.

- Nghĩ kỹ rồi. Vĩnh còn me Vĩnh. Me Vĩnh muốn chết ở quê nhà. Vĩnh sinh ra vô phúc là con quan, cô độc từ ngày đi học như Khoa đã biết. Lớn lên với mặc cảm cô độc ấy. Vĩnh nhút nhát chả dám làm gì. Vào đời không quen sống tập thể thấy mình lẻ loi, hèn kẻm. Bây giờ cô độc hơn xưa, suốt đời cô độc. Vĩnh sợ cuộc đời lắm. Vĩnh, chẳng đi đâu, Vĩnh còn me Vĩnh. Me Vĩnh đã khổ nhiều rồi, Vĩnh là niềm an ủi cuối cùng, bây giờ lại bỏ đi thì me Vĩnh chết mất.

- Vĩnh đã nhất định Khoa còn nói sao được. Mai Khoa đi, Khoa muốn nhớ Vĩnh mãi nên tìm đến thăm Vĩnh.

- Khoa đi với ai ?

- Một mình,

- Còn gia đình ?

- Cha mẹ Khoa cũng lưu luyến quê hương như me Vĩnh ấy.

- Khoa đi một mình à ?

- Ừ, tối nay Khoa về thị xã.

- Sáng mai hãy về. Khoa hứa có dịp kể chuyện ngày xưa hồi chúng mình chưa đau khổ. Khoa quên rồi ư ? Dịp ấy là đêm nay.

- Sao Vĩnh bảo Vĩnh đang...

- Không, Vĩnh sẽ không tập gì cả, tập làm sao được. Mai Khoa đi thì Khoa hiểu rằng từ phút chia tay Vĩnh đã chết.

- Vĩnh phải sống đợi Khoa về kể nốt chuyện Phụ-Dực. Chứ một đêm nói sao hết tình thương ?

- Nếu được vậy nhỉ ? Thôi chúng mình lại nhà.

Hai người dìu nhau trên bờ ruộng. Vĩnh ném cái gậy xuống ngòi, quàng tay qua cổ Khoa. Mùa thu quê hương thường có heo may giải đồng. Trời chớm lạnh, người ta tìm nhau trong cưới xin.Tháng tám ở đây nóng sang cả buối chiều dù mặt trời lặn từ lâu. Hoàng hôn xuống dần. Bóng đêm đuổi đằng sau hai người trẻ tuổi.

Khoa nghĩ đến con đường Khoa và Vĩnh đang bước lên. Đêm nay còn song đôi. Ngày mai mỗi người sẽ sang một khúc rẽ cuộc đời.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 22:25 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
9 . Bóng Mây Kỷ Niệm


Tôi có người bác họ, dân làng thương gọi bác là ông đồ Nhị bởi vì bác đã từng dạy cả chữ Hán lẫn chữ quốc ngữ ở nhà quê. Tên thật của bác, đến hôm nay, tôi vẫn không hiểu rõ, chỉ biết bác tôi ngày xưa đã mấy lần tấp tểnh lều chõng đi thi và đậu được “bằng” nhị trường.

Cái đám học trò của bác tôi sau này chẳng ai làm nên công trạng gì để giúp đỡ thầy trong cảnh lầm than cơ cực. Họ cũng sống vất vưởng sau lũy tre còm, nên dòng sông hẹp mà tự thưở khai thiên lập địa đến giờ chưa có lúc nào đầy tràn nước của cái làng Tường-an nghèo xơ nghèo xác này. Nhưng nếu ai chịu tìm hiểu rằng vốn chữ quốc ngữ của bác tôi ít ỏi quá, ngọn bút sắt viết trên giấy tây cứ mãi mãi vướng mắc. Thêm vào đó, một tâm hồn luôn luôn bị ám ảnh bởi những dòng tâm huyết của Trần Tế Xương của Học Lạc nên bọn môn đồ khi xếp bút nghiên chỉ biết bỏ làng ra đi hay cặm cụi xới từng miếng đất quê hương mà gieo hy vọng no lành thì cũng đừng lấy làm lạ.

Bác tôi núp dưới mái từ đường họ Vũ. Nó điêu tàn không khác chi đời bác. Có nhiều hôm gió lạnh ồ ạt kéo nhau về thổi vù vù vào ba gian nhà trống không phên liếp, bác tôi vẫn thản nhiên khoác mảnh chăn đơn ngồi rung đùi ngâm thơ hoài cổ, coi bão táp ngoài trời không hơn hớp rượu nhạt chiều đông. Con người kỳ dị ấy chưa được hân hạnh thoáng nghe đôi lời than thở hay tìm được dòng nước mắt oán hờn, tuy cuộc đời bác đan dệt toàn bằng buồn tủi, đau thương. Ngày tháng trắng xóa tiếp nhau trôi qua. Mưa nắng chưa ngừng trút xuống mái tranh tàn tạ nên bác tôi vẫn phải lấy bìa bồi cậy vá víu những chỗ dột nát như bám lấy đám học trò đần độn mà sống qua thời. Sự gian nan điêu đứng ấy không làm bác tôi oán hận. Bác vẫn giữ phong độ của ông đồ nho giảng đạo thánh hiền. Thầy khóa tư lương mãi mãi cứ dạy lương tư thôi.

Dần dần, chữ nho ít người học, chữ quốc ngữ phổ biến nhiều hơn. Đáng lẽ, bác Nhị phải đập tan nghiên mực, vứt phăng ngọn bút lông giải nghệ rồi cơ đấy. Nhưng vì còn vướng lụy áo cơm, bác tôi phân vân chưa nỡ dứt. Đêm đêm, bác thắp đèn lần mò sang nhờ cha tôi dạy thêm ít tính toán cho “vốn liếng” vững mà tiếp tục hành nghề. Nghĩ tội nghiệp người bác, trải cuộc đời để hai thời đại giẫm lên điêu đứng.

Bác tôi không lấy vợ. Thuở chưa ngồi dạy ở làng, bác đã từng phiêu bạt nhiều nơi và nổi tiếng là một tay danh cầm miền Thái. Lòng bác giống như con tàu thiên lý, chở đầy những mộng những mơ, qua hết ga này bến khác song ít khi bác ở đâu lâu. Khi thấy tình đời chớm lạnh, tình người đơn côi, bác tôi lại rũ áo bỏ đi tìm tri kỷ một phương trời khác. Chao ôi, bác tôi đã dại dột đem hết cả gia sản tinh thần, đem hết cả hào hoa phong nhã của tuổi trẻ, cố mua chút tình cảm của thế nhân. Nhưng con người nghệ sĩ ấy chỉ gặp toàn thất vọng. Cỏ hoa ngoài viễn xứ biết có hiền hay hèn mà nỡ để chí lớn thiên hạ úa dần theo năm tháng? Dĩ nhiên, tiếng đàn sẽ ngọt hơn, tâm hồn sẽ trang trải hơn trong đoạn đời đau thương của bác đồ Nhị thân yêu.

Tôi không đếm được những cuộc tình duyên chắp nối bằng nhạc, bằng thơ nơi xa xôi của bác tôi nhưng tin rằng, với tâm hồn dễ rung cảm, khối óc ưa viễn vọng, yêu tự do, yêu cái thầm kín xâu xa nhất của cuộc đời thì dễ gì quên được ánh mắt giai nhân e ấp chiếu vào tim thơ những chiều viễn phương có gió may lạnh lẽo. Tôi tin để mà tin thôi chứ dễ chi dò hỏi một mẫu người trầm lặng như bác Nhị. Con tàu chạy dọc suốt lòng đời và không hề nghĩ tới ngày mai rạn vỡ. Con tàu thiên lý ấy, sau khi đã lướt đi muôn dặm, đã thua nhẵn mộng mơ ở dòng đời, đã gửi tặng ga bến chút sản nghiệp nhỏ mọn gây dựng nên do mồ hôi nước mắt tổ tiên để lại, im lìm về yên ngủ vĩnh viễn sau lũy tre làng, dưới mái từ đường xiêu vẹo của họ Vũ. Thân hình tàu ngày ngày hoen gỉ, chất sắt tiết ra nước vàng tái tê, đau đớn. Ga bến biết còn nhớ người xưa chăng, chứ người xưa thì đã in rõ ràng trong tâm khảm từng vạt nắng cô liêu của mỗi hoàng hôn buồn chết.

Thế là hết, đời bác tôi sẽ chẳng bao giờ thấy ánh vinh quang. Bác không oán hận, cũng không vội vàng như xưa nữa. Ngày lại ngày, bác lặng lẽ dở từng trang kinh nghiệm mua bằng muôn vạn sợi tơ lòng giảng dạy học trò để quên thưở đắm chìm trong mưa gió. Đôi khi, men rượu thấm vào trí khôn, bác tôi hay nói to. Giọng nói có lúc trở nên chua chát, có lúc khinh bạc. Rồi vài kỷ niệm cần giấu kín như chuyện từ chối đánh đàn cho viên quan huyện nọ thưởng thức đến nỗi bị bắt giam ít ngày, cũng được bác phun ra qua hơi rượu.

- Hà, hà… Đem tài hoa trong thiên hạ góp lại xem đã vừa nồi cơm chưa cho ta chẻ đàn nhóm lửa rồi giải nghệ. Chứ, chứ phải rung tơ lòng do lệnh một đứa thất phu thì e phụ mất cả lòng tin yêu trong trời đất.

Bác tôi chỉ nói đến thế thôi, nửa như hận, nửa như muốn giấu tâm sự đau khổ của mình nên bác dịu giọng ngay. Và mong xí xóa với người nào thoáng nghe thấy, bác tôi lớn tiếng ngâm thơ sầu rồi ví cuộc đời như đám mây trôi. Lòng bác còn bao la lắm. Nếu cũng hẹp hòi tựa lũ thế nhân mắt trắng thì mua sao nổi chút ít tài hoa, thì việc gì phải nhỏ lệ trên cung đàn năm tháng! Bác tôi vẫn thương mình thương đời đã trao tặng bác trên nẻo đường vô định. Trời ơi! Tôi muốn ôm lấy bác đồ Nhị mà ấp ủ, mà van xin bác dạy cho cái nghề… lãng tử. Tiếc quá, bác tôi vắng mặt hôm nay, nên tôi chỉ biết vơ vẩn nhìn mây trôi về xứ Bắc mà thương nhớ…

Hồi tôi còn nhỏ, bác đồ Nhị yêu tôi lắm. Bác hay sang nhà tôi uống rượu với cha tôi. Mỗi lần chén chú chén bác là mỗi lần tôi phải trèo lên cây khế hái dăm ba quả đem xuống rửa sạch, thái mỏng hình ông sao để hai người nhắm cùng thịt luộc chấm mắm tép. Chuyện sông hồ lưu lạc nhiều phen của cha tôi, của bác tôi được đem ra kể, lúc vui tươi phấn khởi, lúc trầm buồn tê tái. Tôi thường đứng nghe cả buổi không biết mỏi chân vì chuyện làm tôi say mê quá. Tôi biết yêu những cánh én bay từ rừng đồi xa xăm về góp hội mùa xuân từ dạo ấy. Và cũng từ dạo ấy, mẹ tôi bắt đầu phả vào mắt tôi ít nhiều khói hương thơ mộng.

Sau mỗi cuộc rượu tàn, bác Nhị không quên rủ cha tôi sang nhà bác hòa đàn. Tôi lẽo đẽo theo sau, xách giùm cha cái nhị. Dưới bóng của giàn hoa lý gần cầu ao, cha tôi trịnh trọng so dây nắn phím. Tiếng đàn nguyệt tung lên, tiếng đàn nghệ sĩ tặng nghệ sĩ thì còn chê vào đâu được nữa. Sao tôi vẫn không thấy cảm? Tại tôi nghe nhạc mà mắt tôi cứ mãi nhìn lũ chim chào mào liu riu mổ sung chín. Và lẫn vào âm hưởng của cây đàn nguyệt, tiếng sung rụng lõm bõm dưới nước, tiếng ve sầu rên rỉ giữa trưa hè. Cùng một lúc, tôi nghe cả ba thứ âm nhạc. Bản đàn nguyệt dứt, cha tôi kéo nhị trong khi tôi vẫn mơ màng ngắm chim chào mào mổ sung. Đến khi chim bay đi, tôi mới kịp để ý đến cha tôi. Người có vẻ khác lúc thường, nét mặt biến đổi từng giây phút. Tiếng nhị êm êm, dịu hiền như mầu hoa lý đôi khi réo rắt, réo rắt mà không dâm dật, réo rắt chỉ làm lòng ta phấn khởi say sưa. Thỉnh thoảng, âm thanh trầm lắng, đẹp như câu ca dao thoát ra từ đôi môi thôn nữ xuân thì. Sao tai tôi vẫn còn nghe rõ tiếng cu gáy đằng xa? Tôi muốn hỏi bác đồ Nhị nhưng bác tôi đang lim dim đôi mắt ra chiều say mê tận hưởng tài nghệ của cha tôi, một nghệ sĩ bình dân đã từng làm rung động bao nhiêu người ở bao nhiêu chân trời có trăng có lúa.

Bản nhạc dứt, âm thanh loãng dần. Cha tôi lấy khăn lau mồ hôi đổ tầm tã trên mặt, trên mình mẩy rồi hỏi bác đồ Nhị:

- Thưa bác, bác nghe tiếng đàn em dạo này thế nào?

- Kém ngọt hơn mấy năm về trước. Chú ít luyện tập.

- Vâng, quả có thế, lâu nay em bỏ đàn địch. Bác tính từ ngày tạm nghỉ dời giang hồ đến giờ có khi nào tâm hồn em thanh thản đâu.

- Phải rồi, tâm hồn mà vướng mắc, tiếng nhạc nghe nặng nhọc lắm, khó thóat lên được. Chú thử nghe tôi dạo khúc đàn bầu xem sao.

Nói dứt câu, bác đồ Nhị cởi phăng áo để mình trần, với cây đàn bầu. Cây đàn của bác cổ kính quá chừng. Tôi nhớ rõ ràng, nó bẩn lắm. Màng nhện chăng đầy ở dưới đáy, bụi phủ kín mặt đàn. Miếng tre để nẩy đã sạm mầu đen, đồ lên giây mọt ăn quá nửa. Bác tôi nhè nhẹ vặn dây. Bác lấy miếng giẻ vuốt sợi dây sắt rồi bắt đầu khởi nhạc.

Tiếng đàn bầu dịu ngân khoan thai thánh thót. Trời bỗng như nhiều gió hơn và không gian chừng dễ thở quá. Đàn bầu, ồ, chỉ có một sợi dây thôi nhưng tình cảm phức tạp nhất của con người gửi gấm cả vào đấy. Tay phải làm cho phát ra âm thanh, tay trái lựa sao cho nét nhạc hoa mỹ, tuyệt vời. Ngồi khom khom lưng, một chân đè lên thành đàn, người bác nghệ sĩ của tôi thay lời nói lên tình trời đất.

Tâm tư bác vướng trên dây, hình ảnh tối tăm hiện tại biến đi, chỉ còn thế giới âm thanh lắng vào mênh mông vô tận. Tiếng đàn khi nũng nịu như cô gái mới lấy chồng, tha thiết như tình mẫu tử, rạo rực như lòng thiếu nữ dậy thì và băn khoăn như giấc mộng nửa đêm. Mặc cho mấy chú muỗi ngày bám vào lưng, bác đồ Nhị đăm đăm gửi hồn theo âm nhạc. Tiếng đàn cơ hồ gió ngàn, lúc dần lên ta tưởng có trận phong ba chớm dậy trong lòng xui ta giận dỗi, oán hờn. Lúc dịu đi, ta trạnh nghĩ tới một hoàng hôn nắng vàng thoi thóp. Âm hưởng bay vút lên khơi như nước thủy triều dâng bao la bát ngát. Ta tưởng chừng tình đời đơm nở ngát thơm mùi lúa chín được mùa, đẹp hơn cả môi hồng trinh nữ. Tiếng đàn lắng xuống trần trầm, im lặng cô quạnh như cõi lòng khao khát yêu đương, buồn như khách giang hồ lỡ chuyến đò ngang, hoang mang như mối tình đầu thất vọng và ta cảm động không ngăn kịp lệ rơi…

Sao giọng con ve sầu, lời con cu gáy vắng bặt? Âm nhạc quê hương nhiệm mầu đuổi chúng bay xa rồi chăng? Hay chúng vội vàng nín thinh để hớp lấy những phút giây thiêng liêng vạn kỷ? Trong tôi, lúc ấy, mới hoàn toàn thấu đượm âm thanh, tuy trước khi bác Nhị rung tơ lòng, con bé hàng xóm ru em to quá, tiếng võng kẽo kẹt càng to hơn. Tiếng đàn của tay lão tài tử quả đã cảm hóa được tôi bấy giờ và cả bây giờ nữa.

Cung đàn ngừng lại. Tôi thấy còn dang dở, còn thiếu một cái gì khó nói. Bác tôi cũng nghĩ vậy, bác ngồi mơ màng hối tiếc.

Thế nào bóng kỷ niệm chả rủ nhau về gõ cửa tim bác khi tiếng đàn xa khơi. Lúc lâu, bác rời đàn, buông tiếng hỏi:

- Chú nghe thế nào?

- Dạ, tiếng đàn bác tuyệt diệu, có một không hai trong thiên hạ.

Bác tôi gật đầu sung sướng:

- Đánh đàn cần phải tự do, chú ạ! Hồn tài tử như mây trôi, như nước mưa giữa trời. Ta diễn tả tình cảm theo nhịp thở của trái tim ta, không có sức mạnh nào lái lòng ta được. Này chú…

- Dạ.

- Ta đàn tặng tri kỷ tiếng mới ngọt thế đấy. Chứ, cũng tại vì miếng đỉnh chung của thời đại nhố nhăng này mà mặc quần áo đẹp, ngồi trên ghế khảm xà cừ rung tơ lòng cho bọn vương giả nghe thì tơ lòng đến đứt quãng tứ tung mất thôi.

- Thưa bác, đàn bầu vốn dĩ…

- Là loại khó. Ừ đàn bầu khó chơi nhất, nó cũng như nhị ấy, chẳng có phím để mà phân biệt. Lại nữa, mình hiếm sách dạy nên rồi nó sẽ mai một, như cánh áo the lương, như cái khắn xếp, như đôi giày Gia-định hay như… cái khố ấy. Tội nghiệp người bình dân, người quê hương sẽ mất mát kho tàng giá trị. Chơi đàn được như chú cũng là khá lắm rồi. Thế chú đã có thể luận được tiếng đàn chưa?

- Thưa em mới hiểu sơ sơ. Xin bác dạy thêm.

- Diễn tả bản nhạc là một nghệ thuật siêu đẳng. người tài tử lúc ngồi nắn phím so dây thì hoàn toàn sống với tâm tư. Ảnh hình ngoại giới lúc ấy mờ đi chỉ thấy hiện trước mắt mình chân trời bao la nghệ thuật gói ghém tình thương yêu, lòng bác ái. Người tài tử càng rung cảm bao nhiêu thì chân trời siêu đẳng càng rộng mở bấy nhiêu. Cho nên có thể nghe tiếng đàn mà đoán tâm tính người chơi. Như đứa vũ phu thì tiếng đàn yếu ớt, loãng dần. Người mẫu mực thì tiếng đàn thong thả đều đều. Người hào hoa thì tiếng đàn phóng túng, buông trôi. Người có tâm hồn tranh đấu thì tiếng đàn luôn luôn thôi thúc, vội vã. Người mang tâm sự thầm kín thì tiếng đàn mông lung, huyền bí. Tất cả những hạng người trên đều không phải là tài tử. Người tài tử khác hẳn. Tiếng đàn rung lên, thính giả có thể khóc, có thể buồn, có thể yêu thương, giận dỗi, oán hận, hay ray rứt đứng ngồikhông yên. Muốn luyện ngón đàn như thế tất phải sống, phải đi nhiều, phải mang tuổi trẻ mua lấy chua cay khinh bỉ của thế nhân, để biết khóc, biết cười, biết oán hận, biết yêu thương thì mới hòng làm cho người khác khóc, cười, yêu thương, oán, giận, ghen hờn. Nhưng đời nay, (bác tôi nhấn mạnh) cái đời kim tiền khốn nạn này đã làm hồn tài tử lịm chết, làm tai nhân thế điếc đi rồi lấy đâu ra một Bá Nha gẩy đàn cho Chung Tử Kỳ nghe nhỉ!

- Lời bác dạy quả đúng. Thảo nào em nghe tiếng đàn cậu Trạch gắt gỏng quá.

- Ở đời muốn cái nọ phải hy sinh cái kia. Như tôi sao không thể làm cách mạng như cậu Trạch được. Được lắm chứ? Khốn nỗi phải dung hòa lý trí với tình cảm phiền phức tệ mà chắc gì nó đã cân bằng. Cho nên, tôi đành sống kiếp cỏ hèn trong thiên hạ vì muốn cái tài tử hơn.

- Thưa bác, dạo này em thấy giọng bác có vẻ chua chát hơn xưa. Dám hỏi hay bác có điều chi trắc ẩn, hay bác nhớ tới…

Bác đồ Nhị cảm động ôm lấy cha tôi:

- Chao ôi! Ta đi tìm tri kỷ già nửa đời, ai ngờ về đến quê hương mới gặp. Hạnh phúc của mình cũng đến thế thôi. Việc gì phải bôn tẩu xa xôi. Nó ở ngay bên mình, ở ngay mảnh đấy xác xơ này. Đào nó lên, khai quật nó lên mà tìm kiếm, gia tài quê hương tiềm tàng dưới ấy. Phải chú nói đúng. Ít lâu nay tôi nhớ “chúng” quá. Ai bảo tài tử không muốn có mái nhà êm ấm và ngọn đèn đầu heo hút suốt đêm trường?

Rồi một ngày cuối mùa thu, bác đồ Nhị thân yêu lại ra đi. Bác đi có vài hôm. Bữa về, hành lý của bác chở thêm ba đứa trẻ, hai gái một trai, lớn hơn tôi bảo là con bác. Ai dám tin ngay. Người trong họ xúm vào chất vấn bác. Bác điềm nhiên trả lời:

- Con tôi cả đấy mà. Mỗi đứa một mẹ, mỗi mẹ một nơi. Phải đưa chúng nó về đây kẻo sau này lớn lên, chúng nó hối hận thiếu quê hương. Mẹ chúng nó đi lấy chồng cả rồi. Tôi nghĩ đến sự đơn lạnh của mình mấy năm nay nên dắt chúng nó về. Có lẽ, lần này tôi không đi nữa. Những sợi dây tình cảm này (bác chỉ vào đám anh chị tôi) sẽ buộc chặt đời tôi với mảnh đất cằn cỗi nhưng đẹp tuyệt vời của cái làng Tường-an nghèo khổ này.

Dòng họ Vũ nhà tôi vốn quan niệm khe khắt với những tâm hồn lãng tử nên, trừ bác đồ Nhị và cha tôi, chả ai dám ôm mộng sông hồ. Việc đem mấy đứa trẻ thiếu mẹ về nhập tịch họ Vũ khiến nhiều người bất bình, nhất là ông nội tôi. Cha mẹ tôi không hẹp hòi thế, các người cho rằng bác đồ Nhị thừa lòng nhân đạo. Bác là kẻ lãng tử, phóng túng mà còn biết nghĩ đến con cái thì sao lại nỡ trách. Họ Vũ chỉ hiểu sơ sơ quãng đời tung hoành của bác chứ hiểu sao nổi nỗi cô đơn của một cõi lòng về già, hiểu sao nổi bác Nhị cũng muốn có đứa con trai… tài tử trong sạch như bác.

Tôi càng gần gũi bác tôi hơn. Sẵn có ba nhịp cầu vững chắc, tôi tự do ướp lấy hồn bác bằng mắt, bằng tai để hôm nay làm trai sông hồ, tuy chẳng dám có mộng làm nghệ sĩ (tôi sợ không được như bác tôi) song cũng biết mơ mộng hướng về chiều cũ mờ mây.

Chuyện tôi kể sau đây sẽ nói giùm tôi rằng tại sao cha con tôi yêu bác đồ Nhị. Một hôm, mật thám về làng khóa tay cha tôi giải xuống tỉnh vì cha tôi có bạn thân là cậu Trạch làm cách mạng chống Tây bị bắt ở Hải-dương. Cả nhà tôi, trừ mẹ tôi, không ai khóc. Người trong họ cũng xót thương, cũng chỉ nín thinh. Vậy mà riêng có bác tôi đã dám lớn tiếng chửi đổng mấy đứa thất phu đứng giương mắt ếch nhìn sự đau khổ của thiên hạ mà cười khẩy. Tôi còn nhỡ mãi cái hôm ấy, cái hôm bác tôi ném chai rượu đầy ắp vào tường, đổ tung đồ nhắm rồi gục xuống khóc nức nở như trẻ con bị đòn. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy bác khóc. Và giờ đây, mỗi khi mơ về làng xưa còm cõi, tôi vẫn thấy rõ cảnh cũ hiện ra, có những âm hưởng của tiếng thủy tinh vỡ, có tiếng nức nở và tiếng nguyền rủa qua men rượu ngà ngà.

Đêm đêm chờ lúc canh khuya, bác đem đàn ra gẩy. Tiếng đàn thương nhớ tri kỷ nó mới não nuột làm sao! Vang trong cô tịch, hòa với âm nhạc thiên nhiên, tiếng đàn bầu đi riêng một bè thiết tha buồn tủi. Tiếng ếch, tiếng dế nỉ non và tiếng muôn loài côn trùng rên rỉ nuối tiếc. Có thể hòa âm ấy bay lên đượm lấy sương và sương rơi ướt đẫm vai người lãng tử. Lạnh lẽo, đìu hiu. Mẹ tôi khóc nhiều hơn khi nghe tiếng đàn vọng cố nhân ấy.

Ít ngày sau cha tôi được thả về. Cậu Trạch đã hết tội yêu nước trước mật thám rồi, cậu móc mắt tự tử. Thế là cha tôi hết bị tình nghi để cho bác đồ Nhị vơi sầu vạn cổ. Bác lượm mảnh chai đập vỡ bữa nào, ném vào xó vườn rồi lại trịnh trọng ngồi tâm sự cùng cha tôi bên hồ rượu đầy.

Cuộc sống đều đều nối tiếp. Bác tôi vẫn dạy học. Lòng bác không còn se sắt mỗi buổi mưa gió về như dạo nào. Chăn bông là ba trái tim non ấm lên những đêm đông lạnh lẽo. Tiếng đàn của bác hiền lành hơn và tiếng nhị của cha tôi nghe cảm được. Khi bác cảm thấy thoải mái nhất lại là lúc thời đại đổi thay. Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Cha tôi chẳng gặp người bạn quen nào phất cờ. Dĩ nhiên, người cam chịu âm thầm sau lũy tre xanh, coi thuở giang hồ mập mờ như chiếc bóng. Cách mạng nghĩa là cái gì cũng đổi thay. Duy bác tôi vẫn kéo tràn cái áo the lương rách tứ tung, vẫn mặc cái quần cháo lòng và sống cùng cực hơn vì bọn môn đệ của bác, đứa thì đi bộ đội, đứa thì gia nhập đoàn thể này, công tác nọ chả còn hơi đâu mà nghĩ đến nồi cơm của thầy đồ.

- Nó ở ngay bên mình, ở sau lũy tre già còm cõi, ở ngay mảnh đất xác xơ này. Đào nó lên, khai quật nó lên mà kiếm, gia tài quê hương tiềm tàng dưới ấy.

Bác tôi sực nghĩ tới những bàn tay tổ tiên ngày này qua tháng nọ sống với đất, nên cha con rủ nhau tập cuốc với mấy thửa ruộng nhà. Mồ hôi, nước mắt, cả máu nữa, thấm vào lòng đất. Lúa cũng lên bông, vào mẩy. Bát cơm có đầy nhưng nghẹn ngào nói sao được. Cái trầm lặng thuở nào đây vụt thức. Lòng lãng tử đôi phen sụt sùi khóc gió mưa. Tội nghiệp, bánh xe thời đại tàn nhẫn đè lên bác tôi và làm đau đớn vô ngần.

Bác ít đánh đàn. Vì chua chát lắm. Niềm thiêng liêng của bác bị nhạo báng, người ta đem đàn nguyệt, đàn tranh, nhị ra kéo những bài chào cờ, mặc niệm. Thôi rồi, chết cả cõi lòng nghệ sĩ. Cha tôi, một buổi vờ say rượu, nhân cơ hội có con mèo chết, người lấy vải bó chặt lấy xác con vật khốn nạn rồi bắt chúng tôi khênh ra vườn sau. Đám táng con mèo, bác đồ Nhị cũng đi đưa. Bác đánh đàn tranh, cha tôi nín thinh. Đến khi tôi nhìn lên thấy nước mắt cha nối hàng rơi trên má, bác đồ Nhị thì đôi mắt đỏ ngầu. Cha tôi đào lỗ chôn con mèo, chôn cái nhị, chôn nguồn tình cảm quê hương, chôn luôn cả thiên tài hoa cuối mùa. Ở nhà còn mấy thứ đàn, cha tôi đem chẻ ra đun nước pha trà; ngồi đàm đạo với bác Nhị suốt sáng thâu đêm. Bác tôi không nông nổi giống cha tôi. Bác vẫn giữ đàn bầu, thỉnh thoảng mới nắn phím so dây mà lại dạo về ban đêm, vào những hôm trăng sao đẹp nhất. Tại sao bác tôi trở nên kênh kiệu thế? Phải vì bác sợ phường cẩu nhãn nhìn trộm người yêu của mình hay vì muốn tâm hồn trắng trong với tình đàn?

Tiếng đàn bác tôi giờ đây trở nên ai oán, hận thù, phảng phất khói hương hoài cổ. Nhiều đêm nghe nó tôi khó mà ngủ được. Cả một triều đại đẹp xưa có những còn người hiền tựa khoai lúa, thương yêu nhau không biết kể bao nhiêu, hiện ra trước mắt tôi khi âm hưởng của tiếng đàn bác đồ Nhị rung lên trong đêm vắng. Bác tôi than tiếc trong tiếng đàn, than tiếc ngoài cuộc đời. Cái hình ảnh khốn nạn nào án ngữ nụ cười của bác tôi? Tôi vội nghĩ tới phút giây chẳng may bác phải đào đất chôn đàn. Dù tiếng đàn tuyệt diệu, hồn quê hương đã nhập ẩn trong lòng người quê hương rồi, tôi vẫn thấy buồn quá. Bác tôi sống đầy đọa, đau khổ mãi cho tới ngày giặc tràn về làng thì cảnh tượng điêu tàn khuất dần dưới mắt tôi. Tôi cứ xa mãi, xa thành vĩnh biệt. Chả biết bây giờ bác tôi còn sống hay đã ra người thiên cổ?

Tôi bỏ làng ra đi, để rớt rơi ở sau lũy xanh bao kỷ niệm buồn đau của thời thơ ấu. Trên đường tự do thơm ngát hương đời, thơm ngát tình người của gã con trai ngoài hai mươi tuổi ưa viễn vọng, ưa những vẻ đẹp mới như tôi đã hơn môt lần thất vọng. Là khi thoáng nghe tiếng đàn bầu rung lên khúc nhạc ngoại lai về một sớm phố phường nhộn nhịp. chao hỡi! Nó trơ trẽn và diêm dúa làm sao? Chắc người nghệ sĩ bây giờ đã nạm bạc vào miếng tre vót nhỏ, đã khảm xà cừ vào đàn, đã ăn mặc lượt là lúc ngồi biểu diễn và, chắc chắn, đã sợ danh từ đàn bầu mà đổi là… độc huyền cầm.

Đâu rồi, người xưa đàn xưa? Biết đến ngày mai người ta có tìm lại trả cho tôi những ảnh hình thân yêu của không? Chứ hiện tại, âm hưởng của cây độc huyền cầm chỉ làm tôi tuyệt vọng, trách làm chi chuyện tôi nhớ quê hương. Nơi ấy, mỗi lần vọng về trong tưởng tượng, tôi vội hình dung thấy ngay bác đồ Nhị cởi trần ngồi trên manh chiếu rách giải giữa sân vào một đêm trăng vắng gió, nầy khúc đàn bầu. và khi cung đàn dứt, người bác lãng tử của tôi ngồi im lặng nghĩ tới thời vàng son xa lắc của những người quê hương chỉ biết thương yêu nhau. cho đến khi sương đêm thấm ướt đôi vai thì tài tử gục luôn xuống bên đàn mà ngủ.

Duyên Anh
1962

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Nov 2014 22:28 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
10. Người Quê Hương


Ngày Anh bỏ nhà ra đi Tôi mới được ba tuổi . Lớn lên, người anh nuôi khốn nạn ấy sẽ không một chút vương vấn tâm hồn nếu mẹ tôi quên nhắc chuyện anh.

Vào buổi tối mùa đông thê lương ở quê ngoại, dưới ánh đèn dầu hiu hắt, tôi gối đầu trong lòng mẹ nghe tiếng gió hú điên cuồng ngoài trời và tiếng nước mưa nức nở lùa vào phén liếp. Làm sao tôi vẫn thấy đơn lạnh, mặc dù bên tối bóng mẹ như cái mền ấm áp trùm kín thân hình tôi. Tôi ngước đôi mắt thơ dại nhìn mẹ muốn hỏi đôi lời, nhưng lúc đó tay mẹ còn đang thoăn thoắt đưa kim vá lại mảnh áo của em tôi. Tôi đành nín lặng đợi chờ. Đến khi mẹ ngừng đường chỉ, thở dài, rồi cúi xuống vuốt ve mái tóc con, tôi mới ngây thơ hỏi nhỏ :

- Mẹ ơi ! Con không có anh hở mẹ ?

- Có đấy chứ, có anh nuôi, mà nó đi rồi.

- Thế anh con đi đâu ?

- Đi Sài-gòn.

- Tại sao anh con lại đi Sài-gòn ?

- Vì nó đánh con ông Lý-trưởng vỡ đầu, nó sợ phải tù nên trốn biệt xứ.

- Ở Sài-gòn anh con làm gì ?

- Mẹ không biết. Thôi đừng hỏi nữa, ngủ đi con.

Tôi ngoan ngoãn nghe lời mẹ, không dám gượng hỏi nữa vì tôi thoáng gặp mắt mẹ chớp mau muốn khóc. Mẹ tôi hay khóc lắm, vui cũng khóc, buồn cũng khóc.

Tự đấy lòng tôi nhóm lên một ánh lửa thương yêu, để có những chiều thơ thẩn ngoài ngõ, nhìn nắng vàng yếu ớt rơi trên nội cỏ ngàn cây, mà buồn rầu vô căn cứ. Người anh nuôi xấu số của tôi chưa cho tôi một kỷ niệm êm đềm nào trong chuỗi ngày thơ ấu, hay cho nhiều rồi mà hồi ấy tôi chưa biết nhận. Dù sao chăng nữa, tôi cố mường tượng anh ở đôi mắt sầu cảm của mẹ tôi để tin rằng anh nuôi đã góp thêm vào cái gia đình nhỏ bé nghèo nàn này muôn vàn kỷ niệm u sầu hay tha thiết, và chắc chắn rằng anh đã trải qua những ngày khốn khổ nhất của gia đình họ Vũ nhà tôi.

Trang đời im lặng mở đều. Sau trận mưa, trời sáng sủa. Gia đình tôi bây giờ dời khỏi lũy tre xanh, cuộc sống tạm đầy đủ. Tôi cũng khôn lớn hơn xưa và niềm thương thuở nào vẫn còn nguyên vẹn.

Mấy năm sau người họ hàng ra tỉnh trao cho mẹ tôi một phong thư bảo rằng thư của anh nuôi tôi từ Sài-gòn gửi về. Thư viết :

Hớn-quản ngày 7 tháng 5 năm 194...

Kính thưa thầy mẹ,

Con là Nguyễn-Thân tức Vũ Mộng-Tường, con nuôi của thầy mẹ, có đôi lời viết về thăm bà và thầy mẹ và các em đang mạnh giỏi thì con rất lấy làm mừng. Còn về phần con, từ ngày trốn nhà vào Sài-Goòng đến nay long đong lật đật mãi. Hiện thời con làm ở Lăng-ta-si-ông cực khổ quá trời quá đất. Con nhớ thầy mẹ và làng nước lắm. Con xin thầy mẹ tha tội cho con. Nếu con còn sống sẽ có ngày con về đền đáp công ơn thầy mẹ. Thôi giấy vắn tình dài. Con chúc cả nhà đặng bình an vô sự.

Kính lạy thầy mẹ.
Con Nguyễn-Thân tức Tường

Thư không đề địa chỉ người gửi. Chữ viết nghiêng ngả đơn sơ. Mẹ tôi đọc đi đọc lại mấy lần. Người ngậm ngùi nói :

- Thế mà thằng ấy có hiếu. Nó đi đã chín, mười năm rồi. Tội nghiệp, đến lúc nhà đủ cơm ăn áo mặc thì nó lại tha phương cầu thực khốn nạn.

Về phần tôi, tôi vội hình dung ngay thấy những ngọn roi oan nghiệt quất vào mình mẩy anh Tường cu ly đồn điền cao su đau tê tái. Tôi cảm như lòng tôi đang thắt lại.

Sau lá thư ấy, anh tôi không gửi thêm lá nào khác. Chẳng biết anh có còn sống hay đã gửi nắm xương tàn ở một gốc cây cao su nào rồi ?



Cuối năm 1954 tôi di cư vào Nam một mình, để mặc gia đình bên ấy tiếc thương, sầu thảm. Những ngày đầu tiên của tôi ở nơi này còn lạnh lùng lắm, tuy nắng quê hương miền Nam còn gay gắt hơn cả nắng quê hương miền Bắc của tôi.

Đời tôi luôn luôn thiếu thốn. Thuở thơ ấu thì thiếu anh chị, thiếu đồ chơi. Lớn hơn thì thiếu cơm ăn, áo mặc. Khi thấy lòng mình trống trải, mỗi độ gió heo may về thì thiếu mầu áo trinh nữ. Đến nay làm trai sông hồ thì thiếu đốm hỏa gia đình. Sự thiếu thốn ấy mãi mãi ám ảnh tôi bắt đầu từ hình ảnh người anh nuôi quê mùa cũ. Tôi còn nhớ ánh mắt sầu cảm của mẹ tôi : anh đã hiện nguyên hình trong ấy (tuy tôi chưa rõ mặt anh), có bao giờ tôi quên được. Phải, có bao giờ mình nỡ tâm hủy hoại kỷ niệm của đời mình. Nhất là lúc này ở tâm hồn tôi đang đòi hỏi tình cảm lấp giúp hố buồn.

Tôi lang thang trên vỉa hè Sài-gòn, cố tìm trong những đám đông xa lạ một hình ảnh quen thuộc. Thường thường thì vô vọng và mối sầu lại đùn lên to lớn hơn. Tôi nghĩ cách kiếm anh tôi trên mặt báo. Nếu anh tôi chưa ra Bắc hoặc nếu anh tôi chưa chết, thế nào anh em tôi cũng gặp nhau. Ý nghĩ ấy khiến tôi sung sướng. Tôi nhờ năm sáu tờ nhật trình đăng tin tìm người nhà.

Sau nửa tháng sống bằng hy vọng, một buổi sáng có người đàn ông trạc ba mươi tuổi, tay cầm tờ báo, mắt ngơ ngác nhìn quanh trạm di cư tầng ba nhà hát lớn. Linh tính báo cho tôi biết trước có lẽ là anh Tường. Tôi đang nằm trên sàn đá hoa, nhỏm ngồi dậy, lại gần người đàn ông, niềm nở hỏi :

- Ông muốn tìm ai ?

Người ấy trả lời giọng Bắc pha tiếng miền Nam :

- Tôi kiếm người bà con, thấy nói ở lầu ba.

- Tên là gì ?

Tôi vừa hỏi vừa run run hồi hộp.

- Tên kêu Long.

- Trời ơi !

Tôi hét lên, cảm động ôm chầm lấy anh tôi. Anh tôi bỡ ngỡ ngó tôi hết sức lạ lùng.

- Em đây, em anh đây, anh Tường ạ !

Bấy giờ anh tôi mới nắm chặt tay tôi, nước mắt anh rụng xuống thấm qua áo tôi nóng hổi. Anh chỉ nói được mỗi lời :

- Chú chóng lớn quá, hồi tôi ở nhà chú bé chút xíu.

Rồi anh đăm đăm nhìn tôi. Tôi mời anh ngồi tạm trên cái hòm sữa. Qua cơn xúc động, anh hỏi thăm chuyện gia đình. Tôi kể anh nghe, từng mẩu tình cảm quê hương, nỗi vui buồn gia đình. Anh tôi khóc. Tôi không biết ngày nay anh tôi đã thoát khỏi cuộc đời cu ly đồn điền chưa, chứ ngắm kỹ con người anh, tôi chắc chắn anh đang trải đời mình cho sự đau khổ nghiến lên.

Anh tôi gầy, nước da ngâm ngâm đen. Đôi mắt anh thật hiền lành, hiền lành như bao nhiêu người nông dân làng Tường-an. Anh còm cõi. Lúc này tôi chả cần phải mường tượng anh ở đôi mắt mẹ tôi nữa. Tôi thấy cuộc sống phiêu bạt của tôi ấm lên nhờ hơi thở của người anh nuôi quê mùa cũ. Anh tôi ngừng khóc, anh rút khăn thấm mắt rồi đưa cho tôi gói quà. Tôi bóc ra, đấy là những trái măng cụt. Anh giục tôi ăn. Măng cụt lạ miệng, ngon quá. Anh nhìn tôi mỉm cười. Lát lâu, (tôi đán rằng anh tôi suy nghĩ lung lắm) anh ngần ngại bảo tôi :

- Chú về ở với tôi nghe ?

Tôi chưa kịp đáp, anh nói tiếp :

- Kệ chú ạ ! Cứ về ở với tôi, tôi không để chú khổ đâu. Vợ tôi nó buôn bán, còn tôi... à, cũng phong lưu chán. Chú thiệt ngộ, vợ tôi nó sẽ mừng đó.

Anh mời tôi gần như van nài. Tôi ngỏ ý bằng long. Anh tôi sợ tôi thay đổi ý kiến, vội vàng thu xếp hành lý của tôi. Anh xách xuống đường gọi xích lô máy đưa tôi sang Khánh-hội.



Xóm anh tôi trú ngụ là xóm Cầu Cống, sình lầy, hôi thối. Ở đây tập trung một số đông người Bắc dời bỏ quê hương từ lâu, và vì không có may mắn nên mãi tận ngày nay cuộc sống vẫn âm thầm nghèo khổ. Phần nhiều trốn từ các đồn điền cao su cà phê đất đỏ hay đã hết giao kèo ký với công ty. Họ làm đủ nghề, đàn ông thì đạp xích lô, lái tắc xi, xích lô máy, hớt tóc rong... đàn bà thì buôn thúng bán mẹt, đầy rẫy hình ảnh quê hương gầy ốm của tôi.

Anh tôi đạp xích lô. Chị tôi bán tàu hũ chợ xóm Chiếu. Hai người lấy nhau mười năm rồi mà chưa có mụn con nào. Điều này khiến anh tôi đau khổ lắm. Anh lo ngại cái buổi tàn tạ một kiếp nhân sinh, nên anh chị tôi nuôi đứa con nuôi xin trong cô nhi viện. Anh tôi đa sầu đa cảm, anh nhìn đứa con nuôi, trạnh nghĩ đến thân phận mình. Rồi anh kết luận chỉ vì nghèo mới phải làm con nuôi.

Chúng tôi sống dưới túp nhà lá. Không thấy anh chị tôi phàn nàn gì cả hay họ đã quá quen với hoàn cảnh, bằng lòng theo số mệnh ? Anh tôi là phu xích lô nhưng đừng ai vội tưởng kẻ đạp xích lô thì dốt nát, cùng cực. Anh tôi, trời cho tính chịu khó. Dạo lưu lạc miền Hớn-quản, anh nhờ người dạy học. Ngày nay anh đủ kiến thức để chê bai truyện dài đăng trong nhật báo, hay thích thú những bài xã luận. Anh tôi chỉ xáxh xe đậu sát lề đường kho Năm từ 4 giờ chiều, lai rai ly cà phê đen, phì phào vài điếu ách chuồn đón khách ngoại quốc. Khi vắng mối, bất đắc dĩ mới chọn đạp cho người Việt lấy tiền trả thuế nửa buổi xe. Mười một giờ hoặc nếu hôm nào cải lương hay, chín giờ đã thấy anh lần về rủ vợ đi coi hát. Ban ngày anh ngủ liên miên, hễ thức thì lại khơi chuyện làng xưa và cuối cùng bao giờ cũng cố hỏi :

- Tại sao chú vô đây. Ở nhà có sướng không ? Chú dại thiệt là dại !

Tôi chưa nói tình cảm quê hương cũ cho anh nghe. Mà dẫu có nói chắc cũng không tin. Những người không biết hay xa đất Bắc nhiều năm, mấy ai đã tin lời kẻ di cư. Họ sống bằng mộng tưởng và vẽ ra hiện tại huy hoàng của đất mộng. Kể gì anh Tường phu xích lô, hồi chúng tôi chân ướt chân ráo ngỡ ngàng bước trên nẻo đường miền Nam, vô số sinh viên, trí thức điểm mặt chúng tôi, ghép chúng tôi là đồ vô liêm sỉ, bán nước, theo giặc. Thế nên tôi chả cần giải thích vội với anh Tường. Vả lại, xen câu chuyện chính trị vào tình cảm riêng tư ích lợi gì. Tôi muốn chinh phục anh Tường dần dần chứ không muốn mất anh Tường như tôi đã mất bao nhiêu thứ bên kia ranh giới. Vậy câu trả lời anh tôi là :

- Em thích giang hồ, bạn bè rủ em đi.

Câu trả lời ấy vừa lòng anh chị tôi, vừa lòng luôn cả xóm Cầu Cống ngàn năm không ánh đèn điện. Mọi người xúm nhau mua bia, nước cam mời tôi uống, bắt tôi diễn tả quang cảnh tưng bừng của "quê hương độc lập, tự do". Tôi nghĩ đến những con vẹt, những thằng người Mác-xít đã từng len lỏi rắc mầm mống bệnh hoạn, đã từng rót vào tai đám dân nghèo nàn này nhiều mộng ước, đã cho họ ăn bánh vẽ ở cái thời mà đường đất xứ sở toàn phường cẩu nhãn nghênh ngang phì nọc độc, cái thời mà giá trị con người xóm Cầu Cống ngang với giá chợ heo, chó. Và hôm nay nữa, những thằng người Mác-xít còn hành động gì? Tôi khoe khoang, khoe khoang là điều tầm thường đáng phỉ nhổ. Nhưng nói thực, tôi là kẻ sẵn sàng chiến đấu. Vậy mà trước đám người quê hương, tôi tự tthấy mình nhỏ bé, yếu đuối. Tôi biết một mình tôi cô độc chằng làm nổi. Tôi đành thua trận đầu, mắc nghẹn, đau đớn mà kể chuyện ngoài Bắc "vui, no lành, sung sướng" sai sự thực, khác cả 100% : Em tôi phải bỏ học. Mẹ tôi phải trở về làng cày cấy. Cha tôi bị đổi rất xa quần quật phục vụ chánh phủ ăn lương gạo. Tôi chả nỡ ghét người xóm Cầu Cống. Họ đáng thương hại như anh chàng mê gái dám cầm dao đâm tình địch.

Anh Tường cũng say sưa chủ nghĩa ngoài kia lắm. Anh hay nhắc dĩ vãng kháng chiến và hãnh diện tiêu diệt được nhiều thực dân. Năm 1946, anh vào đội "Thanh-niên Tiền-phong" võ trang gậy tầm vông, dáo mác chống liên quân Anh-Ấn-Pháp. Lúc rãnh rổi anh thường tả những cái ụ bên đầu cầu Quay đối diện với nhà hàng Hồng-kông Thượng-Hải. Mắt anh sáng rực khi anh nhớ lại Rạch Đỉa bên Bình-xuyên nói dòng nước cuốn xoáy mất tích bao nhiêu kẻ thù dân tộc. Nhiều bận một mình anh len lỏi trong thành phố dán bích chương. ném lựu đạn... Anh hỏi tôi có biết chuyện cậu bé tẩm dầu vào người đốt kho xăng của địch? Tôi khe khẽ hát bài "Tiếng súng Nam-bộ" trả lời anh. Tôi kể lại hồi ấy thanh niên làng tôi tình nguyện vào Nam giết giặc. Anh tôi sung sướng. Mắt anh sáng rực, tay đập phản gỗ, miệng ca "Tiếng súng vang sông núi miền Nam vì mưu lấy miền Nam. Ta muốn băng mình tới phương Nam xé xác quân tham tàn..."

Tôi mường tượng ra chuỗi ngày u ám, thảm sầu của anh ở đồn điền Hớn-Quảng. Rừng thì đầy hổ, suối thì đầy cá sấu và chuỗi ngày anh làm gã trai giành độc lập cho xứ sở, mà yêu anh vượt lên tình cảm thông thường. Pháp bắt anh hai lần. Phòng nhì tra tấn anh sống đi chết lại. Bây giờ ngực anh còn đau mỗi khi thời tiết thay đổi. Có thể vì thế anh trở nên bất lực về đường tình dục. Được tha, anh Tường trốn ra chiến khu miền Đông chiến đấu mê man dưới làn mưa đạn. Sau anh bị thương, bị cầm tù. Mãn hạn, anh ở Sài-Gòn. Anh đạp xích lô từ đó.

Hiện thời không biết anh còn hoạt động gì cho kháng chiến vì anh rất bí mật và khánh chiến cũng hết rồi. Xem chừng anh ghét công cuộc di cư cay đắng. Anh bảo anh định hồi hương cùng với những người tập kết nhưng anh muốn về làng giầu có vẻ vang nên hoãn ý định lại. Anh hy vọng hai năm sau, thời cuộc đổi thay, sẽ tính chuyện khác. Anh khuyên tôi nên tin tưởng "cụ Hồ". Tôi ậm ừ tỏ vẻ tán thành. Và như vậy tôi sắp khám phá được nhiều điều lạ lùng.

Anh Tường chịu khó mua tranh vẽ các vị anh hùng dân tộc như Phan Đình Phùng, Duy Tân, Đề Thám, Nguyễn Thái Học... Anh cắt dán rất mỹ thuật trên vách ván, thắp hương thờ phụng. Lòng yêu nước của anh còn bộc lộ trong những vần thơ hùng hồn anh thuộc vanh vách. Anh đọc thơ vào lúc tâm hồn thanh thản. Hỏi anh về cuộc sống tương lai, anh mỉm cười im lặng. Nguyện vọng tha thiết nhất đời của anh là được về đất Bắc sửa sang ngôi mộ mẹ và viết quyển hồi ký “Đời xích lô”. Anh phàn nàn học kém quá chứ không anh đã thành văn sĩ. Anh tâm sự với tôi rằng anh sẽ cố viết, tôi sửa lại. Nhưng chẳng bao giờ anh viết. Tuy cao hứng, anh vẫn khóc.

- Xích lô là cái nghề dư nhân tâm thừa bạc ác. Tường này mà tả đoạn dẫn Tây đến nhà điếm, rồi hai đứa làm "com bin" với nhau thì cứ gọi là tổ sư Tây cũng mất bóp.

- Thật hả anh?

- Tôi nói thiệt tình. Chứ đại sứ Mỹ mà lên xích lô tôi cũng bị bịp đô-la như bỡn.

Khi tình cảm trào dâng, anh nói toàn những chuyện "dư nhân tâm" cảm động đáo để. Tôi ước mong có dịp thực hiện giùm anh nguyện vọng thứ hai. Tôi bảo anh. Anh sung sướng dặn:

- Nếu in sách thì chú nhớ vẽ bìa hình thằng phu xích lô nằm gác xe cạnh vỉa hè mơ màng điếu thuốc "Ách-chuồn" nghe. Nhớ thuốc Ách-chuồn mới hay!

Tôi buồn cười nín chẳng nổi. Anh tôi tưởng tôi khôi hài, nghiêm nét mặt:

- Đừng rỡn chú, hôm nào tôi kể chú nghe cái tích thuốc Ách-chuồn trong đời xích lô mưa nắng của tôi chú mới thấy là tuyệt.



Tôi sống ở xóm Cầu Cống với anh tôi được hơn một tháng thì bọn phiến loạn Bình-xuyên gây sự. Chúng tôi lên hè phố Catinat trú tạm. Ít ngày sau im tiếng súng, chúng tôi trở về dọn nhà xuống gần cầu Tân-Thuận. Anh tôi dạo này vắng nhà cả ngày. Gặp nhau, anh đem những tin tức miền Bắc càu nhàu hỏi tôi:

- Thật không hở chú?

Tôi biết là thực, nhưng đã nhủ không xen chuyện chính trị vào tình cảm riêng tư, nên tôi lựa lời đáp:

- Báo ấy mà, anh còn lạ gì.

Anh tôi tươi nét mặt, hài lòng câu trả lời vu khống ấy. Tôi hiểu anh Tường như tôi hiểu những người nghèo khổ bị xã hội khinh bỉ, áp bức, tâm hồn sẵn đâm chồi thù oán. Họ thèm lời an ủi, thèm lời hứa hẹn dù chỉ là hứa hẹn suông. Một khi đã hứa giúp họ tạo cuộc sống no lành mai hậu, thì họ tin tưởng tới cùng, và họ dám hy sinh tất cả. Anh Tường thân mến của tôi đã bị bùa phép Cộng-sản chài mất rồi. Tôi mà nói rõ chuyện miền Bắc với anh lúc này chẳng khác gì nước đổ lá khoai. Anh đang si mê đến ngu dại. Tôi cố chờ dịp khác.

Tới một đêm anh về rất khuya, mặt mày tái mét. Tôi hỏi, nhất định anh câm nín. Anh giục tôi đi ngủ. Anh ngồi dưới ngọn đèn móc túi áo blouson ra nắm giấy to tướng. Tôi vẫn chú ý anh từ lâu, tôi vùng dậy đòi xem tập giấy. Giọng anh run run sợ sệt:

- Đừng mó vào, truyền đơn đấy chú!

- Truyền đơn gì?

- Truyền đơn của chính phủ ta.

- Chính phủ nào? Anh đừng sợ, em là em của anh mà.

- Chính phủ ngoài Bắc.

- Truyền đơn đả đảo chính phủ miền Nam hở anh?

- Ừ.

- Anh phải ném đêm nay à?

- Ừ.

- Thôi để sáng mai tính lại, anh run thế làm ăn gì được.

- Tôi vừa bị lính rượt.

Tôi hoảng hồn. Bây giờ mà cảnh sát ập vào đây tóm cổ tôi thì ăn nói sao đây? Cả đêm ấy tôi thức trong lo âu hãi hùng. Sáng sau tôi dậy sớm nói chuyện với anh Tường. Tôi phải để tới sáng vì nhiều duyên cớ. Có thể tôi sợ anh tôi thủ tiêu tôi. Có thể đêm tối tôi chưa đi được. Tôi trình bầy anh nghe rõ rệt cuộc sống hiện tại ở miền Bắc. Tôi giải thích cho anh tôi rõ kháng chiến và Cộng-sản, những cuộc đấu tố dã man, những sự phản bội dân tộc của "cụ Hồ". Tôi không quên nói điều cần thiết nhất là tình thương yêu gia đình bị chà đạp... Anh tôi lắc đầu hoài nghi. Anh bảo tôi là phản động. Tôi cúi đầu chịu đựng. Rồi tôi xét khó sống mãi trong tình cảm bất đồng tư tưởng này, tôi xin phép anh đi nơi khác. Anh chị tôi nín lặng, chẳng đồng ý mà cũng chẳng phản đối. Trước khi xách hành lý khỏi nhà, tôi khuyên anh đừng ném truyền đơn nữa nếu anh còn muốn sống để về làng xưa đắp lại ngôi mộ mẹ. Anh tôi hết giận ngồi im. Tôi chắc anh nhìn theo bóng tôi, đau khổ.



Giã từ xóm nghèo miền Khánh-hội, tôi mang theo bao nhiêu ẩn ức. Sự đau khổ dày vò tôi lúc này là anh tôi nghi ngờ tôi, anh đã dứt tình tôi. Tôi nói có sai đâu. Chắc chắn anh tôi dọn nhà đi nơi khác rồi vì anh sợ tôi sẽ tố cáo tội phá hoại. Anh Tường không nghĩ thế, nhưng ở ngoài Bắc, chuyện ấy người ta làm như điểm tâm mẩu bánh mì. Cũng may anh còn túng bấn chưa kịp hồi hương. Tôi nhớ chuyện những đứa con nuôi kể tội ác cha mẹ đỡ đầu chúng trước đám đông. Tội bóc lột sức lao động của chúng từ thuở nhỏ và chúng đòi lại bằng cách sỉ nhục, đấm đá người thân yêu đã nâng niu chúng có khi như con đẻ. Anh Tường mà ở miền Bắc, biết đâu anh chẳng lôi mẹ tôi ra đấu tố. Cộng sản dạy anh, chứ bản tính anh, bản tính hiền lành của người Việt-nam có bao giờ hèn hạ như vậy. Tôi bỗng thương anh tôi trọn chuỗi tháng ngày anh cạo mủ cao su đồn điền Hớn-quản.

Thỉnh thoảng tôi ra bờ sông Sài-gòn hứng gió, tôi tìm một người quen xóm cũ hỏi thăm tin tức anh. Được biết anh vẫn mạnh khỏe, tôi mừng. Rồi tôi cũng lao đầu vào cuộc sống.



Hai năm sau tôi trở lại Sài-gòn. Việc đầu tiên là đến thăm anh Tường. Tôi nghĩ rằng, qua thời gian suy nghĩ, hoạt động, anh tôi đã hiểu thấu đôi phần sự thực phũ phàng về Cộng-sản. Đôi phần thôi, như mình muốn gỡ tung bối chỉ, chỉ cần tháo được cái nút. Tôi theo lối gỗ cầu dài bắt trên sình lầy hôi thối vào nhà anh. Tôi đoán sai. Anh tôi không sợ tôi đi báo, vẫn còn ở khu gần cầu Tân-thuận. Anh em gặp nhau, anh tôi sung sướng giống lần anh tìm tôi trên gác ba nhà hát lớn. Anh hỏi tôi làm gì hai năm nay. Tôi nói ra Trung dạy học.

Anh tôi dạo này gầy ốm tiêu điều. Anh mệt quá phải nằm trên ghế bố nói chuyện. Lúc ấy chị tôi vắng nhà. Thằng con nuôi của anh đang nghịch ngợm với lũ trẻ ngoài lộ. Căn nhà im lìm, ghê sợ. Tôi thấy anh tôi khóc, ái ngại bước đường lưu lạc của tôi :

- Chú có khổ không, từ bữa chú bỏ đi anh lo cho chú quá.

- Em lớn rồi anh ạ! Đau khổ mới nên người chứ, anh khỏi lo.

Tôi hỏi anh ốm bệnh gì. Anh ho sù sụ một hồi bắt đầu kể. Giọng anh trầm buồn thiểu não. Sau những đêm ném truyền đơn, căng biểu ngữ tuyên truyền đả phá miền Nam, sau những lần gài plastic, ném lựu đạn thành công mỹ mãn, anh Tường bị thộp cổ. Trong cuộc điều tra, bản tánh chất phác của anh cố giấu giếm, nhưng bị thua sự khôn khéo của những người xét hỏi anh. Họ không đánh, chỉ cười thôi, mà dồn anh vào chỗ bí, phải khai thật hết. Các đồng chí của anh, vì thế, bị thộp cổ theo anh khá nhiều.

Cùng bị giam một trại với nhau, bọn đồng chí cũ khép anh vào tội mưu phản, len lỏi vào tổ chức của chúng để dọ thám. Chúng cậy đông, xúm vào đánh anh, định đánh cho đến chết. May tiếng ú ớ của anh kêu qua cái khăn nhét vào cổ họng cũng đủ báo động cho nhân viên trật tự vào cứu anh, rất may là còn kịp.

Anh được nằm trong nhà thương của trại giam. Hết ba tháng, được về, lại vào nhà thương thí. Bên giường bệnh chỉ có vợ con anh thăm nom, cùng với dáng dấp hiền từ của những bà phước áo trắng.

Kể đến đây, anh Tường bắt tôi nói hết chuyện miền Bắc. Tôi cứ việc đem sự thật trình bày, không vu khống, không xuyên tạc. Anh tôi cảm động chớp chớp mắt thật mau. Anh chợt nghĩ ra công lao chiến đấu của anh hơn mười năm nay đã biến thành công dã tràng. Quay lại hướng tình cảm, anh tôi van nài:

- Chú tha lỗi cho anh.

- Anh có lỗi gì ?

Tôi nghĩ nhiều về anh Tường. Thuở nhỏ, mẹ cha nghèo đói phải làm kiếp con nuôi. Lớn lên thì chịu đựng những hình phạt tàn nhẫn của những ngọn roi oan nghiệt đồn điền. Anh tôi có quyền chiến đấu tìm tự do cơm áo. Điều đáng trách là không ai hướng dẫn anh để sau này anh dại dột ném lựu đạn, gài plastic giết người cùng anh chung một ý nghĩ. Tôi ở xóm Cầu Cống đã lâu. Xóm ấy nghèo khổ, dốt nát. Buổi chiều nước lên tràn ngập nền nhà. Buổi sáng nước rút trơ bùn, phân, rác rưởi hôi thối. Ánh đèn điện yếu ớt ngoài lộ soi dấu chân nào tìm đến cuộc sống hẩm hiu, soi dấu chân nào tìm đến mộng ước ? Thỉnh thoảng có tiếng phóng thanh vọng tới : "A-lô! A-lô! Đả đảo Cộng-sản!" Thỉnh thoảng có tờ bích chương dán mãi ngoài cổng xóm.

Thỉnh thoảng có tổ chức phát bột mì, sữa hộp, thì người ta biến nó thành cuộc phát chẩn bệ rạc. Thỉnh thoảng có chiếu bóng ngoài lộ thì chỉ chiếu phim ruồi, bọ, khuyên ta nên ăn ở hợp vệ sinh, khi xóm Cầu Cống toàn sình lầy hôi thối. Thỉnh thoảng có chích thuốc phòng dịch, người ta nhăn nhó mặt mày vì những em bé gầy ốm, do bẩn.. Xóm Cầu Cống đói khát hạnh phúc, thèm thuồng ánh sáng dẫn đạo, thèm thuồng mọi sự hiểu biết. Đêm đêm ma quỷ, đội lốt người, hiện về dỗ ngon dỗ ngọt nên theo chúng nó. Ma quỷ phác họa cảnh thiền đường ngoài nớ, và xóm Cầu Cống thiêm thiếp ngủ say. Ngày ngày bọn sợ trách nhiệm, lười biếng, bọn cầu an, xu thời qua đây giơ bàn tay béo mẫm, hô to: "Đả đảo Cộng-sản". Thử hỏi xem ai có nghe rõ gì không !

Anh tôi chả tội lỗi gì ! Tôi cũng nghĩ nhiều về những tâm hồn hống hách còn sót lại nơi này, nghĩ nhiều về một số trí thức miền Nam : bác sĩ có, dược sĩ có, kỹ sư có, luật sư có, ký giả có mà còn ngu đần theo Cộng-sản, nằm vùng phá hoại nếp sống thanh bình của dân hiền, thì kể chi anh Tường phu xích lô của tôi. Với kẻ thù, chúng ta giết nó bằng súng đạn, chứ với bọn phản bội, thì phải quăng xác chúng nó vào chuồng mãnh thú. Anh tôi chả tội lỗi gì hết. Có khi nào mẹ hất hủi con, ngày đứa con lạc bước quay lại tổ ấm gia đình ? Tôi nhìn anh Tường rưng rưng nước mắt. Giọng anh buồn buồn thống trách :

- Phải chi tôi biết sớm, chú đỡ khổ, mà tôi vẫn hy vọng về làng xưa đắp mộ cho mẹ.

Tôi an ủi anh :

- Mình còn sống lo gì anh. Em tưởng nếu cần thì ta làm lại tẩt cả.

- Tôi bệnh tật quá.

- Em thì trẻ quá, khỏe mạnh quá.

- Tôi sẽ giúp chú, bớt ốm tôi xuống xóm Cầu Cống nói chuyện lại cho ngưòi quê hương nghe.

- Anh không sợ à ?

- Sợ gì ?

- Sợ Cộng-sản !

- Mẹ ! Trước mình khờ khờ chứ nay khôn rồi chú ạ ! À lúc này chú ở đâu ?

- Em ở trọ.

- Hay về với vợ chồng tôi ? Tôi dành dụm được món tiền nhỏ, ta dựng căn nhà lá hẻm Kho 5. Tôi cũng ghét cái xóm này cay đắng. Chú tính sao ?

- Anh để em nghĩ.

- Nghĩ quái gì, chú bảo, "nếu cần thì ta làm lại tất cả". Bộ chú ngán sống cạnh tôi à ?

- Đâu có, anh Tường !

- Tội nghiệp, chú đừng bỏ tôi đi !

Im lặng một lúc, tôi nói :

- Vâng, mai em mang hành lý tới nhưng em phải đi dạy học chứ không ru rú xó nhà ăn bám anh chị đâu.

- Được rồi ! Chú bằng lòng là được rồi. Là anh sung sướng muốn chết rồi. Anh ngỡ chú giận anh. Nói thiệt, có lần anh tưởng chú tố cáo anh... Trời Phật tha tội anh. Trời Phật phù hộ chú...

Anh tôi vừa nói vừa khóc. Lần thứ nhất trong những ngày bên anh, tôi mới thấy anh Tường xưng "Anh" với tôi. Tiếng nói ấy sao mà thắm thiết thế. Tim tôi xao xuyến, mắt tôi ánh lên viễn tượng ngày mai gia đình xum họp. Giữa khi ấy, chị Tường dắt con đẩy cửa bước vào. Chị nắm chặt cánh tay tôi, thằng cháu Tưởng ôm chằm lấy chân tôi líu lo "Chú, chú, chú..." Hồi cháu mới tập nói, mẹ cháu dạy cháu ba tiếng "Ba, Má, Chú". Tôi nín thở đón nhận hạnh phúc. Thì ra bằng tình cảm chân thành, tôi đã chinh phục nổi anh Tường. Tôi thắng trận cuối cùng đẹp như cái bìa cuốn sách mơ ước của người anh nuôi quê mùa cũ.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
Display posts from previous:  Sort by  
Post new topic Reply to topic  [ 25 posts ]  Go to page 1, 2, 3  Next


Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests


You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum

Jump to:  

POWERED_BY
Translated by Maël Soucaze © 2009 phpBB.fr

MangTreVN được xây dựng từ 1 nhóm bạn trẻ vào Tháng 2, 2010 và phát triển bởi các Thành Viên.
Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về nội dung mà người dùng đưa lên hoặc download