Welcome to www.MangTreVN.com. Click here to register
It is currently 18 Nov 2017 04:34




Post new topic Reply to topic  [ 54 posts ]  Go to page Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next
Author Message
PostPosted: 16 Nov 2014 08:33 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
31 . Đào mơ


Thời ấy, ở một huyện lỵ buồn tẻ, tôi sống như bị chôn giữa bốn bức hàng rào dày, qua đó tôi trông ra đồng rộng mênh mông như qua then lồng, con chim non nhìn quãng trời xanh lá biếc. Rất ngắn ngủi những giờ giải trí của tôi, sau những giờ học dài đằng đẵng.
Ngày nay đã có lần tôi trở về thăm nơi kỷ niệm cũ. Tôi thấy nó nhỏ hẹp quá. Thời xưa đối với tôi, nó rộng như một thế giới. Cái hồ sen mà cặp giò nhỏ xíu của tôi không mấy khi chạy nổi một vòng, bây giờ tôi thấy chỉ như cái bể nước đựng núi non bộ, tròn trĩnh, nhẵn nhụi, hàng giậu dâm bụt vây chung quanh cắt xén bằng chằn chặn. Hai cái nhà tây - tây là vì nó có hiên, có trần và có nền cao - đứng đối nhau hai bên công đường, tôi thấy giống như thứ đồ chơi trẻ con. Trong một nếp nhà ấy, tôi đã sống bao ngày bằng phẳng, đều đều, với quyển sách chữ nho, với cái bút lông tô dạm nét son của một ông thầy học nghiêm khắc; với những buổi chiều hè vang động tiếng sáo diều trên không, và, trong yên lặng hoàn toàn, với những buổi trưa chán nản kéo dài tiếng cút kít gióng một của chiếc xe lợn trên con đường thiên lý.
Trong cái thế giới buồn tẻ ấy, thỉnh thoảng một bọn hát chèo lại đem đến cho mấy anh em chúng tôi một ít màu tươi của sự thay đổi: một hai tối, có khi luôn một tuần lễ, cái sân huyện trở nên một nơi hội hè om xòm, tiếng cười của dân phố huyện đến xem chen với giọng ca của cô đào, tiếng thét của ông tướng mặt xanh mặt đỏ, câu pha trò của vai hề quê mùa vừa nhạt nhẽo vừa tục tằn.
Rồi gánh hát từ giã ra đi, cái huyện nhỏ lại rơi vào trong yên lặng buồn tẻ.
Phần nhiều những phường chèo ấy, tôi còn nhớ tên phường "Kha lý", phường "Quốc nhớn", phường "Quốc con". Nhưng cái phường, khi ra đi làm cho tôi ngao ngán, khổ sở nhất, thì tôi lại không biết tên là gì. Chừng vì đó cũng là một bọn hát tầm thường. Tôi chỉ theo ông thầy học tôi và những người lớn mà gọi là phường Mơ, vì trong số ba cô đào, một cô tên là Mơ.
Mơ là một cô gái quê chừng mười tám tuổi. Thân hình uyển chuyển của Mơ càng uyển chuyển khi Mơ đóng những vai đào lẳng như Vân Dại, Thị Màu hay Vợ quỷ. Và mặt trái xoan đều đặn của Mơ dưới lớp phấn chèo trông lộng lẫy như trong bức tranh tiên. Hoạt động nhất là hai con mắt đen láy của Mơ, hai con mắt bao giờ cũng cười trước khi cặp môi hé mở hàm răng hạt huyền.
Năm năm, cứ sang xuân, trong thời còn nghỉ học, tôi lại mong nhớ Mơ, sự mong nhớ âm thầm, buồn bã của một tâm hồn ngây thơ. Quả nhiên, trong hai tháng sau tết, các phường chèo kế tiếp nhau đến, tựa bầy chim én trở về cùng với những ngày quang đãng, ấm áp, vui tươi.
Tim tôi hồi hộp khi tôi thấy những gánh hòm vuông sơn đen, sơn đỏ qua cổng huyện, tiến vào trong sân. Và tôi thất vọng nếu phường xin hát không phải là phường Mơ. Nay nhớ lại, tôi còn cảm thấy sự thất vọng của tôi mênh mang không biết đến đâu tuy chỉ là một sự thất vọng trong phút chốc. Rồi tiếng trống chèo rung đổ hồi lại đem vui cười vào lòng tôi ngay.
Nhưng thế nào, sớm muộn, phường Mơ cũng đến, ít ra mỗi năm một lần, trong mùa xuân. Gặp Mơ, tôi cảm động nghẹn ngào ngây người đứng nhìn. Mơ cũng yêu tôi lắm. Nàng chạy vội đến bế bổng tôi lên mà hôn chùn chụt ở hai bên má tôi, khiến tôi sung sướng nóng bừng cả mặt. Rồi nàng thỏ thẻ bảo tôi:
- Cậu lên xin phép thầy cho chúng tôi hát nhé?
Tôi cho câu ấy là thừa, vì cũng như tôi, những người lớn đều thích phường Mơ cả, bắt đầu từ thầy học của tôi. Chỉ trông cánh tay ông giơ cao roi chầu, ra sức vụt mạnh vào tang trống, khi Mơ múa hát, cũng đủ biết ông yêu Mơ đến bực nào. Lúc không cầm chầu thì ông trố mắt nhìn Mơ, và lớn tiếng thốt những câu bình phẩm sỗ sàng để chòng ghẹo Mơ, làm cho Mơ phải mỉm cười dù lúc Mơ đóng vai pho tượng như tượng đức Phật Quan Âm.
Rồi sau một, hai hay ba hôm, Mơ lại theo phường bạn rời đi nơi khác. Chẳng bao giờ tôi cảm thấy tôi trơ trọi bằng lúc ấy. Tôi ngơ ngẩn như người mất linh hồn. Anh tôi thấy thế cười, bảo tôi:
- Dễ Linh nó ốm tương tư cái Mơ đấy.
Tôi xấu hổ, cười gượng, rồi trốn vào xó tối đứng sụt sùi khóc.

Từ khi ra tỉnh theo học chữ Pháp, không một lần nào tôi gặp Mơ nữa. Nhưng mỗi năm, sau những ngày rét mướt, gió ấm mùa xuân lại thổi vào tâm hồn tôi sự mong ước nhớ nhung không cỗi rễ. Phải chăng đó là vết tích mối tình thơ ấu của những ngày sống giữa sự lạnh lẽo nặng nề?
Cách độ hơn mười năm, một hôm tôi gặp một người kép hát trong một rạp chèo ở một tỉnh nhỏ. Người ấy nhận được tôi, nói vì tôi không thay đổi mấy. Kỳ thực, người ấy đã hỏi dò lai lịch tôi. Khi biết bác kép trước cùng ở một phường với Mơ, tôi vội vàng hỏi thăm tin tức cô đào hát. Bác ta cười bảo tôi:
- Chị ấy nay đi cầu bơ cầu bất hát chẳng rõ ở đâu.
Rồi kể cho tôi nghe cái đời khổ sở của Mơ, Mơ lấy lẽ một ông chủ đồn điền. Vợ cả ghen, ông này đưa Mơ về Hà Nội thuê nhà cho ở. Nàng đã sinh được một trai. Một tối ông ta cùng Mơ đi xem chèo. Mơ nhớ đến nghề xưa liền bỏ chồng con xin nhập bọn rạp hát. Chẳng bao lâu Mơ được chủ rạp yêu quí. Nhưng Mơ đã "quen nết hư" chẳng giữ tình chuyên nhất với một ai, nay đi với người này, mai ở với người khác. Nhất Mơ lại phóng đãng thái quá nên mất cả giọng, tàn cả nhan sắc.
Tôi hỏi:
- Mơ hát không còn hay như xưa nữa?
Anh kép ngoác cái miệng rộng ra cười:
- ấy, ông cũng còn nhớ đấy: chị Mơ hát hay lắm, có lẽ hay nhất "Bắc cờ". Mà chị ấy cũng đẹp hơn hết các cô đào hát "Bắc cờ".
- Thế bây giờ chị ấy đâu?
- Bây giờ chị ấy bệ rạc, đói rách lắm, ông ạ, cùng người chồng mù đi lang thang khắp đó đây hát gõ kiếm ăn.
Tôi kinh ngạc:
- Chị ấy lấy sẩm?
Người kép buồn rầu:
- Thưa ông cũng không hẳn là sẩm.
Rồi đột ngột hỏi tôi:
- Ông có nhớ anh Thiếp không nhỉ?
Tôi ngẫm nghĩ đáp:
- Không.
- Vâng, ông nhớ sao được, ngày ấy ông mới lên bảy, lên tám. Anh Thiếp trước ở cùng phường với chị Mơ, với tôi. Anh ấy có tài thổi sáo, kéo nhị. ấy, chị Mơ đã một dạo mê anh ta về tiếng sáo réo rắt.
Người kép ngừng lại một giây rồi lắc lư cái đầu búi tóc, đọc hai câu Kiều:
Rõ thực:
Có tài mà cậy chi tài.
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Và kết luận:
- Ông coi, chẳng qua là duyên số cả, ngày xưa chị ấy đẹp thế, tưởng làm nên bà nọ bà kia, ai ngờ...
Tôi buồn rầu ngắt lời:
- Thì chị ấy chả làm nên bà chủ đồn điền trong một năm là gì!
Bác kép thở dài:
- Thưa ông, giá cứ ở hẳn với ông chủ đồn điền thì nay cũng chả đến nỗi.
Bác ta cười sằng sặc nói tiếp như khi pha trò hề trên sân khấu:
- Giá ngày xưa mà ông đã lớn tuổi như bây giờ thì dễ thường ông cũng say mê chị ấy, đấy nhỉ?
Tôi nóng cả mặt và sợ người kép hát nhận thấy bẽn lẽn, tôi đánh trống lảng cười theo đáp lại:
- Hẳn thế, chứ lị!

Từ đó mỗi lần xuống phà hay qua hè phố, gặp một cặp vợ chồng, chồng kéo nhị vợ hát chèo, tôi lại tưởng nhận được tiếng Mơ. Và tôi miên man nghĩ đến những con chim sơn ca cùng mùa xuân, đem cái vui tới nơi thôn dã.
Và buồn rầu tôi thấy hiện ra trong ký ức hình ảnh một cô gái quê xinh đẹp, hình ảnh vai Vân Dại lẳng lơ, vai Thị Mầu nhí nhảnh, ái tình của cái tuổi thơ lạnh lùng trơ trọi.


Khái Hưng
Hà nội, 1940.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 16 Nov 2014 08:38 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
32 . Đợi Chờ


Cây im, sông lắng đợi xuân về.
(Thế Lữ)
Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.
Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.
Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.
Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.
Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ...
Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.
°
° °
Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.
Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:
- Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.
Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:
- Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.
Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:
- Thưa cô, xe liệt máy?
Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.
- Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.
- Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?
- Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.
Linh mỉm cười:
- ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.
Bà cụ sung sướng vội hỏi.
- Thưa ông, nhà ông ở gần đây?
- Thưa cụ, cũng không xa. Đây là đồn điền của tôi.
Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.
- Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!
- Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.
Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:
- Anh tài!
Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:
- Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây...
- Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.
- Chà, khó gì!
Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:
- Thôi được, để tôi đi lấy cho.
Thiếu nữ vội gạt:
- Chết thế thì phiền ông quá!
Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, dựt cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.
°
° °
Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.
Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:
- Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.
Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.
- Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.
Bà cụ từ tạ:
- Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về... Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?
Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:
- Thưa cụ, có dầu xăng rồi.
- ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.
- Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.
Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:
- Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.
Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:
- Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?
Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:
- Xin vâng.
- Vậy vào nhé, me nhé?
Bà mẹ mắng yêu con
- ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.
Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.
°
° °
Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.
Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.
Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:
- Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!
Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:
- Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.
- Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.
Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.
- Cô để tôi lấy giùm.
Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.
- ồ phí quá, ông nhỉ?
Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.
- ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.
Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:
- Phụng, xin phép ông về thôi!
Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ "về".
- Phụng, đi về!
- Vâng, con đây.
Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:
- Trời ơi! Quít ngọt quá! Ông nếm thử mà xem.
Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.
Linh thở dài, lững thững theo sau...
°
° °
Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.
Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.
Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.
Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.
Linh chờ đợi, mong ngóng.
Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu truyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.
Đã hai năm chàng chờ đợi...
Và trên bờ sông cao khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại. Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.


Khái Hưng
Hà Nội, 1940.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 16 Nov 2014 08:40 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
33 . dưới ánh trăng


Văn mướt mồ hôi, đọc đi đọc lại bức thư, lời lẽ quê kệch, vụng về, chữ viết nguệch ngoạc, ngòng ngoèo trên trang giấy học sinh kẻ chì.
Ông Văn,
Thưa ông, em khổ sở lắm, em chỉ muốn chết thôi. Nhưng em chả biết làm thế nào để chết được bây giờ. Từ khi thầy em biết em có tội, thì ngày nào cũng uống rượu say rồi lôi em ra đánh, vừa đánh vừa nhiếc. Còn bu em thời chỉ khóc. Bu em bảo em viết thơ cho ông. Em chả biết ông có còn thương em nữa không mà em viết, nhưng bu em bảo em cứ viết, nên em cũng viết, chứ em chả muốn viết tí nào cả. Em đã bảo ông, em đã lạy van ông rằng ông chả lấy được em đâu, thế mà ông không nghe, ông cứ dỗ dành em, làm khổ thân em thế này, bây giờ em còn mặt mũi nào dám nhìn thầy bu em nữa. Ông có còn thương em tí nào nữa thì ông định liệu cho em phận nào, em được nhờ phận ấy. Thầy em mà bị làng bắt vạ thì thực em làm cho nhà em xấu để đời. Vì vậy bu em bảo viết thơ cho ông để ông cho tiền em với lại đưa em đi đâu cho qua kỳ sinh nở. Em bé dại chả biết gì, nên em tin nhời ông, nhưng bu em chưởi em, bảo em rằng ông lấy sao được em, ông là con quan mà thầy em thì chỉ làm trương tuần, khi nào ông thèm lấy em, khi nào cụ lớn lại để ông lấy em. Bu em nói thế thì em hiểu ra ngay, rồi em chỉ khóc cả ngày cả đêm. Hôm xưa đứng ở bờ ao em đã toan đâm đầu xuống nước tự tử cho xong đời, nhưng em lại thương đứa bé ở trong bụng nó chả làm gì nên tội, nên em lại thôi, nên không sao em chết được. Ông xem thư này xin ông nghĩ lại cho em được nhờ.
Tẹo ký

Văn hai tay ôm đầu ngồi suy nghĩ. Chàng không ngờ đâu lại xảy ra tai hại đến thế. Ngọn đèn hiện trong chiếc bóng mờ tỏa xuống bàn giấy làn ánh sáng dịu khiến chàng hồi tưởng tới đêm trăng ấy, cái đêm trăng đã làm chàng trở nên điên rồ.
Và chàng như thấy hiện ra cái sân rộng lát gạch bát tràng với hai, ba chục người nhà quê vừa đàn ông, vừa đàn bà, con trai con gái quây quần chung quanh những đống lá thuốc tươi.

Dạo ấy, Văn về thăm quê hương sau hơn bốn năm xa vắng. Chàng theo học tại Hà Nội, mà cha mẹ chàng là ngành thứ lại ở luôn chỗ làm quan, nên ít khi chàng có dịp về làng. Lần này, chàng vừa đậu xong bằng tú tài, cha mẹ chàng thưởng chàng trăm bạc và cho phép muốn đi nghỉ mát đâu tùy ý. Chàng tưởng ngay đến nơi đã sống với bà cả một thời kỳ thơ ấu.
Xế chiều, Văn về tới đầu làng. Những cảm tưởng man mác làm rạo rực lòng chàng. Mỗi vật chàng gặp như một người bạn cũ hiện ra: Cái lạch nhỏ nước vẫn đỏ, cái cầu bằng tre vẫn chênh vênh, vẫn lảo đảo mỗi khi có người sang, cái cầu mà ngày còn nhỏ mỗi khi theo bác đi viếng mộ chàng phải để người ta cõng qua. Trên lối tắt rẽ vào làng giữa những bãi tha ma, những thửa ruộng nước, chàng vui mừng nhận ra từng cái khuỷu, từng quãng vòng, từng khóm chuối, từng bụi tre. Nhất cánh đồng thuốc xanh rì, chàng thấy vẫn y nguyên như ngày xưa, với những luống đất vuông vắn, cao ráo, với những cây thuốc bẻ ngọn đầy lá, to bản, với những người con gái mặc áo vải nâu non hay áo lụa, màu cánh kiến đổi vai the thâm, ngoài thắt chặt chiếc dây lưng hoa lý.
Văn đương mê mải ngắm người và vật thì ở một vườn thuốc có ai nói:
- Kìa! Hình như anh Văn?
Văn quay lại vui vẻ đáp:
- Phải, Văn đây!
- ồ! Độ nầy trông anh ấy to nhớn nhỉ?
- Bốn, năm năm không về, làm gì mà chả đổi khác.
Văn vừa trả lời vừa trố mắt nhìn người đàn bà đứng dưới rãnh vườn.
- Nhưng bà là ai mà nhận ra được tôi.
Có tiếng cười trong trẻo ở sau luống thuốc. Văn kiễng chân, rướn cổ, nghiêng đầu nhòm, nhưng chỉ trông thấy cái nón ba tầm, và hai cánh tay áo nâu:
- Ai mà cười ròn thế?
Người đàn bà cũng nhăn nhở cười theo.
- Cái Tẹo đây, anh còn nhớ cái Tẹo không, nhỉ?
Cái Tẹo? Không, chàng không nhớ. Thấy Văn đứng ngây người suy nghĩ, Tẹo bỏ nón, lại gần nói với người đàn bà:
- Đến bu, anh ấy còn chả nhận được nữa là con.
- à phải rồi, cô Tẹo, thế mà suýt nữa tôi quên.
Kỳ thực Văn vẫn chẳng biết Tẹo là ai, nhưng vì thấy cô bé xinh xắn, hay hay, chàng nói liều thế để làm thân. Còn lạ gì cái tuổi ngoài hai mươi đương bồng bột tình yêu!
Tẹo đắc chí lại cười:
- ừ, có thế chứ. Tưởng nay anh đỗ ông phán ông tham anh quên cả em.
Văn lo lắng nghĩ thầm: "Chết chưa! Em kia! Chẳng hiểu họ hàng ra sao đây?" Rồi chàng đứng vơ vẩn nhìn Tẹo.
- Cô hái thuốc đấy à?
- Vâng, hái thuốc. Sáng mai anh sang nhà dì ăn cỗ mừng nắng nhé?
Văn càng kinh hoảng: "Lại dì nữa! Dì mình hẳn là bu Tẹo". Muốn được chắc chắn, chàng hỏi:
- Thưa dì vẫn được mạnh?
Người kia vừa xếp lá thuốc lại thành chồng vừa đáp:
- Cũng khá thôi, anh ạ. Độ đầu năm tôi giã gạo, hụt chân xuống hố, đau mất đến một tháng đã tưởng què, nhưng sau nhờ được bà cử Thuận cho ít rượu... rượu gì, Tẹo nhỉ?
Tẹo cười:
- Rượu chổi!
- ừ, rượu chổi. Tôi bóp có năm sáu hôm đã khỏi hẳn may quá anh ạ.
Văn vẫn chưa rõ người đàn bà, nhất là Tẹo với mình có họ xa hay gần. Liền đánh bạo hỏi:
- Thưa dì, tôi hỏi thế này khí không phải, dì bỏ qua đi cho, dì với tôi có họ thế nào nhỉ?
- ừ phải đấy, hỏi cho biết chẳng cứ gọi là dì mà chẳng hiểu dì ra sao. Thế này này: bà án với tôi là đôi con dì.
- à, đôi con dì!
Thực ra Văn cũng chỉ rõ bà kia với mẹ mình có họ mà hình như lại họ xa.
- Quan lớn bà lớn có về chơi không anh?
Văn đăm đăm ngắm nghía hai bàn tay mềm mại thoăn thoắt tỉa lá thuốc, chẳng để ý vào một sự gì khác, khiến người đàn bà đã nhắc lại câu hỏi một lần nữa mà chàng vẫn không nghe tiếng. Thấy vậy, Tẹo tò mò nhìn chàng, mỉm cười ngây thơ nói:
- Anh Văn điếc đấy, bu ạ.
Văn cũng cười, chẳng hiểu sao Tẹo lại bảo mình điếc. Nhưng xách va li đứng giữa đường nói chuyện. Văn chợt nhận thấy hơi khó coi, nhất những người hái thuốc ở các thửa vườn lân cận lại cứ luôn luôn đưa mắt về phía mình và khúc khích cười.
Chàng liền ngả đầu chào:
- Thôi, dì hái thuốc, tôi xin về.
- Anh về đấy à? Mai mời anh sang ăn cỗ mừng nắng nhé?... Hay lại khinh nhà dì nghèo không thèm đến.
- Dì cứ nói thế!
Văn lững thững trở về nhà. Một lát quay lại nhìn: bọn người hái thuốc đã khuất trong lớp lá to bản.

Cha mẹ Văn giao cho một người em họ ở trông nhà. Nghe có tiếng chó sủa người ấy vội chạy ra cổng thì vừa gặp Văn:
- ồ! Cậu đã về. Quí hóa nhỉ. Quan lớn bà lớn có về không?
- Không, chú ạ.
- Cậu đưa va li tôi xách. Sao cậu không bảo anh xe anh ấy mang vào cho.
- Anh ấy gặp khách ngược, nên tôi để anh ấy kéo, chẳng nhỡ mất của anh ấy một chuyến xe. Với lại cái va li của tôi cũng chẳng nặng gì.
Rồi Văn hỏi luôn:
- à này, chú Vinh, cái Tẹo là con cái nhà ai thế nhỉ?
Ông lão cười:
- Sao cậu lại biết cái Tẹo? Nó là con chú trương Mẫn.
- Thế bà trương Mẫn có họ thế nào với nhà ta nhỉ?
- à, họ xa. Bà ấy với bà lớn nhà là đôi cháu dì.
- Sao bà ấy bảo là đôi con dì? Nhưng đôi cháu dì thế nào?
- Là thế này: bà ấy với bà lớn nhà là chị em con chú con bác.
- Thế thì xa thật!
Văn nghĩ đến Tẹo nên thốt ra câu ấy. Rồi sợ ông Vinh ngờ vực, lại hỏi lảng:
- Có chỗ cho tôi ngủ không đấy?
- Có chứ?
Ông Vinh quay ra gọi:
- Bé ơi!
- Cái gì đấy, thầy?
Một người trẻ tuổi, to lớn, lực lưỡng, ở dưới bếp chạy lên.
- Mày mở cửa gác quét dọn, lau chùi rồi lấy màn tây ra mắc nhé. Chìa khóa tao treo ở đầu giường ấy. Để tao đi bảo bu mày vo gạo thổi cơm. Mà kìa, thằng bé lạ chưa! Không chắp tay chào cậu à? Dễ nó quên cậu tú Văn rồi đấy.
Bé vui vẻ:
- ồ! Cậu Văn! Bây giờ cậu nhớn nhỉ?
- Tao hăm mốt tuổi lại chả nhớn!
- Thế thì hơn con hai tuổi.
Văn mơ màng ngước nhìn mấy ngọn cau, trồng bên tường hoa:
- Con gái làng ta đẹp lắm, chú Vinh ạ.
Ông Vinh cười:
- ở xóm ngoài kia, chứ khu ta có quái ai?
- Thế cái Tẹo chả đẹp là gì?
- ờ nhỉ! Cái Tẹo! Nó mới nhớn lên. Trông cũng khá... Tối nay ở nhà chú trương Mẫn rọc thuốc đây.
- Thế à?
Kỳ thực, Văn chả hiểu rọc thuốc nghĩa là gì.

Cơm chiều xong, Văn ra sân lững thững đi đi lại lại quanh mấy bồn hoa, tay lẩn mẩn ngắt những quả hồng khô, và những lá hồng bị sâu ăn lỗ chỗ.
Trời dần dần tối. Một lát sau, trên nóc nhà ngang, trăng tròn đã mọc, lấp ló trong những cành trúc đào thưa lá. Dáng cây mềm mại, nhẹ nhàng, Văn ví với dáng một cô gái quê yểu điệu thắt dây lưng ong. Và chàng nhớ ngay đến Tẹo.
Bé qua sân, Văn gọi, định hỏi thăm nhà bà trương Mẫn. Nhưng khi Bé đến bên, chàng ngượng ngùng lại nói lảng sang chuyện khác:
- Bé ạ... cây trúc đào này... giồng từ bao giờ thế nhỉ?
- Thưa cậu, mới giồng được ba năm nay. Cậu coi nó chóng nhớn thế!
- Bé giồng đấy à?
- Thưa cậu không, mợ huyện giồng đấy chứ.
Mợ huyện là chị dâu Văn.
- à chị huyện có hay về không?
- Thưa cậu, mợ ấy về luôn đấy, về để mua thuốc, mỗi năm mợ ấy mua có hàng vạn.
- Hàng vạn bạc?
- Không, hàng vạn bánh thuốc ấy chứ.
- Thế chị ấy không giồng thuốc?
- Không. Giồng làm gì. Bận chết đi ấy. Thường thường chỉ những người nghèo mới giồng, người giàu chỉ việc bỏ tiền ra buôn, còn vườn thì cho thuê.
Văn mỉm cười:
- Thế bà trương Mẫn cũng nghèo? Vì bà ấy cũng làm lấy vườn, chứ không cho thuê.
- Bà ấy cũng chả nghèo. Nhà bà ấy nhiều người làm lấy được thì tội gì mà cho thuê. Làm lấy được lãi lắm cơ, cậu. Có khi giồng một sào được lời đến hơn chục bạc.
- Thế kia?
Văn chỉ cốt gợi chuyện để hỏi thăm Tẹo. Còn trồng một sào vườn thuốc được lãi bao nhiêu, chàng có cần gì biết.
- à này Bé, rọc thuốc thế nào nhỉ?
Bé cười:
- Cậu không biết rọc thuốc thế nào? Rọc thuốc là rọc lấy lá để thái, còn cọng thì bỏ đi.
- Mày nói thế, tao còn hiểu sao được? Giá ở đây có rọc thuốc mày đưa tao đến xem thì hay quá.
Bé ngẫm nghĩ:
- Tối nay nhà bà trương Mẫn rọc thuốc đấy, chắc vui lắm, vì hôm nay bà ấy hái những ba sào.
- Nhà bà ấy có ở gần đây không?
- Gần, cậu muốn xem, con đưa đến. Giá con không phải ở nhà hầu cậu, thì con cũng đã lại làm giúp rồi.
- Việc gì phải hầu tao. Cứ lại mà làm giúp. Đi, tao cũng đi!
Văn cố tránh, không đọc đến tên Tẹo để Bé khỏi ngờ vực, nhưng tâm trí chàng chứa đầy hình ảnh và giọng nói, tiếng cười của cô hái thuốc gặp lúc ban chiều. Đi bên cạnh Bé, chàng mơ mộng lẩm bẩm nói một mình: đôi con dì, đôi cháu dì.
- Thưa cậu bảo gì ạ?
- Không. à, đôi cháu dì thì họ xa lắm, Bé nhỉ?
- Vâng, xa đến mấy cột lô mếch. Cứ kể con với cậu tuy chỉ là đồng tông cũng còn gần hơn đôi cháu dì, vì đồng tông thì cùng họ chứ đôi cháu dì thì khác họ. Đấy nhé, cậu họ Hoàng. Còn bà trương Mẫn thì cùng họ Bùi với bà lớn, nghĩa là đã họ ngoại rồi, đến như cái Tẹo lại họ Lê, còn dính dáng gì đến cậu nữa!
Có lẽ vô tình Bé đem Tẹo ra thí dụ, nhưng Văn cho là hữu ý. Chàng lảng sang chuyện khác và hỏi Bé về công việc trồng hái, cách thức làm và buôn, bán thuốc. Bé đem những tiếng nghề ra nói với Văn, khiến chàng không hiểu một tí gì. Chàng cũng chẳng cần Bé giảng rõ nghĩa. Mắt mơ màng, chàng còn mải nhìn bóng trăng lướt trong cành tre lả ngọn giao nhau trên đỉnh đầu. Đường xóm nhỏ, hẹp, quanh co, cây đèn dầu thấp thoáng qua khe giậu, tiếng khung cửi đều đều một dịp, giọng hát ru em rời rạc buồn tẻ, cái cảnh thôn dã nên thơ ấy gợi trong lòng gã thanh niên một mối tình man mác.
- Đêm trăng đẹp quá. Bé nhỉ?
- Vâng, trăng sáng quá. Mai thế nào cũng nắng to tha hồ mà mừng nắng.
Văn nhớ ngay đến bữa cỗ mừng nắng mà bà trương Mẫn và Tẹo đã ân cần mời chàng đến dự.
- à, cỗ mừng nắng là thế nào. Bé nhỉ?
- Là cỗ mừng nắng. Thái thuốc được nắng thì làm cỗ ăn mừng.
- à, ra thế? Ngày mai nhà bà trương Mẫn có cỗ mừng nắng đấy, Bé có sang ăn cỗ không?
- Có chứ!
Ra tới đường làng và nghe có tiếng mõ, Văn chưa kịp hỏi đó là mõ gì, Bé đã nói:
- Cỗ mai thế nào cũng có cá bể.
- Sao mày biết?
- Mõ bán cá đấy, cậu không nghe thấy à?
Văn cười:
- Mõ bán cá, hay nhỉ? Chẳng khác hàng sực tắc ở Hà Nội!
Mỗi vật trông thấy, mỗi tiếng nghe thấy, Văn đều cho là mới lạ. Chàng có cảm tưởng đương sống trong một thế giới đầy tình yêu, đầy mộng ảo.
- Rẽ vào ngõ này, cậu.
- Tẹo ở xóm này?
- Vâng, bà trương Mẫn ở xóm này?
- ừ, bà trương Mẫn.

Bé đưa Văn đi sâu mãi vào trong ngõ hẻm tối.
- Đây rồi, cậu ạ. Khéo cậu bước thụt xuống rãnh nhé.
Rồi đứng gọi:
- Chị Tẹo ơi! Mở cổng cho tôi mấy.
Tiếng ồn ào ở trong sân bỗng ngừng lại.
- Ai?
- Tôi đây mà.
Văn nghe rõ tiếng Tẹo ở phía trong cổng.
- Tôi là ai?
- Tôi là Bé.
- à, anh Bé! Sao không ở nhà hầu cậu Văn?
- Cậu tôi cũng đến đấy.
- ồ, cậu Văn cũng đến!
Cổng mở tung ra. Tẹo chào Văn bằng một dịp cười ròn như tiếng nhạc, rồi quay vào gọi:
- Bu ơi, anh Văn đến chơi đấy, bu ạ!
- Thế à?
Bà trương Mẫn đứng dậy chạy vội ra.
- Anh Văn đến chơi nhà dì đấy à? Quý hóa quá.
Văn nghe tiếng dì chả thuận tai một tý nào nữa. Nhưng chàng cũng đáp:
- Vâng, tôi đến làm giúp dì đây.
- Thế nữa cơ à? Vậy mời anh vào.
Hơn hai chục người, vừa đàn ông, đàn bà, con trai, con gái cùng chào:
- Cậu Văn mới về đấy à?
- Chào cậu lại chơi.
- Không dám, chào các ông, các bà.
- Nghe nói cậu đỗ ông tham, ông tú, ông cử gì, vậy có ăn mừng không?
- Có chứ. Tôi sẽ mừng một tiệc thuốc lào.
Tiếng cười phá lên, đủ các giọng cao thấp.
- Tưởng mừng cỗ bàn, rượu chè cơ, chứ mừng thuốc lào thì chúng tôi say chết.
Tẹo đã vào trong nhà bê ra một cái ghế lim lưng có hàng con tiện, đặt ở bên thềm. Nàng bảo Văn:
- Mời ông tham ngồi chơi.
- Mời ông tú thôi!
Tẹo cười vui sướng:
- Vậy mời ông tú ngồi chơi... Nào ông tú, nào ông cử, nào ông tham, còn ai nhớ được nữa?
- Cô cứ gọi tôi là anh Văn, dễ nhớ hơn...
Chàng ghé vào tai Tẹo thì thầm nói tiếp:
- Mà anh thích hơn.
Không hiểu đó là lời âu yếm, Tẹo lại cười:
- Vậy mời anh Văn ngồi chơi.
- Cám ơn cô nhé. Cô để mặc tôi.
Rồi Văn đi lại gần chỗ mọi người đương ngồi xổm rọc lá thuốc với cái "móc" làm bằng sợi cước buộc vào đầu hai cái đũa tre. Họ làm việc rất mau, hai bàn tay lanh lẹ đưa lên đưa xuống. Khắp sân tiếng rọc nghe xoèn xoẹt như tiếng xé giấy, liền liền không ngớt.
Bà lý Bá tính vui vẻ nói bông đùa luôn miệng, làm cho chốc chốc tiếng cười lại phá lên từng dịp. Bà ta hỏi Văn:
- Ông tú có biết rọc thuốc không?
Văn mải ngắm nghía mái tóc lòa xòa và cái mũi dọc dừa của Tẹo, nên lơ đãng trả lời:
- Biết chứ!
- ừ, thế thì khá. ở làng ta mà không biết rọc thuốc, cuộn thuốc thì giai ế vợ, gái ế chồng!
- Thế kia à? Vậy chắc cô Tẹo thì đắt chồng lắm nhỉ?
Tẹo ngước mắt nhìn Văn, có vẻ giận dỗi. Bà lý nhìn nàng nói:
- Nó sắp sửa có chồng rồi đấy. Bao giờ tao được ăn giầu, hử Tẹo?
Tẹo vênh mặt, hất hàm tỏ hết vẻ đanh đá:
- Bà cứ nói thế, chứ người ta thèm vào.
Văn tò mò hỏi:
- Cô ấy thèm vào ai thế, bà lý?
- Phải, nó thèm vào, chứ nó có thèm ra đâu! Con gái đứa nào chả thế. Nói đến lấy chồng thì thích chết đi nhưng lại cứ...
Tẹo cau có:
- Cháu van bà đi...
- Nhao ôi! Rồi lúc thằng Nghĩa nó xỏ mũi nó lôi về, mới...
Văn như nói một mình:
- Cô Tẹo là vị hôn thê của anh Nghĩa...
Và chàng căm tức đứng nhìn Tẹo...
ánh trăng giải xuống sân gạch bóng cây mít rườm rà đứng bên hồi nhà ngói. Tiếng sáo diều trên không, ngân nga một điệu... Văn lặng lẽ cảm thấy buồn mênh mông.
Rồi trong bọn người làm việc, những mẩu chuyện, những tiếng cười rời rạc, thưa dần, tuy không lúc nào ngớt hẳn. Bà lý Bá bàn:
- Giá ai hát hay, hát nghe cho đỡ buồn ngủ.
Một người:
- Lại còn ai nữa? Chị Tẹo hát hay nhất làng đấy!
- Vậy chị Tẹo hát cho chúng tôi nghe một câu nào?
Không đợi mời đến hai lần. Tẹo đặt que móc trên đống lá thuốc rọc rồi, mắt ngước nhìn trời, cất lời ca theo điệu trống quân:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Em ngồi cành trúc em tựa cành mai,
Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng?
Văn đứng phía trước, ngây người đăm đăm nhìn Tẹo. Và chàng ví giọng Tẹo với ánh trăng rằm trong sáng, với mùa lúa chín thơm tho.
Trèo lên cây bưởi hái hoa.
Bước xuống ruộng cà hái nụ tầm xuân,
Bỗng nàng cúi xuống cười ngất!
- Hát cho tử tế! Cớt nhả thế không được!
Tẹo vừa cười vừa trả lời bà lý Bá.
- Khốn nhưng mà... anh Văn anh ấy... cứ nhìn chòng chọc vào mồm... xấu hổ chết đi, ai hát được?
Văn cũng cười, rồi mê mẩn ngây ngất đáp lại.
- Khốn, nhưng mà miệng cô hát xinh lắm cơ, cấm người ta nhìn thế nào được?
Và Văn ao ước rằng Tẹo hiểu thấu ý nghĩa bóng bẩy của câu ấy, vì chàng chỉ muốn nói: "Em đẹp quá, anh yêu em quá, nhìn miệng em hát anh chỉ muốn hôn em một cái".
Chẳng rõ Tẹo có hiểu như thế không, nhưng bà trương Mẫn thì có lẽ hiểu như thế, vì bà bảo Văn:
- Anh cứ chế diễu em làm gì vậy? Nó quê mùa, xấu xí, lại đần độn nữa, chả biết cái gì.
Tẹo nhìn Văn, mỉm cười rất thẳng thắn. Nhưng Văn tưởng như cái mỉm cười ấy thì thầm bên tai chàng. "Em biết cái gì lắm chứ!".
Trăng càng lên cao càng trong. Và sân gạch mỗi lúc một thêm sáng, vì bóng cây, bóng nhà, bóng người dần dần thu ngắn mãi lại. Hơi ở lá thuốc lào nồng nàn bốc lên làm cho Văn nóng bừng mặt như say rượu: dưới ánh trăng chàng ngắm thấy người, vật như đẹp hơn lên bội phần và trong đó, Tẹo như một nàng tiên từ trên cung Nga là là bay xuống.
- Ô hay! Hát đi chứ! Sao lại cứ ngồi mà cười thế kia?
- Tôi chịu thôi.
Rồi Tẹo ngây thơ liếc Văn mỉm cười như có ý bảo:
"Tại anh đấy mà!"
Trong bọn có người nói:
- Cậu Văn làm chị Tẹo không hát nữa thì cậu hát đi!
- Phải đấy! Phải đấy! Cậu Văn hát đi cho chúng tôi nghe với!
Văn đứng mỉm cười mơ màng nhìn Tẹo. Ông trương Mẫn, người ít lời, từ nãy vẫn ngồi im ở một góc sân, mãi bây giờ mới lên tiếng và thủ thỉ như nói một mình:
- Cậu ấy học chữ tây thì biết hát xướng ra làm sao mà bắt cậu ấy hát?
- Thì hát tiếng tây chứ sao?
- ừ phải, hát tiếng tây. Cậu Văn hát đi!
Tẹo cũng nói:
- Anh Văn hát tiếng tây cho em nghe với nào!
Văn như mê mẩn, như điên cuồng, như quên rằng trong sân có bao người đương để mắt vào mình. Dưới đất chàng chỉ trông thấy có một Tẹo và trên trời một mảnh trăng trong.
Tẹo nhắc lại:
- Thế nào? Anh nhất định không hát?
Văn cười:
- ừ hát nhé? Hát cho cô Tẹo nghe nhé?
Tẹo cúi gầm mặt xuống, chẳng hiểu vì thẹn hay vì sung sướng:
- Anh hát thì tất cả mọi người nghe, chứ một mình gì em.
Văn hắng dặng rồi hát một mạch hết bài Serenata, mặc tiếng lao xao, mặc tiếng cười khúc khích chung quanh. Khi Văn ngừng lại thì tiếng cười phá lên rầm rầm như lúc đê vỡ, nước sông réo chảy vào trong ruộng thấp.
- Hát tây buồn cười nhỉ!
- Hát như khóc ấy nhỉ?
Chờ cho tiếng cười im hẳn, Tẹo khen lấy lòng Văn một câu, vì nàng tưởng Văn bị chế diễu thì xấu hổ:
- Anh Văn hát tây hay đấy chứ.
Rồi nàng tò mò hỏi:
- Nghĩa là gì, anh giảng ra tiếng ta cho chúng tôi nghe với.
Văn cười:
- Nghĩa cũng đại khái như bài hát của cô.
Tẹo tưởng thực, kinh ngạc kêu:
- ồ, lạ nhỉ! Tây mà cũng có những câu:
"Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?"
Văn càng cười to:
- Có lắm chứ!
Có lẽ Tẹo vờ ngớ ngẩn để được nói chuyện tay đôi nữa với Văn:
- Có cả: "Em ngồi cành trúc, em tựa cành mai,
Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng?"
Bà lý Bá chừng đã chướng tai về những câu chuyện hình như kéo dài vào chỗ buồn tẻ giữa đám người đã rời rạc, vì buồn ngủ, vì làm việc luôn trong bốn, năm giờ không một phút nghỉ tay.
Trong yên lặng, người ta nghe xoèn xoẹt tiếng rọc lá thuốc và tiếng sáo diều y-ô y-ô một điệu trên không. Thỉnh thoảng một cái ngáp lớn như tiếng kêu cất lên ở một xó, tức thì ai nấy ngáp theo, trong đủ các giọng cao, thấp, ngắn, dài.
Làn không khí chán nản lan rộng mãi ra. Và sự mỏi mệt như đè nặng lên những bàn tay uể oải. Văn chợt hiểu rằng mình ở xem đã khá lâu, liền chào mọi người để về nhà.
Tẹo vội đứng dậy, cuống quít hỏi:
- Anh về à? ồ sao lại về?
Bà trương Mẫn cười bảo con:
- Con này nó ăn nói ngớ ngẩn nhỉ? Sao lại về? Anh ấy chẳng về thì dễ ngủ đỗ lại ở nhà mày à?
Câu nói vô tình, thật thà của bà trương làm cho Văn mỉm cười sung sướng. Chàng thì thầm bảo Tẹo, khi nàng theo chàng ra cổng để cài then:
- Anh ngủ đỗ nhà em một tối có được không nhỉ?
Nhưng Tẹo cũng thật thà như mẹ, đáp lại liền:
- Được chứ! Anh cứ ngủ đỗ, nhà em cũng có màn, anh không sợ muỗi đâu.
Thấy Bé đi theo sau Tẹo, Văn ngượng ngùng nói:
- Sao mày không ở làm giúp bà trương?
- Con phải về hầu cậu.
Văn gắt:
- Tao không cần mày hầu. Cứ ở lại.
Chàng mỉm cười gật chào Tẹo một lần chót, rồi theo ngõ hẻm ra đường.
Về nhà, Văn không sao ngủ được, lòng băn khoăn, rạo rực về những sự êm đềm nơi thôn dã mà chàng như mới được làm quen lần đầu.
Tỳ tay thành cửa sổ thấp trong căn gác nhỏ, Văn ngắm trăng không chán. Chàng tưởng tượng chị Hằng gửi xuống tặng chàng một nụ cười thân mật và khuyến khích. Bất giác, chàng lẩm bẩm hát:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Và mơ màng nghe văng vẳng tiếng cười ròn của Tẹo theo gió biển bay đến bên tai. Lúc ấy, những hình ảnh các cô gái Hà thành, dù có hiện ra trong trí nhớ chàng, chàng cũng chỉ thấy mờ xạm, kém tươi, không đáng chú ý.

Sáng hôm sau, Văn thức giấc, thì mặt trời mọc đã cao, chiếu qua những khe cửa sổ ghép vụng và lâu ngày phơi nắng phơi mưa, đã hở mộng. Văn ngơ ngác nhìn trần nhà, nhìn những đôi câu đối treo ở tường, nhìn những đồ đạc sơ sài, một cái bàn và bốn cái ghế lim, một cái gương đứng mờ và mốc loang lổ, một cái tủ gỗ để mộc, một bộ ghế ngựa làm bằng hai tấm gụ đặt ghép lại nhau. Và chàng quên hẳn không biết mình nằm ở đâu. Mãi lúc nhớ tới giấc mộng đương dở dang, chàng mới sực tỉnh. Thì ra hôm qua chàng đã về làng, đã gặp Tẹo, mà cái gác chàng đương ở là nhà chàng.
Văn mỉm cười, mắt nhắm lim dim, ước ao rằng giấc mộng lại nối.
Giữa lúc ấy, chừng nghe có tiếng động, và biết Văn đã dậy, Bé ẩy cửa bưng vào một cái chậu thau vừa đánh vàng bóng, nước đầy quá, sánh cả ra ván gác:
- Mời cậu rửa mặt rồi xuống nhà xơi cơm.
Văn chau mày, gắt:
- Cơm nước gì bây giờ? Mấy giờ rồi?
- Con không biết, nhưng mặt giời lên đã cao lắm.
Văn với áo vắt ở ghế, rút đồng hồ ra xem:
- ồ! Thế mà trưa thực! Gần mười giờ rồi đấy.
- Đấy nhé!
- Vậy sắp cơm mau.
Văn ăn rất vội vàng, rồi rủ Bé cùng đi sang nhà bà trương Mẫn xem thái thuốc.
Tẹo đương bận làm cơm ở nhà dưới, nên Văn không gặp mặt. Chàng ngơ ngác đứng đưa mắt tìm khắp mọi nơi.
- Cậu ạ, hôm nay nắng to thuốc nhà chú trương tha hồ tốt.
Bé nhắc, Văn mới kịp để ý đến cái sân gạch tối hôm trước hôm nay bị che kín dưới những xảo thuốc sợi còn xanh. ánh nắng gay gắt. Hơi thuốc nồng nực bốc lên. Văn, nước mắt ứa ra, đứng hắt hơi liền liền.
- Anh Văn sang mừng nắng nhà dì thực đấy à? Quý hóa quá nhỉ!
Văn chào được một câu rồi lại cúi xuống hắt hơi.
- Thôi, anh không quen thuốc lào rồi. Vậy mời anh lên nhà.
Văn theo bà trương đi vòng qua ba gian nhà ngang. ở đấy, trên hai đống thuốc vừa thái, ba người đàn ông và bốn đứa trẻ con đương đạp cho sợi nhàu ra, những dòng nước thuốc đen chảy xuống sân và gặp sức nóng khô lại từng đám.
Gần đấy và cả ở hiên nhà trên, những giá thái thuốc dài trông như hình những con bồ cạp khổng lồ đứng xếp hàng và rượn cong đuôi lên. Ngồi trước giá, những người thợ thái thuốc tay phải cầm vào giữa sống một con dao dài không chuôi và mềm mại nhịp nhàng đưa lên đưa xuống. Tay trái họ đẩy dần dần cuốn thuốc đặt trên giá và quấn lại như bó giò. Thỉnh thoảng người ta lại dừng tay hoặc để cởi giây lạt, hoặc để liếc lưỡi dao lên viên đá mầu lớn.
Bà trương trỏ một người bảo Văn:
- Chú ánh giỏi nhất khu đấy. Anh trông tay chú ấy thái có nhẹ nhàng không? Mà đây này...
Bà ta cúi xuống bốc một nắm thuốc xanh, nói tiếp:
- Một trăm sợi như cả một trăm, chẳng sợi nào to, sợi nào nhỏ.
Người thợ được khen không chút mừng rỡ hay cảm động mặt vẫn lì lì và đỏ bóng như mặt ông tượng ở ngoài chùa, tay vẫn đều đều như cái máy đưa lên đưa xuống.
- ồ! Anh Văn sang ăn cỗ mừng nắng nhà dì à.
Văn sung sướng quay đầu lại: Tẹo và hai người đàn bà nữa, mỗi người bưng đặt lên ghế ngựa và phản kê ở hai gian bên, một mâm gỗ sơn đầy thức ăn. Rồi lại đon đả chạy vội xuống nhà để bưng mâm khác.
Văn đứng ngây nhìn Tẹo bước đi lượn lại và cười khúc khích mỗi lần đến gần chàng.
- Cỗ to, cô Tẹo nhỉ?
- Gớm! Anh cứ chế nhà em làm gì thế?
- Ô hay, tôi chế đâu? Tôi khen đấy chứ!
- Cỗ nhà quan có gì mà to. Bì thế nào được với nhà quan lớn, bà lớn?
Lúc ấy một ông cụ già chống gậy trúc từ cổng đi vào.
- Kìa chào cụ xã. Cụ sang mừng nắng cho nhà cháu.
Cụ xã trừng mắt nhìn Văn:
- Cậu tú Văn đấy, phải không?
- Vâng thưa cụ, tôi sang mừng nắng.
Ông lão giọng cười yếu đuối xen lẫn tiếng ho sù sụ.
- Thế nào?... Đã xem thuốc chưa?
- Đã, tôi xem rồi.
Bà trương bảo Văn:
- Cụ xã Nhân hỏi anh đã xem thuốc của các ông phó để định thưởng cơ.
Văn ngơ ngác:
- Định thưởng?
- ừ định thưởng. Thế này này: Mỗi ông phó thái xong một cuốn thuốc mình lại bốc lấy một nắm sợi, rồi khi thái xong tất cả, xem người nào thái khéo nhất, mà nhanh nhất thì cho thưởng.
Văn mỉm cười:
- ồ, hay nhỉ! Thì ra tôi cũng được làm một khảo quan kia đấy!
Bà trương chẳng hiểu khảo quan nghĩa là gì, cũng trả lời liều:
- ấy, chính thế.
Rồi bà quay ra bảo bọn thợ:
- Thôi, các ông phó nghỉ tay xơi rượu đã.
Văn được mời lên cỗ cao nhất, cùng mâm với ba ông cụ già, râu bạc lưa thưa. Nhìn sang phản bên kia chàng thấy Tẹo và năm người đàn bà vừa ăn vừa chuyện trò huyên thiên. Chàng chỉ muốn nhập bọn với họ, vì ba ông lão ở mâm chàng như câm như điếc, chỉ nghĩ đến có ba việc gắp, nhai và uống rượu.
Văn vừa ăn cơm ở nhà nên hãy còn no, ngồi đưa đà nhắp chén và nhỏ nhẻ ăn vài sợi miến trong bát thịt lợn ninh.
- Anh tú làm khách quá!
- Không đâu, dì ạ. Tôi ăn khỏe lắm.
Rồi chàng đứng dậy vươn vai, vì mặc tây và ngồi xếp bằng, chàng thấy mỏi chân quá.
- Bà có đôi guốc cho tôi mượn?
- Thế nào? Thôi à! Anh xơi cơm đã chứ.
- Tôi đứng dậy một tí cho dãn xương dãn thịt.
Bà trương cúi xuống gầm bàn thờ kéo ra đôi guốc da trâu của chồng, rồi lấy vạt áo lau bụi cho bóng:
- Anh đi tạm đôi giầy của thầy nó nhé?
- Còn nói gì nữa!
Văn vờ ra đằng sau nhà một lát rồi lúc trở vào, đứng lại gần chỗ Tẹo.
- Cỗ to quá, cô Tẹo nhỉ?
Tẹo cười:
- Thôi đi anh! To đâu?
- Lại chả to? Bốn bát nấu với đầy những đĩa lại có cả cá bể, tôm bể, còn chả to thì thế nào mới to? Các bà không xơi rượu?
Cả bọn cùng phá lên cười. Tẹo nói:
- Chúng tôi đàn bà, con gái, ai lại uống rượu?
Văn vơ vẩn nhìn trời, bảo Tẹo:
- Chẳng biết tối nay trăng có sáng như tối hôm qua không nhỉ?
- Sao lại chả sáng. Tối hôm nay tôi sang làm giúp bên bác khán Thảo.
Văn sung sướng nhìn Tẹo cho đó là một câu hẹn hò. Nhưng Tẹo thẳng thắn hỏi:
- Anh có đến làm giúp bác khán không?
Rồi cười khanh khách nói tiếp:
- Đến, em hát cho mà nghe.
Văn đứng lặng nhìn Tẹo. Bỗng chàng rút đồng hồ ra xem. Tẹo tưởng chàng coi giờ để về nhà.
- Thì anh hãy ở đây chơi đã. Về làm gì vội?
Nhưng Văn thản nhiên nói một mình:
- Mới ba giờ, còn những bốn năm giờ nữa mới có giăng.

Luôn mấy tối Văn lần mò đến các nhà trong xóm xem rọc lá thuốc. Sự thực chàng tới đó chỉ cốt để được gặp mặt Tẹo, để được nghe Tẹo hát và cười và âu yếm gọi mình là anh Văn.
Tẹo thì mỗi ngày một xinh đẹp hơn, vui tươi hơn, chăm chú điểm trang hơn: vành khăn vấn rất tròn, mái tóc chải rất mượt, đường ngôi rẽ rất thẳng và chùm hoa mộc tối nào cũng thay mới phảng phất đưa hương thơm mới.
Có tối, hai người gặp nhau ở đầu ngõ hẻm. Văn bảo Tẹo rằng hãy còn sớm và rủ nàng đi dạo mát ngắm trăng. Tẹo chỉ đùa nghịch liến thoắng ở chỗ đông người. Một mình đi bên cạnh Văn, nàng bẽn lẽn, thẹn thùng cười nói nhỏ nhẹ. Sự yên lặng của Tẹo dưới ánh trăng yên lặng càng làm cho Văn say sưa ngây ngất tình yêu.
Thế rồi một đêm, Văn dỗ dành đưa Tẹo về nhà.

Đêm hôm ấy, ngồi bên người yêu nằm ngủ thiếp trong giường chàng cảm thấy hết cả cái vô lý của việc chàng làm, của cái cử chỉ, cái hành vi điên cuồng khốn nạn. Buồn rầu, chán nản, chàng ra cửa đứng ngắm trăng: trăng đã khuyết buông xuống cảnh vật một làn ánh sáng lạnh lẽo không linh hồn. Những ngọn cau như hàng phất trần lơ láo ngớ ngẩn đứng im chờ gió. Chung quanh, những nóc nhà lợp cói, lợp rạ, màu xạm, co ro, chen chúc, đứng sát nhau bên những mẩu tường đất cắm mảnh nồi vỡ, hay cành xương rồng bên những ao bèo, ao rau muống bẩn thỉu. Và chàng tự nhủ: "Trời ơi, cảnh này mà mình cho là đẹp được, thì mình thực trẻ con!".
Tiếng dệt vải trong đêm khuya đều đều một dịp mà mấy hôm trước chàng nghe rất cảm động, rất nên thơ, nay chàng chỉ thấy buồn tẻ, khó chịu. Cố nhớ lại những nét mặt các cô gái quê ngồi dệt trên khung cửi chàng như tưởng hiện ra trước mắt một bạn xấu xí, nhem nhuốc luộm thuộm.
Văn rón rén đến bên giường, vén màn đứng ngắm Tẹo. Cái đẹp mơ màng ngây thơ đã biến mất. Chàng chỉ thấy Tẹo giống hệt các cô gái quê khác, thô lỗ, đần độn, ngu ngốc. Cặp mắt mở, trắng dã như nhìn thẳng vào mặt chàng, cái miệng há hốc thở phì phò, một dòng nước bọt chảy từ một bên mép xuống khăn giải giường. Chàng cáu tiết gọi:
- Tẹo?
Tẹo vẫn ngủ thiếp, ngủ mê mệt. Văn cầm đầu lay mạnh, Tẹo ú ớ hỏi:
- Cái gì thế bu?
Văn phì cười.
- Dậy bu bảo.
Tẹo ngồi nhổm dậy bước xuống ván gác.
- Tôi ở đâu thế này nhỉ?
- Tẹo ơi, anh Văn đây mà!
Tẹo mới chợt nhớ ra, mếu máo bảo Văn.
- Thầy bu em mà biết thì em chết mất.
Văn động lòng thương hại:
- Nhưng thầy bu em biết thế nào được? Vậy em về nhé, chẳng nhỡ thầy bu biết.
Vừa nói, Văn vừa dúi vào tay Tẹo một tờ giấy bạc năm đồng:
- Năm đồng đấy chứ không phải một đồng đâu. Cất kỹ chẳng rơi mất nhé.
Tẹo thật thà, ngây thơ buộc tờ giấy bạc vào giải yếm rồi lẳng lặng ra cầu thang gác.
- Thôi em về anh Văn nhé!
- ừ em về.
Và Văn bĩu môi ghê tởm nghĩ thầm: "Nó chỉ thích tiền!"
Sáng hôm sau Văn đi Hà Nội sớm. Chàng vội vàng hấp tấp như đi trốn.
Và ngày hôm sau chàng quên hết, quên hẳn cảnh và người đã làm cho chàng trong mấy đêm có cái ảo mộng của tình yêu.

Nhưng hôm nay đọc bức thư quê kệch thực thà của Tẹo, Văn lại thấy hiện rõ ra những cảnh đêm trăng ấy, hiện ra với hết thảy những vẻ đẹp đã mờ. Và chàng mê man, say sưa với những kỷ niệm êm đềm đến nỗi mai sau, nghĩ tới cái tai hại của cuộc ái tình lãng mạn ngắn ngủi chàng mới biết hối hận và cái thái độ cái hành vi không quân tử của mình.
Văn thở dài, đọc lại bức thư không biết lần thứ mấy.
Tâm trí rối loạn chàng đọc buông miệng lại quên hết, những lời trong thư. Nhưng một hình ảnh hiện ra trước mắt chàng: Tẹo với cái bụng chửa. Tẩn mẩn và như làm một việc vô giác, chàng vừa đọc thư vừa cầm bút chì ghi vào mảnh giấy mấy câu tóm tắt: "Tẹo có thai, Tẹo xin tiền. Tẹo toan tự tử".
Một nụ cười ích kỷ... Văn tự nhủ thầm "Tự tử! Tự tử thế quái nào được! "Cái ý nghĩ xúi con xin tiền của người mẹ làm cho Văn đỡ hối hận: "Cho nó dăm chục bạc thế là xong. Việc gì mình phải loay hoay suy tính thêm bận trí? Danh dự, thì làm gì có danh dự. Những việc như thế này xảy ra hàng ngày nào người ta có hối hận bao giờ đâu".
Văn vò nhàu bức thư nhét vào túi quần đứng dậy thản nhiên đánh diêm hút thuốc lá.
- Được! Mai gửi ra cho nó năm chục bạc rồi xếp câu chuyện vào một xó.
Kim đồng hồ nhỏ để trên bàn chỉ mười hai giờ. Văn thay quần áo rồi lên giường tắt đèn ngủ.
Bóng hàng chắn song sắt in lên màu ren, in lên chăn trắng. Bây giờ Văn mới kịp nhớ ra rằng đêm có trăng. Bao sự êm đềm ngây thơ nơi thôn dã nhẹ nhàng thức dậy trong tâm hồn chàng, làm cho chàng rạo rực không nằm yên được. Chàng liền tung chăn, khoác áo tơi dạ đứng tì cửa sổ nhìn ra đường.
Một cái xe cao su buông mái kín mít chạy vụt qua. Văn tưởng tượng đó là xe đưa gái đi ăn sương. Và chàng so sánh ngay Tẹo với một cô gái giang hồ: "Hừ! Nếu Tẹo lảng vảng ra Hà Nội thì tránh thoát sao cái đời làm đĩ. Một cô gái quê nhí nhảnh như thế mà ham tiền như thế, nhất lại có chút nhan sắc như thế! Công tử bột nó chỉ tán qua một câu là mắc".
Nhưng Văn thấy mình là một công tử bột. Chàng ôn lại những câu đường mật chàng đã nói với Tẹo dưới ánh trăng trong. Và chàng nhận rõ những tội ác của mình: "Người ta đương sống với cái đời giản dị bình thường của người ta tự nhiên mình về quyến rũ người ta. Rồi khi mãn nguyện lại bỏ mặc người ta, như thế không gọi là khốn nạn thì gọi là gì?"
Văn cố tìm những cớ, những hoàn cảnh làm giảm tội ác cho mình. Chàng nghĩ: "Nếu không xảy ra việc này thì Tẹo cũng đến lấy thằng Nghĩa. Mà thằng Nghĩa mình đã gặp. Sống trọn đời với một thằng ngu ngốc, bẩn thỉu, như thằng Nghĩa thì Tẹo cũng chẳng sung sướng. Ta chẳng nghe thấy Tẹo chê bai nguyền rủa thằng chồng tương lai của Tẹo là gì! Phải, biết đâu làm tình nhân mình trong mấy ngày, Tẹo lại không thích hơn làm vợ chính thức một thằng đần độn, suốt đời dài dằng dặc sống với nó trong gian nhà tranh tối tăm bên vũng bùn hôi hám. Và Văn nhớ lại câu ca dao mà Tẹo, được chàng âu yếm, đã thì thầm đọc bên tai chàng: "Một đêm quân tử nằm kề." Vế dưới Văn nghĩ mãi không ra, thành thử chàng cứ nhẩm đọc đi, đọc lại mãi vế trên.
Chàng bỗng chợt cảm thấy hết cả cái ý nghĩa mỉa mai đau đớn của chữ quân tử: "Quân tử, mình còn quân tử với ai được nữa?... Mình tiểu nhân, mình tiểu nhân!"
Văn thở dài đóng cửa sổ, lên giường nằm cố ngủ. Bức thư mà chàng đã đọc đến gần chục lần và tưởng không thể nhớ được, bây giờ hiện rõ ra trước mắt, hiện rõ ra với những nét chữ ngoằn ngèo lệch lạc.

Sáng hôm sau, mãi hơn chín giờ, Văn mới thức dậy. Thân thể chàng mỏi mệt nhưng tâm trí chàng bình tĩnh hơn. Việc thứ nhất chàng nghĩ đến là bức thư ở phủ Thống sứ mà chàng nhận được cùng với thư của Tẹo. Chàng có đệ đơn xin bổ tham tá nên người ta đã trả lời thiếu bản sao và cái bằng tú tài.
Cả buổi chiều hôm ấy, Văn bận việc đến nha học chánh nên quên nhãng được Tẹo. Nhưng buổi tối khi ngắm trăng lên chàng lại nhớ.
Bực mình chàng ra thuê xe đến chơi nhà một người bạn và cùng bạn đánh luôn bốn năm ván cờ cho mãi tới một giờ khuya mới về ngủ. Song có ngủ được đâu!
Luôn mấy hôm như thế Văn hết đi đánh cờ lại đi đánh tổ tôm, mạt chược. Nếu không thì chàng vào thư viện xem sách, xem tranh, nhất là xem tranh. Thực chàng chẳng khác con đà điểu đứng trước tai nạn chúi đầu xuống cát để khỏi trông thấy.
Cáu tiết, Văn liều: "Thì lỗi gì ở mình? Mà nếu có lỗi ở mình thì cũng ở nó một nửa. Hay chẳng lỗi ở ai cả, thủ phạm chỉ là cái tuổi thanh niên."
Và chàng hiểu rằng muốn tâm hồn được bình tĩnh, chỉ có một cách là quả quyết.
Tình thế này không thể để lơ lửng được. Rồi theo phép khấu trừ trong toán pháp - Văn đem hết các lẽ ra so sánh:
Trước hết lấy Tẹo chăng?
Văn mỉm cười không nghĩ tiếp nữa. Không thể lấy Tẹo được. Văn cho là một sự dĩ nhiên không cần suy tính lôi thôi nữa. Người vị hôn thê của chàng, tuy chàng không yêu nhưng chàng cho là một người vô tương lai rồi, chỉ việc cưới thôi. Mà cho dầu chàng nhất định không bằng lòng lấy người ấy, Tẹo cũng không thể kế chân được. Vì sao? Và một người như chàng không thể lấy một người như Tẹo được.
Vậy dù còn hai đường, một là giấu Tẹo một nơi để nàng đẻ xong rồi cho nàng ít tiền làm vốn, mặc nàng xoay sở lấy mà sống thế nào tùy ý. Hai là gửi ngay cho Tẹo năm chục bạc.
Giấu Tẹo một nơi. Văn thấy điều đó không ổn một tí nào. Con người há phải con mèo, con chó mà dễ giấu như thế. ở làng bưng bít sao cho êm. Vả muốn thuê nhà cho Tẹo ở Hà Nội thì tốn kém lắm, ít ra cũng phải có vài trăm bạc. Tiền ấy đào ở đâu ra? Xin nhà chắc là không được rồi. Đi vay thì vay ở đâu? Sau hết, rồi đời Tẹo sẽ ra sao? Tẹo làm nghề gì để nuôi sống thân mình và đứa bé? Văn chỉ trông thấy một lối ra: làm đĩ.
Chàng cố xua đuổi cái ý tưởng hắc ám ấy đi nhưng nó vẫn bám lấy trí nghĩ. Chàng như trông thấy đứa con chàng nay ở với người tình này của Tẹo, mai ở với người tình kia của Tẹo. Rồi lớn lên, không nghề nghiệp, không nhà cửa, nó sẽ trở nên một thằng ăn cắp, một thằng ăn mày ngồi ăn mày đầu đường xó chợ.
Văn vội nghĩ tiếp xuống cái ý định thứ ba: gởi cho Tẹo năm chục bạc và nói khéo với Tẹo rằng hãy chờ đợi ít lâu khi nào được bổ tham tá sẽ đón lên cùng ở với chàng.
Văn sung sướng đánh diêm hút điếu thuốc lá khác, tự cho rằng công việc xếp đặt được như thế là ổn thỏa lắm rồi, là hoàn toàn lắm rồi. Chàng mỉm cười. "Bà trương Mẫn tha hồ tấp tểnh mừng thầm nay mai con được lên làm bà tham. Nhưng rồi sao?..." Văn đương sung sướng nên cái ý nghĩ về tương lai ấy, chàng có kể vào đâu! "Hãy biết bây giờ gửi tiền về cho Tẹo, để Tẹo qua kỳ sinh nở, rồi sau muốn ra sao thì ra... Cùng lắm lấy nó làm lẽ, rồi bỏ lửng đấy cũng chẳng chết ai!".
Văn lạc quan đến nỗi cái vấn đề làng bắt vạ, chàng cũng giải quyết rất dễ dàng: chàng sẽ về nói với hội đồng hương tộc rằng Tẹo là vợ lẽ của mình. Nếu khó khăn quá thì đưa Tẹo sang làng bên ở trọ nhà một người tá điền của nhà chàng.
Văn thích quá cười thầm: "Có thế mà mình loay hoay bốn năm hôm nay không tìm ra". Rồi chàng cất tiếng hát vang nhà.
Đêm ấy Văn đánh một giấc ngon lành từ bảy giờ tối cho tới bảy giờ sáng hôm sau.
Nhưng số tiền năm chục Văn xoay mãi không sao có. Vả lại cái quả quyết của chàng một ngày một yếu đuối dần. Đến nỗi chàng bao bịa chàng trở nên bình tĩnh hẳn, bình tĩnh thản nhiên vì quá nhẹ dạ chứ không phải cái bình tĩnh giải quyết được ổn thỏa một vấn đề gay go.
Hơn tháng sau được tin bổ tham tá ở một tòa sứ, chàng về xin nhà được mấy trăm bạc để sắm sửa đồ đạc, có tiền trong tay, chàng nhớ đến Tẹo, liền đi về làng
Nhưng vừa tới đầu làng, Văn rụng rời kinh hoàng: người ta bảo cho chàng biết rằng Tẹo bị đòn mãi và sợ làng bắt vạ cha mẹ nên đã đâm đầu xuống ao tự tử rồi.
Bất giác Văn nức lên khóc, khiến một đám đông xúm lại tò mò đứng xem. Rồi chàng đi thẳng đến nhà bà trương Mẫn. Thấy bà ta vẫn vui vẻ như thường. Văn hiểu ngay rằng cái chết của Tẹo chỉ làm cho bà sung sướng được thoát cái nạn bị bắt vạ.
Văn ân cần xin lỗi bà Trương, kể lể các điều dự định để lấy Tẹo rồi đưa bà ta một trăm bạc. Mãi lúc ấy, bà Trương mới rỏ được một giọt nước mắt thương con.

Từ đó mỗi năm đến thời rọc thuốc, ở các sân gạch bát tràng, dưới ánh trăng trong người ta thường kể câu chuyện tình của Văn và Tẹo. Và người ta lại hát những câu Tẹo đã hát:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Em ngồi cành trúc, em tựa cành mai
Đông đào tây liễu biết ai bạn cùng.


Khái Hưng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 16 Nov 2014 08:45 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
34 . Hai con mắt


Ông Cửu Niệm ốm li bì đã gần hai tháng. Ông ta mắc một bệnh mà các thầy lang đều cho là bệnh mê sảng của những người già lẫn - tuy ông Cửu năm nay chưa đầy sáu mươi. Bệnh như không tăng mà cũng không lui. Đêm nào cũng vậy, cứ vào khoảng một, hai giờ khuya, ông Cửu lại ú ớ kêu la cầu cứu, khiến con cháu ông đều thức dậy, chạy cả đến bên giường. Vừa thở hổn hển, ông vừa thuật lại giấc mơ dữ dội: hai con mắt hiện lên ám ảnh ông, chăm chú nhìn ông, hai con mắt to như mắt hộ pháp lòng trắng dã và tròn, lòng đen đen nháy và vuông. Ông rên hư hư "ối giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" Rồi cho đến sáng ông Cửu không sao ngủ được.
Một hôm ông gọi đông đủ con cháu đến bảo:
- Tao chắc đây là một việc báo thù hay một việc đòi của.
Ông Cửu như ngần ngại, sợ hãi, xấu hổ, nằm im lìm suy nghĩ, giương mắt nhìn thẳng lên đỉnh màn. Trong khi ấy, các con cháu ông yên lặng, lo lắng, kính cẩn đứng đợi. Về sau không giữ nổi, ông thở dài kể tiếp:
- Chúng mày hẳn không biết vì sao ngày nay tao có cái cơ nghiệp này, cha mẹ tao có để cho tao một đồng một chữ nào đâu. Cả người trong làng cũng vậy, thấy tao đương nghèo đói, - đói thực ấy - bỗng trở nên giàu có, làm nhà làm cửa, tậu vườn tậu ruộng thì họ cũng đoán và đồn rằng tao được của, thế thôi, chứ sự thực thì tao chưa hé ra với ai một lời nào. Nhưng sự thực thì chính tao được của. Ngày xưa, tao nghèo lắm, thường đi gánh thuốc lào thuê cho người hoặc làm bất cứ công việc gì để kiếm một ngày hai bữa cơm và vài tiền quý, có khi giời làm đói kém, chỉ được một ngày hai bữa cơm thôi cũng đã là may lắm rồi.
"Một hôm tao đào móng nhà cho ông chánh Thà. Lúc ấy về chiều tối, ai nấy đã nghỉ tay, sắp sửa ăn cơm. Nhưng tao còn đào chơi vài nhát thuổng nữa. Có lẽ giời xui khiến ra thế, vì có ai bắt mình làm đâu! Mà nào mình có làm việc cho mình cho cam!
"Bỗng giữa những tiếng giục giã: "Ra ăn rỗi, anh Niệm!" tao thấy chối tay và nghe thấy một tiếng cạch: lưỡi thuổng của tao vừa xiên xuống một vật rắn chắc như thành một cái tiểu sành vậy. Tao cúi xuống bới nhìn thì đó là một cái vật nhỏ đậy nắp mà nắp lại trát gắn bùn rất cẩn thận. Tao đồ rằng trong đó có vật quí nên lấp lại điềm nhiên đi ăn cơm với mọi người.
Đêm hôm ấy tao xin ngủ lại chỗ xưởng làm như thể là một sự rất thường mình vẫn ở làm thuê cho ông chánh, có khi trong luôn dăm ba bữa nửa tháng không về qua nhà. Tao chờ đêm khuya vắng đến chỗ móng đào bới đất moi lên được một cái vại chỉ bằng cái vại nén cà nhỏ ấy thôi. Nhưng mà tao bê thấy nặng quá. Nền nhà mới dựng vào một khu vườn rong: ông chánh Thà giàu lắm, đất ở thênh thang có tới vài mẫu. Tao đem cái vại của tao tới bụi chuối rậm, rồi mở nắp lấy hết những vật ở trong, gói vào rẻ rách giấu đi. Tao cũng không biết đó là những vật gì. Mãi hôm sau đem về mới biết là vàng, toàn những vàng thoi..."
Ông Cửu ngừng kể. Các con cháu vẫn im lặng đứng chờ, vì chưa thấy có liên lạc giữa hai con mắt vuông, với cái vại vàng chôn. Sau một lúc lâu, ông Cửu lại nói:
"Vậy tao chắc nay... nó đòi của. Nó theo tao, nó đòi của. Hai con mắt nó hiện ra, kia nó hiện ra kia - hai con mắt nó về để báo cho tao biết ... để báo cho tao biết rằng tao đã đến ngày tận số"
Ông Cửu nghẹn ngào như bị hai bàn tay vô hình bóp cổ. Người con cả ông an ủi.
- Thưa thầy, thầy được của là giời cho thầy. Của ấy là của giời. Nếu là của ông cha ông chánh Thà để lại thì sao ông chánh lại không biết gì, thì sao xưa kia ông ta lại không đả động tới mà các cụ tiền nhân cũng không báo mộng báo mù gì cho ông ta hay nhất là tại sao của ấy lại không lọt vào tay ông ta. Lại điều này nữa khiến con tin chắc chắn rằng giời dành của ấy cho thầy: là tại sao thầy lại tìm thấy cái vại để vàng giữa lúc nghỉ việc? Nếu thầy đào được sớm hơn, vào buổi sáng hay buổi trưa chẳng hạn, thì có phải đã ầm ĩ lên và ông chánh đã nhận mất vàng rồi, còn đâu. Không, con dám quả quyết rằng của ấy là của giời chứ không phải là của tổ tiên ông chánh. Của giời dành cho thầy. Vì thuở xưa hay kiếp trước thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm.
Ông Cửu mỉm cười nhắc lại: "Thầy đã tu nhân tích đức nhiều lắm?". Ông nghĩ đến những việc ông đã làm: nào cho vay nặng lãi, nào trữ thóc gạo lại không bán làm cho giá cao lên trong khi bao nhiêu người chết đói, và ông lẩm bẩm: " Hay đó là hai con mắt của bọn ấy đến đòi mạng đến bắt mình phải đem mạng mình ra mà thế mạng". Nhưng ông nghĩ tiếp ngay - vì trong khi ốm tinh thần ông sáng suốt khác thường: "Nếu là mất của chúng thì sao hai con mắt ấy lại lạ lùng thế. Sao lòng đen lại vuông, lại to thế? Không, chắc đây là mắt thần".
Tự nhiên trong tưởng tượng của ông, một vị thần hiện ra trần truồng ngồi trên bệ gạch, một vị nữ thần miệng gắn nhựa trám và hai con mắt to thao láo lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Rồi pho tượng biến dần biến dần, chỉ còn lại hai con mắt đăm đăm nhìn ông. Ông lại la: "Giời ơi! Hai con mắt! Hai con mắt vuông!" và lắc đầu xua tay đuổi cả con cháu ra ngoài phòng.
Mấy người con bàn nhau về căn bệnh cha. Họ đoán có tiền căn nghiệp chướng chi đây. Họ liền mời các vị cao tăng đến lập đàn ba ngày ba đêm ở sân để tụng kinh, giải ách cho cha. Đêm thứ ba, cúng chúng sinh: một nhà sư tốt giọng hát bài ca chiêu hồn để gọi linh hồn chúng sinh về nghe kinh phật, trong bọn có đủ các hạng khốn nạn, cùng khổ trong loài người.
Nào những kẻ sa cơ, lỡ bước...
Bỗng ông Cửu kêu rú lên một tiếng rồi ngất đi.
Và ông mơ thấy ông đi trên con đường nắng, chân mỏi, bụng đói. Hai bên đường lúa mọc xanh rờn, người làm việc đông đảo. Họ hát những câu ca dao mà ông cũng thuộc và những khi đi gặt hái ông thường hát.
Tới một cái miếu con ẩn trong bóng cây đa um tùm, ông dừng chân ngồi nghỉ. Một tia hy vọng vụt chiếu rọi vào mắt ông: ông vừa trông thấy kê trước cửa miếu một cái nia đầy những xu và trinh... Ông đưa mắt nhìn quanh: không một ai. Mấy nén hương cắm trên một thẻ vàng tỏa mùi thơm lạnh lẽo và càng làm tăng phần tĩnh mịch nơi miếu vắng. Ông tự nhủ thầm: "Mình chỉ việc đưa tay ra bốc một nắm bỏ túi là sẽ có cơm ăn, là sẽ không chết đói". Và ông đưa tay ra thực. Nhưng ông lại rụt tay lại, tưởng như có ai ghé mắt đâu đó đứng nhìn. Ông nghĩ đến câu chuyện Mường, chuyện Thổ, những chuyện ma xó giữ nhà: mình vào nhà lấy trộm vật gì trong khi chủ đi vắng; con ma sẽ đọc tên vật ấy lên rồi nó theo dõi mình mà bóp cổ cho mình chết. Tự nhiên, ông rùng rợn, dựng tóc gáy, vội vã bỏ đi.
Đi được một quãng, ông lại quay về cái nia tiền. Ông định bụng cứ lấy một ít đi ăn cơm rồi chết thì chết cũng cam lòng. Chết còn hơn đói. Giữa lúc ấy một người đi đến. Ông sợ hãi nấp vào sau gốc đa. Người kia thản nhiên qua miếu, và ông nghe thấy hắn ném vào nia một đồng trinh. Chờ cho hắn đi khỏi, ông lại nhô ra, đến bên cái nia, đăm đăm nhìn. Nhưng vẫn không sao dám nhặt vài đồng trong nia tiền... của thánh. "Của thánh... lấy, tội chết, thánh quật chết!" Ông Cửu Niệm thì thầm. Rồi quả quyết đi thẳng.
Một quãng xa, ông gặp trên con đường rẽ vào một cái chợ đương họp, một chị ăn mày ngồi phục bên một cái rổ, một cái gậy, và ngước mắt trắng đục nhìn trời, miệng kêu than như ca hát: "Con người thì có, con mắt thì không...". Trong rổ có hai đồng trinh. Mắt ông Cửu như dán vào đó. Ông đứng im một hồi lâu, tai như lắng nghe câu van lơn của người ăn mày. Nhưng sự thực ông đương nghĩ thầm: "Nó mù! Nó mù! Nó không trông thấy mình.. Quanh đây không một ai.." Và ông cúi xuống, lẳng lặng cúi xuống, rón rén nhặt hai đồng trinh thu vào trong bọc.
Rồi ông hấp tấp chạy, như sợ người mù đuổi theo. Ông vào chợ mua bát cơm đầy, ăn ngốn ngấu. Ăn xong, ông quay về con đường cũ. Qua đầu đường, ông vẫn thấy người ăn xin ngồi nguyên chỗ, và trong rổ của nó hai đồng trinh vẫn còn. Ông mừng thầm tự nhủ: "Thì ra mình mơ thấy mình lấy hai đồng trinh của nó. Kỳ thực mình có lấy đâu?"
Tới miếu cũ, ông ngắm lại cái nia. Lạ lùng chưa! Bao nhiêu trinh trong nia đã sắp thành từng đôi một. Và chỉ trong một giây biến thành những cặp mắt. Những cặp mắt ấy to mãi ra, to mãi ra và trừng trừng nhìn thẳng vào mắt ông, những cặp mắt lòng trắng tròn, lòng đen vuông. Cùng một lúc, tiếng ăn mày cất lên tứ phía, giọng nghe thê thảm: "Lạy ông lạy bà, ông bà thương con, con người thì có, con mắt thì không". Rồi bao nhiêu cặp mắt vuông bay tới tấp vây chặt lấy ông Cửu...
Ông kêu thét lên: "Giời ơi! Hai con mắt vuông!" Rồi ông tỉnh mộng.
Ngoài sân, tiếng nhà sư đọc bài chiêu hồn chúng sinh giọng trầm bổng như kẻ ăn mày kêu đường. Ông Cửu thở hổn hển, rồi lại ngất đi.
Sáng hôm sau, ông gọi các con đến dối dăng:
- Cha nhiều tội lắm. Cha ở ác với rất nhiều người, nhưng với hai con mắt... với hai con mắt vuông ấy thì cha chết mất. Đó là hai con mắt thịt, hai con mắt trần, chứ không phải mắt thần, mắt thánh nào cả như cha vẫn tưởng nhầm. Ngày ấy ... đã lâu lắm... Nhưng mà thôi, đã có các con chuộc tội cho cha. Ngay hôm nay các con rao mõ rằng luôn năm hôm cha phát chẩn cho những người đói khó trong khắp vùng này. Mỗi người các con cho một bát gạo với hai đồng trinh. Hai đồng trinh, các con nhớ chưa? Đó là cha trả nợ, còn bát gạo là cha trả lãi.
Chiều hôm ấy, ông Cửu nghe tiếng mõ rao, và biết rằng các con ông sẽ làm theo lời ông dối lại. Ông sung sướng mỉm cười trong giấc ngủ cuối cùng. ông chắc chắn sẽ thoát khỏi sức áp bách, sức thôi miên của hai con mắt vuông.


Khái Hưng

Xuân 1940

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 16 Nov 2014 08:47 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
35 . Lời Nguyền


Đồ sộ, chót vót trên đỉnh đồi cao, đồi Vụ-bản hách dịch nhìn xuống con đường đá nối Nho-quan với Hòa-bình. Trên một quả đồi đối diện và thấp hơn, khu trại giam chính trị phạm náu mình trong hàng dậu dầy nứa nhọn và hai hàng cọc chăng giây thép gai. Phía dưới là một cái thung lũng nhỏ với con sông Vành quanh co uốn éo như con rắn dài vặn khúc bạc lướt mình trong cỏ hoang, rừng rậm. Bên kia sông là phố và chợ Trào, dăm chục nóc nhà vừa lợp ngói vừa lợp tranh quây vuông lấy bốn cái quán gạch trống rỗng.
Xa xa về phía tây nam, dẫy núi Hoàng-Sơn sừng sững như một bức tường thành kiên cố đứng ngăn. Buổi sáng nó chìm biến vào trong sương dầy trắng đục, buổi chiều nó lờ mờ trong sương lam bốc lên như khói. Buổi trưa nó lấp lánh ném ánh bạc của những cây ngân diệp mọc bên sườn. Về phương đông bắc, và chỉ xa chừng dăm cây số, một quả đồi cao và dài đứng án ngữ như một bức bình phong. Quanh đó những núi đá trắng và đen mọc lởm chởm với những hình thù cổ quái. Còn phía tây bắc là những đồi rậm liên tiếp, những rừng sâu, cỏ sắc bao vây lấy từng khu ruộng nhỏ hẹp và dài.
Vùng ấy hằng ngày yên ngủ để chờ đợi những hồi kèn rời rạc báo giờ từ vòm đồn tỏa xuống. Cả những hôm phiên chợ tấp nập, nó cũng yên lặng buồn tẻ với những người Mường ít cười ít nói : Họ lững thững gánh gạo, gánh măng, gánh lợn, gà, vịt, ngỗng ra chợ bán, rồi lại lững thững trở về làng với một ít muối và các thức đồ dùng của người Kinh đem từ vùng xuôi lên. Họ như chán nản, chả buồn mặc cả nài giá bao giờ.
Cái trạng thái u huyền giữa một cảnh thiên nhiên hùng vĩ khiến Khanh, một tù nhân chính trị, tưởng tượng ra một thần bí gì rùng rợn ngày đêm bay lượn trên không để đe dọa vùng này. Một hôm vác ống bương ra suối lấy nước, y ngỏ ý nghĩ đùa bỡn ấy với người lính kèn. Thì kinh ngạc xiết bao, người kia hãi hùng se sẽ đáp lại :
- Phải, một lời nguyền.
Người lính cũng chỉ thốt ra một câu vắn tắt. Rồi như khiếp sợ một cái gì có thể sắp xảy tới, y im bặt.
Đêm hôm ấy trong khi nằm lịm trên giường lát nứa, nghe bài kèn tám giờ, Khanh lại liên tưởng đến người lính kèn và câu chuyện đương tò mò khao khát muốn biết : Một lời nguyền ! Bài kèn buồn rời rợi với những âm thanh trầm trầm như những lời ai oán của lòng người sau bao phen uất ức ! Hay đó là lời nguyền đêm đêm lên tiếng làm vang động làn không khí âm u nơi đồi núi ?
Tà tà ta ta tí a ta ta…
Lời nguyền của những kẻ bỏ xác nơi ma thiêng nước độc chốn sơn lâm ? Mới tuần lễ trước Khanh đi đưa một người bạn giam đến nơi yên nghỉ cuối cùng : bên sườn đồi dưới bóng một cây lao xao cành lá rườm rà luôn luôn thì thào lời oán trách trong gió thoảng qua. Trong đám dân Kinh bên phố, cũng như trong hàng ngũ binh lính bên đồn và anh em chính trị trong trại giam, thỉnh thoảng lại một người từ giã cõi nhân gian sau những cơn nóng sốt rét mê sảng. Phải chăng họ đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của một lời nguyền độc địa tự đời nào vang lại ?
Hồi kèn đã dứt. Từ đó, trong tiếng thanh sắt trên đồn, tiếng mõ tre ở các điếm canh, Khanh đều cảm thấy có liên can tới cái lời nguyền ghê gớm nào đó của người xưa. Qua kẽ rào nứa, một vài chấm lửa bên sông còn le lói, lập lòe. Đó là những dấu hiệu mong manh của sự sống trong một vùng như chết lịm dưới màn sương. Khanh ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Và y mê thấy con thành đanh đỏ mỏ từ trên trời cao bay sả xuống mổ vào ngôi mộ người bạn đồng trại, chơ vơ bên sườn đồi dưới bóng cây lao xao ủ rũ.

oOo

Nhưng câu chuyện “Lời nguyền” một hôm Khanh đã được người lính kèn thuật lại cho nghe trong cái lều canh lúa của người Mường.
Sáng hôm ấy, ra tới suối, Khanh thấy hiện ra một cảnh tượng rất nên thơ : Bên kia dịp cầu tre, trong một khu ruộng khô đất nhỏ, sáu cô Mường, áo trắng xiêm dài xanh đương chậm rãi gieo ngô. Từng đôi, người đi trước cầm cây hóp uể oải chọc xuống đất một lỗ, người theo sau uể oải bỏ rơi vào đó một hạt ngô. Họ đi thong thả, làm việc rời rạc như biểu diễn trên sân khấu cho khán giả ngắm nghía cái điệu bộ nhịp nhàng của họ. Ngồi trên lều cao, hai chân quấn xà cạp đá đưa đánh dịp, Chín-bảy – tên gọi tắt con số 1297 của người lính kèn – đương phùng má thổi bài “la mát”. Xúm chung quanh y, trên các bực thang bốn cô Mường lắng tai kính cẩn ngồi nghe.
Thấy Khanh đến gần, Chín-bảy vội rời cái kèn bước xuống đón tiếp, vẻ mặt rạng rỡ, dáng bộ dương dương đắc chí như một con gà sống giữa đám gà mái tơ vậy. Trong khi hai người nói chuyện, các cô Mường chỉ mỉm cười yên lặng đứng nhìn. Hỏi câu gì các cô cũng làm thinh không đáp. Chín-bảy bảo Khanh :
- Các nàng chỉ biết có hai việc : cười và hút thuốc lào. Rồi anh xem!
Quả nhiên lúc y đi lấy một cái điếu cầy lớn đem ra bỏ thuốc đánh diêm hút, tức thì mười cô đều bỏ việc cười rú lên, chạy ùa lại. Họ xếp thành một vòng tròn, lần lượt truyền cho nhau cái điếu cầy miệng rộng che kín nửa mặt mà rít từng hơi dài. Hết mồi thuốc ấy thay mồi thuốc khác, cái điếu đi vòng tới vài chục lần và bao diêm đánh đã gần cạn. Và cô nào cô ấy ngây ngất mỉm cười đầu lảo đảo.
Khi các cô nàng lại quay về với công việc gieo ngô của họ, Khanh theo Chín-bảy lên lều ngồi nói chuyện, và vui vẻ hỏi đến việc gia thất của người bạn quân nhân.
- Tôi đã có vợ ở vùng xuôi, y đáp, nhưng thế nào rồi tôi cũng phải lấy một người vợ nữa ở trên này.
Và y thêm : “Cũng như phần đông anh em ‘ nhà binh’ ở đây. Đó là một việc bất đắc dĩ ”.
- Việc bất đắc dĩ ? Khanh hỏi, nghĩa là không được phép đưa vợ con ở vùng xuôi lên đây ?
-Không phải không được phép, nhưng vì đã có lời nguyền.
Khanh bỗng thấy rùng rợn. người lính kèn lại nhắc tới “lời nguyền” ghê gớm. Chưa kịp hỏi thêm thì Chín bảy đã đưa mắt âu yếm nhìn theo các cô nàng áo trắng xiêm xanh hoạt động dưới trời thu mà kể cho bạn nghe câu chuyện tương truyền trong hàng đội ngũ.
Ngày xưa, thời còn chưa chịu phục tòng người Pháp, dân Hòa-bình chỉ vâng theo mệnh lệnh của các quan lang; người Kinh cũng ít khi lên vùng này buôn bán. Để bắt buộc dân Mường phải theo pháp luật của mình và đóng các thứ thuế như dân Trung châu, một mặt người Pháp đưa những ông quan lang có thanh thế nhất trong các họ lớn, như họ Đinh, họ Quách ra làm chánh quan lang hay tuần phủ đứng cai quản tình Hòa-bình, một mặt họ lập nên những đồn binh kiên cố ở khắp các yếu điểm trong địa hạt với những toán lính khố xanh Trung Châu không biết tiếng Mường, không thuộc phong tục Mường. Mục đích của họ là để đàn áp dân Mường và để tránh sự thân thiện giữa nhà binh và dân bản xứ.
Đồn Vụ-bản là một trong những đồn binh kiến thiết theo chương trình thống trị. Nó án ngữ con đường Nho Quan – Ninh Bình. Và đóng giữa giang san họ Quách, nó lại có thể kiểm soát những hành động của những ông quan lang có oai quyền ấy.
Với những nhiệm vụ to tát như thế, viên quản mà người Pháp tín nhiệm cho về coi đồn, ta có thể tưởng tượng hách dịch đến bực nào.
Có một ông, ông quản Tăng, không những hách dịch mà còn bệ vệ và ăn ở hành động theo lối Âu Tây y như một quan binh Pháp vậy. Y nằm giường Hồng kông, ăn cơm tây. Lúc nào sang phố y cũng đóng trào phục mới với hàng huy chương rực rỡ trên ngực. Tay y cầm roi da, quay tít, miệng y huýt sáo một điệu âm nhạc nhà binh. Một con chó tây kếch sù đi bên cạnh y; gặp nhà nào quen thuộc của chủ nó là nó chạy sồng sộc vào khiến lũ trẻ hết cả hồn vía bảo nhau:
“Quan quản !”
Quan quản ! Tiếng ấy oai vệ như tiếng quan Sứ ở tỉnh vậy. Quan quản là chúa tể vùng này. Quan châu, một quan lang, đối với y, chỉ như một công chức bản xứ đối với quý quan. Bao nhiêu công việc trong đại đều ở trong tay quan quản : như thu thuế thợ, thuế đò, thuế thân, thuế điền. Quan châu chỉ là một người giúp việc.
Nhưng tiếng “quan quản” hình như cũng chưa vừa lòng y. Một hôm, người ta không hiểu vì đâu, tiếng ấy bỗng đổi ra “quan đồn” rồi cứ theo đà ấy, chẳng bao lâu nó lại biến chuyển thành “Cụ lớn”.
Cụ lớn hét ra lửa ! Bao nhiêu là môn hạ ! Suốt ngày thì thọt trong đồn những kẻ nấp bóng Cụ lớn. Thôi thì chẳng thiếu gì lễ lạc, tết nhất, mùa nào thức ấy. Dùng không hết, “Cụ lớn” phân phát cho binh lính.
Về nhận chức mới được hai tháng, quan quản đã lấy một cô nàng hầu người Kinh con một thương gia có tiếng bên phố chợ. Rồi cách đó nửa năm quan lại kén luôn một lúc hai cô nàng hầu người Mường nữa.
Cái việc lấy nhiều vợ ấy cũng không tốn kém gì cho quan vì họ đều là con nhà khá giả. Có một điều khiến họ lo lắng sợ hãi mỗi khi tưởng tới là chẳng chóng thì chầy thế nào bà lớn quản cũng lên đây thăm chồng. Lúc bấy giờ nếu cái tin vợ nọ con kia đến tai bà, thì liệu bà có để cho yên không. Mà cứ theo lời huyên truyền và lời nói úp mở của quan quản thì bà là con nhà thế gia đại tộc. Ông thân sinh ra bà làm tổng đốc và đã hồi hưu. Người ta khen : “Thực là môn đăng hộ đối !” vì quan quản nghe đâu cũng là con một vị đường quan. Y thường kể chuyện thời niên thiếu của y cho mọi người nghe. Nhà y giàu sang và y rất được chiều chuộng. Mới mười hai tuổi y đã cưỡi ngựa, bắn súng, và chỉ thích có một nghề binh. Vì thế lớn lên y đã bỏ học để nhập ngũ “làm quan quản” chơi. Bao giờ đến đoạn này y cũng thêm: “Làm quan văn thì biết bao giờ lên đến ngũ phẩm, thế mà làm quan võ tôi mới ngoài ba mươi tuổi đã chánh tam rồi !”
Có lần y tưởng tượng ra cả một thiên tiểu thuyết để tả cái gia thế nhà y, bịa đặt ra những nhân vật đẹp đẽ và các phương diện ăn chơi hào phóng hay đạo mạo nho phong. Người được y tả tỉ mỉ chu đáo nhất là cụ cố và bà lớn. Cụ cố là một hưu quan chỉ thích đánh tổ tôm và uống chè tàu. Cụ ở trong một cái nhà lầu kiến trúc kiểu tây. Trước mặt là cái vườn hoa trồng đủ các thứ hoa quý và lạ. Trên giàn thì treo đủ các thứ phong lan đi kiếm từ các miền thượng du đem về. Còn bà lớn thì tính rất tốt rất rộng lượng, để mặc quan lớn muốn yêu ai thì yêu. Một mình bà lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng thượng đẳng điền, người ăn người làm tấp nập quanh năm, nên không rảnh rang mà lên thăm quan được. Nào đã hết đâu, quan lại còn có một người em trai đã đậu tú tài tây và đương theo học trường Luật và một người em gái nhan sắc tuyệt trần hiện còn đương kén chồng. Tóm lại nhà quan lớn là một nhà danh giá và sung sướng vào bực nhất ở Bắc Hà.

oOo

Một buổi sáng người ta thấy đến phố chợ Trào một ông già râu tóc hoa râm và một người đàn bà vào chạc ngoài ba mươi tuổi. Cả hai đều y phục quê mùa, ông lão mặc cái áo cánh đũi nhuộm vỏ xó và một cái quần nâu sắn cao đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu bã với miếng đổi vai bằng lụa thâm, một cái váy chồi nhuộm bùn và một cái yếm trắng cổ xẻ với hai giải màu hoa hiên đã cũ.
Họ hỏi đường sang đồn, xuống phà qua sông, khó khăn nặng nhọc leo cái dốc cao, gồ ghề. Được một quãng ông già lại đặt cái tay nải nâu xuống ngồi hổn hển và thì thầm nói chuyện với người kia. Đứng trên vòm canh, người lính gác nhìn theo họ và nghĩ thầm : “Lại một ông già và một mẹ đĩ lên thăm con thăm chồng”.
Đương gò lưng leo nốt đoạn cuối cùng của cái dốc dài tưởng không bao giờ đến đỉnh, thì hai người bỗng dựt mình vì một tiếng hô lớn từ trên vòm chòi ném xuống. Họ ngửng đầu sợ hãi nhìn lên.
- Hai người nhà quê hỏi ai?
Không phải vì hai người kia ăn mặc quê mùa mà người lính gọi họ là “nhà quê”. Đối với quân đội, vì thói quen bắt chước người Pháp, chỉ có ba hạng người Việt Nam : nhà binh, nhà pha, nhà quê. Những người không phải nhà binh và nhà pha đều là nhà quê. Vì thế , một thiếu nữ y phục tân thời, nếu nghe một chú lính canh kêu là “nhà quê” thì đừng nên lấy làm lạ và phật lòng.
- Thưa thầy, chúng tôi vào thăm ông quản.
Người lính hỏi lại để chữa câu nói hỗn của bọn nhà quê :
- Vào hầu quan có việc gì ?
- Bẩm chúng tôi là người nhà.
Chú lính canh cho người vào trình quan. Một lát sau người này ra cổng hách dịch quát :
- Người nhà thế nào mới được chứ ?
- Bẩm bẩm tôi là… tôi là… Người đàn bà thấy ông lão ấp úng lúng túng liền đỡ lời:
- Thầy vào trình hộ rằng có ông cụ và người đàn bà ở nhà quê ra thăm.
Người lính gắt :
- Ông cụ ! Nhưng ông cụ có họ hàng thế nào với quan ?
- Thưa ông cụ… sinh ra quan, còn tôi là vợ…
Người lính hơi có vẻ sợ hãi vội vàng quay vào đồn, thì vừa gặp ông quản đứng trong sân ngó nhìn ra hỏi:
- Hai bố con lão nhà quê đến xin gì thế chú ?
- Bẩm, bẩm quan…
Người lính không dám nói dứt câu.
- Đuổi cổ chúng nó ra !
Câu quát tháo to quá khiến ông già và người đàn bà cũng nghe thấy. Và nhân lúc cổng đồn mở, họ xông vào trong sân. Thấy thế viên quản liền thét :
- Bọn nhà quê kia đi đâu ? Có biết nơi này là gì không mà dám xông xáo hử ? Mất đầu như chơi biết chưa ? Tống cổ chúng nó ra !
- Tăng ! Anh Tăng !
Ông già và người đàn bà chỉ kêu được một tiếng thì đã bị hai người lính ẩy bừa ra khỏi cổng đóng sập cánh cửa lại.

oOo

Ông lão già và người đàn bà lại lủi thủi xuống dốc. Họ cùng uất ức đến cực điểm nên không ai nói với ai một câu, cả hai cùng chôn sâu nỗi căm hận trong lòng
Ở chân đồi, ngay bên sông, có một ngôi đền thờ Mẫu. Người đàn bà mua vàng hương vào lễ, quỳ khấn rất lâu, thì thầm kể lể hết nỗi niềm tâm sự với Mẫu. Khi ra đường nàng thấy bố chồng vẫn ngồi y nguyên một chỗ, mắt đỏ ngầu đăm đăm nhìn giòng sông chảy mạnh, quay nhanh cái guồng nước sừng sững in lên nền trời trong.
- Thôi đi về, thầy !
Ông già thong thả đứng dậy. Nhưng ông đi rẽ xuống ruộng chứ không qua phà. Ông bảo con dâu:
- Tao không muốn gặp người lái phà, vì tao đã trót bảo cho nó biết tao là bố thằng Tăng.
Người đàn bà cũng lẳng lặng đi theo ông. Hai cha con men bờ ruộng sang một khu rừng lao xao, qua một cái cầu tre bắc trên suối, rồi đến ngồi nghỉ ở một bãi cát sỏi bên sông. Sau trận mưa to đêm hôm trước nước nguồn kéo về chảy ào ào như thác. Những thân cây từ rừng đổ về nổi lềnh bềnh và bị giòng nước phăng phăng cuốn đi.
- Dẫu sao thì cũng ăn nắm cơm cho đỡ đói đã thầy ạ.
- Mày cứ ăn trước đi. Tao không đói.
Ông già đứng lên, ra sát bờ sông đứng vịn vào một thân cây lao xao. Bỗng ông nghiêng nét mặt dữ tợn nhìn giòng sông, thốt lời nguyền độc :
“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng thăm con thì chết như thế này”.
Dứt lời ông gieo mình xuống sông tự tử. Và thân ông cùng với các thân cây, bị nước nguồn vô tình cuốn đi…
oOo
Từ đó lời nguyền vẫn thiêng. Những người cha, người vợ lên đây thăm con, thăm chồng, khi trở về đều ốm nặng rồi chết.
Và những binh lính trên đồn, những dân Kinh bên phố đều sống dưới sự đe dọa và sự thực hiện của lời nguyền.


Khái Hưng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 16 Nov 2014 08:53 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
36 . Tống tiền


Đêm khuya. Sau cuộc tổ tôm, bữa cháo gà thết khách đã hầu tàn.
Đồng hồ rè rè buông hai tiếng, rời rạc, mỏi mệt như hai cái ngáp dài. Một bà bé nhỏ, gầy gò, ngước nhìn, cặp mắt lộ sợ hãi:
- Chết chửa! Hai giờ!
Bà ta thuật cho mọi người nghe một vụ vào nhỏ ra to cách đây chỉ độ nửa tháng, thuật rành rọt có đầu có đuôi và tỉ mỉ từng li từng tí, làm như những người kia toàn là khách xa lạ mới tới, không ai biết chuyện gì trong cái thành phố nhỏ hẹp yên tĩnh của bà.
Tiếp lời người đàn bà, một ông rồi lại một ông kể sang những chuyện khác, toàn chuyện trộm cướp, tống tiền, báo thù. Chuyện quân gian phi đem thực nhiều pháo đến mừng tuổi Tết để lấp tiếng phá phách và tiếng kêu gào cầu cứu. Chuyện bọn cướp theo và chẹt cổ người đánh bạc về khuya giữa lúc người ấy ngủ gà ngủ vịt đứng đợi mở cổng. Chuyện người con dắt cướp về nhà cha mẹ vì không xin được tiền để chơi bời.
Mọi người như đều tỉnh hẳn ngủ. Riêng một bà từ nãy vẫn ngồi im chăm chú nghe chuyện. Mặt bà ta không hề đổi sắc, không tỏ vẻ kinh dị hay bực tức, hay thương hại. Bà ta đã nổi tiếng, trong khắp các phố, là một người lãnh đạm, ít nói, ít vui. Cặp mắt bà ta như không có tinh thần, cái miệng cười nhạt nhẽo, mái tóc điểm bạc đã trở nên màu chì, tuy năm nay bà mới trong vòng bốn mươi và người trông lại còn trẻ lắm. Hình như sau ngày chồng bà ta bị tống tiền hụt, bà ta sinh ra như thế: có lẽ vì bà ta sợ hãi quá.
Chồng bà ta, ông hàn Năm, là một nhà cự phú, nhờ về cho vay lãi hơn là nhờ về buôn bán mà trở nên có bạc vạn. ở vùng, ai ai cũng biết ông ta là một người keo bẩn, ít giao du. Ngoài cái thú làm giàu dễ ông ta không còn cái thú gì khác nữa.
Hai người lấy nhau không phải vì tình, điều ấy đã cố nhiên, nhưng cũng không phải vì môn đăng hộ đối: nhà chồng mấy đời theo nghề lái trâu, còn bà vợ là con một ông quan võ cuối thời vua Tự Đức, đã nhiều phen đương đầu chống cự với binh nước Pháp... Họ lấy nhau chỉ vì người bố chồng thấy ông đề đốc có nhiều tay môn hạ ăn chơi ở rải rác khắp vùng nên xin kết thân gia để đỡ mối lo sau này.
°
° °
Trong khi ai nấy đua nhau mắng nhiếc thằng con bất hiếu, bà hàn chỉ mỉm cười, cái mỉm cười bí mật và chua chát nữa. Rồi bà ta nói:
- Biết đâu trong câu chuyện dắt cướp ấy lại không có nhiều ủy khúc mà người ngoài không trông thấy, không đoán biết được. Phải, biết đâu không vì lòng hiếu thảo mà người con kia đã dắt cướp đến nhà cha mẹ?
Tiếng cười phá lên:
- Vì lòng hiếu thảo?
- Vâng, biết đâu!
Chờ cho im hẳn huyên náo, bà hàn bình tĩnh, thản nhiên kể:
- Tôi biết một câu chuyện ly kỳ có lẽ chẳng kém gì chuyện người con dắt cướp về nhà cha mẹ. Chuyện có thực, vì chính tôi biết nó thực, vì vai chủ động trong truyện, là bạn tôi, một người bạn thân của tôi. Người bạn ấy không giấu giếm tôi một tý gì, thuật lòng đầu tuyệt vĩ câu chuyện cho tôi nghe. Trong bao năm tôi giữ bí mật những lời bạn thú với tôi - vì đó chính là những lời thú tội. Nhưng nay tôi có thể không cần phải giữ kín nữa. Người có liên can tới việc ấy nay đã... được tha về...
Bà hàn cúi mặt suy nghĩ. Mọi người lắng tai chờ nghe. Bà hàn thoắt ngửng lên mỉm cười:
- Đây, câu chuyện thế này: vợ chồng người bạn tôi buôn bán ở một tỉnh nhỏ, nhà cửa vào bực giàu có. Người chồng hơi chặt chẽ. Người vợ, trái hẳn, lại có tính rộng rãi. Nhưng quyền bính trong nhà ở cả người chồng. Người vợ chẳng được dúng tay vào một việc quan hệ: cần tiêu món gì phải xin người chồng chi cho từng đồng, từng hào. Vả bạn tôi cũng không thiết từng công việc làm giàu làm có, chỉ thích được nhàn rỗi mà đánh tổ tôm, cùng đọc truyện, truyện Tam quốc, truyện Chinh đông, Chinh tây và hầu hết những truyện Tàu đã dịch ra quốc ngữ.
"Một hôm, vào buổi chiều, bạn tôi thấy có người đến chơi ngồi nói chuyện với chồng. Người chồng từ chối, gắt gỏng luôn miệng, còn người khách thì có giọng van xin khẩn thiết.
"Sáng hôm sau, người ấy lại đến. Bạn tôi mới kịp nhận ra là ông chủ Giây thép.
"Buổi trưa, ông ta trở lại một lần cuối cùng. Hình như chồng bạn tôi có hứa với ông ta một câu vu vơ cho xong chuyện, vì hứa rồi bỏ đi xa liền, hẹn vợ mãi khuya mới về.
"Bạn tôi ngồi tiếp khách và biết rằng ông chủ Giây thép vì ham mê cờ bạc đã trót tiêu lạm mất năm trăm vào tiền "két". Sáng hôm sau, ông thanh tra về xét sổ sách, nếu thấy thiếu tiền trong quĩ thì ông chủ Giây thép không những bị mất việc mà chắc chắn còn bị tù tội nữa.
"Ông khách tìm những lời cảm động để làm chuyển lòng bạn tôi. Ông ta nói ông ta có một mẹ già, một vợ và bảy đứa con nhỏ. Một nhà gần mười miệng ăn chỉ trông vào ông ta, vào lương ông ta để sống, ông ta mà mất việc thì không biết cái gia đình ấy sẽ ra sao. Ông ta lại kể lể ông ta chơi rất thân với chồng bạn tôi: hai người cùng học một lớp ở trường tiểu học, vì công việc phải xa cách nhau hơn mười năm bây giờ lại được cùng nhau ở cùng một tỉnh.
"Bạn tôi động lòng thương khách, và thầm trách chồng xử tàn nhẫn thế được với một người bạn thâm niên! Nhưng bà chỉ thở dài bảo ông chủ Giây thép:
" - Thưa ông, nếu tôi có thể giúp được thì tôi giúp ông ngay, nhưng quả tôi không có cách gì.
"Thấy mắt khách rớm lệ - hai con mắt sâu hoắm trong cái mặt hốc hác - bạn tôi ngồi im. Hồi lâu mới hỏi:
"- Thế sáng nay nhà tôi dặn ông những gì?
"Ông kia đáp:
" - Ông dặn trưa nay lại, ông sẽ liệu.
"Bạn tôi không ngờ chồng lại ác được đến thế. Không cứu giúp người ta thì thôi, bảo thực cho người ta biết chứ sao lại nói dối người ta để nhỡ việc người ta ra. Bà liền bảo khách:
"- Tôi nói câu này, ông đừng khinh tôi nhé, không hi vọng gì nhà tôi đâu, liệu đi vay chỗ khác, chẳng nữa không kịp mất.
"Khách buồn rầu đáp:
"- Thưa bà, tôi đã đi khắp mọi nơi, nhưng đều không ăn thua. ở cái tỉnh hẻo lánh này trừ ông bà ra còn có ai có nổi năm trăm bạc một lúc cho vay... Thưa bà, tôi xin làm văn tự cẩn thận tháng tháng xin trả góp cả vốn lẫn lãi. Lương tôi hơn một trăm làm gì không trả nổi...
"Bạn tôi ngắt lời:
"- Ông kể với tôi vô ích, vì tôi không thể làm gì được đâu mà.
"Ông chủ Giây thép thở dài nói một mình:
"- Thế thì chỉ có việc...
"Lòng đầy trắc ẩn, bạn tôi ngắm người đàn ông khổ sở, và càng căm tức chồng đã quá tàn nhẫn.
Khách lảo đảo đi ra, bà chợt nghĩ tới một điều, liền gọi lại:
"- Hay thế này... Thử liều...
"Ông chủ Giây thép đứng đợi, hi vọng. Nhưng bạn tôi cũng chỉ nói có thể, rồi im lặng nhìn vơ vẩn ra sân, vẻ mặt lo lắng. Ông kia hỏi:
"- Thưa bà dạy thế nào ạ?
"Bạn tôi cố trấn tĩnh, ghé gần khách thì thầm:
"- Hay thế này... Thử liều xem... Nhà tôi nhát lắm cơ đấy... Tối nay ông cứ trá hình, bôi nhọ mặt đến ... đến tống tiền xem. Tôi sẽ làm tay trong cho ông: Năm trăm bạc đối với nhà tôi có lẽ chẳng mùi mằn gì, nhưng có thể cứu được cả gia đình ông... Với lại, rồi ông sẽ trả cơ mà".
Một người nghe chuyện phá lên cười:
- Bà bạn của bà ghê gớm quá!
Bà hàn vẫn thản nhiên kể:
"- Bạn tôi dặn đủ các mưu kế, rồi hai người hẹn nhau đúng một giờ đêm ra tay...
"Nhưng tối hôm ấy ông chủ Giây thép vừa trèo qua tường đã bị ngay lính cảnh sát tóm được. Khám trong người ông ta, thấy một khẩu súng lục giả và một con dao nhọn..."
Bà hàn ngồi lặng, tâm hồn xúc động, một lát sau, bà kể tiếp:
"- Ngày ấy đương phong trào Quốc dân đảng nên ông chủ Giây thép bị nghi ngay là người đảng sai đi tống tiền. Khám quỹ thấy thiếu năm trăm bạc, người ta càng tin chắc điều ấy lắm. Bị tra tấn, ông ta không dám thú sự thực, sợ liên lụy tới người đàn bà hào hiệp đã hết lòng cứu vớt mình. Ông đành nhận liều những tội mà người ta buộc cho ông, nghĩa là có chân trong hội kín, và thụt quỹ và đi tống tiền để giúp hội.
"Bạn tôi ngày đêm buồn phiền và hối hận. Định làm ơn ngờ đâu lại gây nên tội vạ tầy đình. Từ đó bạn tôi sống khổ sở, thiếu thốn, không dám tiêu phí một đồng nào, sắm sửa một thứ gì, chắt bóp để dành rồi gửi đến cho vợ con người mắc tội oan. Bà ta thú với tôi rằng lúc ban đầu bà ta đã toan ra tòa án nhận hết tội nhưng sau lại nhút nhát không dám. Vì các ông các bà tính bà ta cũng còn danh dự của bà ta. Một người đàn bà có chồng với năm mặt con. Nếu thú nhận thì nghiễm nhiên là tình nhân ông chủ Giây thép mất. Bà ta lại tiếp được một bức thư của ông này gửi đến xin bà đừng để lộ một điều gì..."
Bà hàn ngừng vài giây rồi mỉm cười kết luận:
"- Đó, câu chuyện của tôi. Các ông các bà có cho là thảm không? Câu chuyện ấy có lẽ không bao giờ tôi kể cho ai nghe, nếu người trong chuyện không vừa được ân xá mới rồi..."
Ai nấy ngơ ngác nhìn nhau, và kinh dị nhìn người kể chuyện, như thầm hỏi:
- Chuyện ai thế?
Rút từ tập truyện ngắn Đợi chờ


Khái Hưng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 16 Nov 2014 08:56 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
37 . Thời chưa cưới


Trên bãi biển Sầm Sơn, Phát và Hoàn biết nhau, lưu ý đến nhau rồi thân mật với nhau.
Hoàn và mẹ thuê nhà nghỉ mát, thuộc dẫy thứ sáu. Mỗi khi ra bãi biển, Hoàn phải qua một khách sạn nhỏ. Phát trọ ở đấy. Sáng nào, chiều nào chàng cũng đứng trên hiên gác đợi Hoàn đi tắm. Và chàng thả xuống những lời bỡn cợt. Trước Hoàn còn mỉa mai đáp lại. Sau thấy anh chàng trơ trẽn quá, nàng lặng thinh, hoặc mỉm cười khinh bỉ. Nhưng cái lặng thinh ấy, cái mỉm cười ấy, Phát không cho là có ý khinh bỉ. Trái lại, chàng nhất định tin rằng Hoàn ưng mình.
Hoàn khó chịu, đi lối khác ra biển tuy lối này vừa dài hơn, vừa bẩn hơn, nhất những hôm trời mưa. Biết thóp, Phát đến đón ở gần cổng nhà Hoàn, để theo nàng đi tắm. Hoàn bật cười. Và chẳng giữ nổi vẻ lạnh lùng, nàng trả lời Phát một câu nhã nhặn. Thế là hai người bắt đầu làm quen nhau.
Từ đấy Hoàn lại theo con đường cũ. Mỗi lần qua khách sạn, nàng ngửng lên nhìn, và cố nhiên gặp Phát đứng vẫy rồi vội xuống để cùng ra bãi biển. Hoàn thấy Phát có duyên. Phát thấy Hoàn không nhạt cũng không rởm đời như phần nhiều thiếu nữ chàng đã gặp. Đó là, theo ý chàng, một hạnh kiểm rất hiếm ở một cô gái con nhà.
Nhờ làn không khí dễ dàng ở nơi tắm biển, hai người rất chóng thân mật, suồng sã với nhau nữa. Nghĩa là có những cử chỉ và ngôn ngữ mà ở Hà thành người ta sẽ cho là quá thân mật, suồng sã. ở đây, đó chỉ là những sự đã được coi thường, đã quen mắt lắm. ở đây, còn ai giữ gìn bẽn lẽn làm gì nữa, khi mà nam nữ gần trần truồng đứng nói chuyện với nhau hằng giờ rất tự nhiên và thẳng thắn. ở đây, chỉ những người giả đạo đức mới cho thế là lõa lồ, là dơ dáng.
Vì thế, không ai lưu ý đến Phát và Hoàn khi hai người cầm tay dắt nhau đi dưới nước, hay rúc rích cười nhảy theo làn sóng trắng. Và khi Phát dạy Hoàn bơi, không những chị em bạn Hoàn không lấy làm chướng mắt mà còn nhờ Hoàn giới thiệu mình với Phát để được chàng dạy. Phát đã trở nên một thiếu niên được phái đẹp cưng chiều trên bãi biển. Chàng không lấy thế làm tự hào với đám phụ nữ vì ngoài Hoàn ra chàng không để mắt tới một ai. Chàng sung sướng rằng môn bơi lội của mình đã làm tôn giá trị mình ở trước mặt Hoàn. Còn Hoàn thì nàng tự phụ rằng đã quen trước các chị em một người có tài bơi lội - chỉ cái tài ấy là đáng kể ở nơi bãi biển - mà lại quen thân. Nhưng một hôm, chính nàng cũng không hiểu tại sao, nàng bỗng cảm thấy nàng ghen. Tính tình ấy vụt hiện ra trong tâm khảm nàng. Có lẽ thoạt tiên đó chỉ là lòng ích kỷ không ưng người khác có cái mình có. Phát đã dạy nàng bơi, nàng muốn một mình nàng được hưởng cái đặc quyền ấy.
Rồi tính ghen thu hẹp lại trong phạm vi ái tình, Hoàn đau đớn nhìn Phát giữ trong tay những tấm thân màu nâu hồng, chắc nịch và khỏe khoắn.
Nàng đã bắt đầu yêu.
Phát thì mê man, ngây ngất trong giấc mộng mới nhóm. Chàng thấy Hoàn có đủ hết đức tính về hình thức và tinh thần. Một hôm chàng gọi đùa và nịnh: "Cô Hoàn toàn". Hoàn sung sướng đỏ mặt, nhưng vờ hỏi:
- Sao anh lại gọi tôi là Hoàn toàn?
Chàng mỉm cười đáp:
- Vì cô hoàn toàn đẹp cả người lẫn nết.
Mặt Hoàn càng đỏ, và nàng ngượng ngùng nhìn Phát:
- Anh cứ mỉa em!
Thế là tiếng "em" đột ngột lọt vào trong câu chuyện, rồi ở lại đấy; trước còn ngập ngừng, sau trở nên tự nhiên và thân mật. Tới thời kỳ ấy, anh chị đã năng đến nhà nhau, hoặc Phát lại bà hàn rồi cùng bà và Hoàn ra bãi biển, hoặc Hoàn lúc qua khách sạn rẽ vào đó để đợi Phát thay slip. Những hôm bà hàn không đi tắm được, bà không quên dặn Phát:
- Ông đừng cho em ra xa quá nhé. Tôi nghĩ đến những người chết đuối mà tôi sợ... Mà ông cho em về sớm một tí.
Lần nào Hoàn cũng cười và có khi nũng nịu đáp lại mẹ:
- Mẹ làm như con mẹ lên năm lên ba không bằng!
Nếu con bà lên năm lên ba thì bà hàn đã chẳng lo sợ. Bà lo sợ chỉ vì Hoàn năm nay vừa mười tám. Nhưng bà đã kịp hỏi thăm tin tức về Phát rồi. Bà biết Phát là con nhà giàu sang lại sắp lên năm thứ ba trường Luật. Vì thế bà bằng lòng cho phép Hoàn gần gụi Phát tuy bà càng cẩn mật giữ gìn con gái hơn trước. Bà thầm mong Phát sẽ trở nên rể bà, nhưng bà vẫn ngại cho cái tính quá phóng túng, quá tự do của cô con cưng.
Trong khi ấy, Phát và Hoàn đi sâu mãi vào tính tình, vào tâm khảm nhau. Và một ngày một thêm kính trọng, yêu mến nhau hơn. Phát cho Hoàn là người vợ mình mơ ước bấy nay. Không một cái gì một người đàn bà cần phải có mà chàng không thấy Hoàn có. Về phần Hoàn, thì nàng mừng rằng nàng đã do dự chưa nhận lời lấy Phiên, người đến hỏi nàng đầu năm nay. So với Phát, Phiên còn đáng kể vào đâu!
Về Hà Nội, Phát vẫn chăm chỉ đến nhà Hoàn. Bây giờ, tuy chưa hỏi, hai người đã tôn nhau như vị hôn phu và vị hôn thê của nhau rồi. Trong đám bạn bè của hai nhà, có người lại tưởng như Phát và Hoàn đã lấy nhau.
ở Hà Nội, làn không khí thân mật suồng sã ngoài bãi biển đã nhường chỗ cho một làn không khí trang nghiêm và buồn tẻ nơi khách thính. Nhưng không vì thế mà đôi bên thấy kém lạc thú trong sự giao thiệp. Có buổi chiều, hằng giờ ngắm nghía Hoàn đan chiếc áo len ở bên cạnh bà mẹ ngồi chăm chú phá trận, Phát sung sướng hơn là được trò chuyện với Hoàn. Vì trong lúc yên lặng ngắm nghía Hoàn, chàng nghĩ đến cái sung sướng không cùng của chàng.
Nghỉ hè năm sau, Phát đã đỗ bằng cử nhân. Và trước khi vào Sầm Sơn, chàng đã hỏi Hoàn làm vợ. Đó là một việc không cần vội, theo ý Phát và Hoàn, nhưng trước sau cũng một lần, làm cho xong đi thì vẫn hơn. Vả hỏi rồi, hai người sẽ được tự do nói chuyện, sẽ được tự do đi chơi mát với nhau mà không sợ người ta dị nghị.
- Nhưng chỉ hỏi thôi đấy nhé? Còn cưới thì hãy thong thả.
Hoàn âu yếm bảo Phát thế. Và Phát cười ngất trả lời:
- Vâng, xin tuân thượng lệnh.
Hoàn cảm động, giọng nói run run:
- Năm nay em mười chín, ước gì em được sống cái thời chưa cưới trong ba năm nữa.
- Bấy giờ em hăm hai và anh hăm sáu, vừa lắm. Thời chưa cưới càng dài mình càng sung sướng, phải không em?
Hoàn giọng nũng nịu:
- Chính thế. Với lại em sợ lúc cưới rồi, anh không yêu em bằng lúc chưa cưới.
Phát cười, trách:
- Em không tin bụng anh hay sao?
Hoàn vội vàng tạ lỗi.
Quả nhiên hai người xin được nhà cho hoãn việc cưới. Họ đều là con cưng, muốn sao cũng được cha mẹ chiều theo.
Năm nay ra biển, Hoàn thấy kém thú. Nàng cố tìm duyên cớ, và dễ dãi nàng cho ngay rằng Sầm Sơn buồn tẻ là vì số người ra nghỉ mát không đông. Sự thực thì chỉ tại năm trước nàng mới bắt đầu làm quen với Phát, nàng còn đương náo nức, bồng bột. Năm nay lòng nàng đã trấn tĩnh lại. Và bên người chồng chưa cưới, nàng thấy cần phải giữ gìn hơn bên một người bạn trai. Với người bạn, nàng không sợ phật ý. Với người chồng chưa cưới, nàng chỉ lo làm phiền lòng vì một câu nói lỡ, hay vì một ý tứ kém thân yêu. Nàng trở nên thiếu thành thực đối với Phát và đối với mình. Không phải nàng không yêu Phát bằng năm ngoái, trái lại thế. Nhưng lúc nào nàng cũng phải cố biểu lộ tình yêu của nàng, đó có lẽ là cái cớ làm cho nàng lúc nào cũng áy náy không vui.
Còn Phát thì chàng thấy cử chỉ của chàng ngượng ngập, ngôn ngữ của chàng lúng túng.
Bọn phụ nữ quen chàng bảo nhau: "Phát làm sao ấy, không được như năm ngoái nữa". Quả thực, Phát kém thân mật, kém vui vẻ, kém cả tự nhiên đối với họ. Chàng đã nhận biết tình ghen của Hoàn. Chàng thầm cảm ơn Hoàn, cho tình ghen ấy là tình yêu. Và chàng cố cư xử sao cho Hoàn khỏi bực tức vì chàng: Chàng lạnh lùng với tất cả mọi người, trừ Hoàn ra. Chẳng bao lâu chàng trở nên một người cứng cỏi, ít giao thiệp. Nguy hiểm cho chàng, Hoàn cũng nhận thấy thế.
Nhưng may mắn cho hai người, mùa nghỉ mát của họ kéo dài có đến đấy. Họ về Hà Nội và tình thế cứu vãn kịp. Vì ở Hà Nội hai người ít gặp nhau hơn ở Sầm Sơn, và nhờ đó, ít phải giữ gìn hơn. Bởi thế họ lại cảm thấy họ yêu nhau nồng nàn. Có xa nhau mới biết yêu nhau, mới nhận thấy tình yêu của nhau. Mà ở Hà Nội tuy gần nhau nhưng hai người vẫn xa nhau. Phát ngày hai buổi bận dạy học ở một trường tư. Rỗi lúc nào lại cắm cổ học thêm để chờ thi tham tá lục sự, hay thương chánh hay một chân kiểm sát ngạch tây nào đó. Theo luồng tư tưởng mới trong đám trưởng giả mới, Hoàn rất ghét quan, lấy sự nói xấu quan trong khách thính làm hợp thời thế.
Hoàn cũng biết Phát chăm học lắm, và chăm học như thế là vì nàng. Nàng cảm động và yêu Phát hơn, mặc những lời chỉ trích của các chị em bạn. Họ bảo Hoàn:
"Anh cử nhà chị học lấy chết à?" - "Anh đồ của chị học mụ người đi mất thôi." – "Bây giờ chả thấy mặt mũi anh chàng đâu nữa" - "Ghê quá! Hôm nọ gặp chàng ở Gôđa, trông người bây giờ lù dù tệ!"
Hoàn nghe những câu chế giễu đã chán cả tai. Nhưng một hôm nàng thấy Phát lù dù thật, nhất Phát lại đi bên cạnh một người bạn lực lưỡng, khỏe mạnh, đẹp đẽ bội phần. Phát giới thiệu bạn với vị hôn thê:
- Anh Huấn, một nhà quán quân quần vợt kiêm quán quân bơi lội, sinh viên trường thuốc.
Hoàn nhã nhặn đưa tay ra bắt.
Sang nghỉ hè năm thứ ba của thời chưa cưới. Đã có sự thay đổi: Phát vừa đỗ kiểm sát thương chánh và bà hàn vừa làm xong nếp nhà nghỉ mát ở Sầm Sơn. Bà mời Phát cùng đến ở với mẹ con bà, nhưng Phát từ tạ nói đã trót thuê nhà rồi. Sự thực, chàng giữ kẽ không muốn đến ở nhà vợ trước khi cưới, nhất chàng lại biết bà mẹ vợ rất khó tính và lắm điều.
Vui vẻ khỏe mạnh nay đã trở về với Phát. Những người quen thuộc đều nhận thấy anh Phát năm xưa, hồi còn theo học trường Luật. Nhưng Hoàn, trái lại, lúc nào cũng nghĩ ngợi, nét mặt buồn tẻ, lạnh lùng. Phát mải đùa nghịch không hề lưu ý đến cái buồn, cái tẻ của nàng, làm nàng càng bực tức, khó chịu. Nàng khinh bỉ tự nhủ thầm:
"Lúc người ta lên thì người ta biến đổi đến thế đấy! Nhưng mới được thế mà đã cho là lên thì tầm thường quá!".
Và nàng thấy Phát tầm thường. Nhớ lại, nàng không tìm thấy một cái gì cao thượng ở Phát. Nhưng nàng chép miệng tự an ủi: "Người ta tầm thường như thế cả, có gì mà mình phải bận lòng!"
Giữa lúc ấy Huấn vào Sầm Sơn, đến ở nhà Phát. Tính ngộ nghĩnh hay pha trò của Huấn khiến Hoàn quay về với vui vẻ được hơn một tuần lễ. Rồi sau khi Huấn ra Hà Nội, đâu lại vào đó.
Một hôm nàng mỉm cười chua chát đứng nhìn Phát giữ cho một bạn gái của nàng tập nằm ngửa trên mặt nước. Phát quay lại, thoáng nhìn thấy cái mỉm cười ấy. Chàng không giữ nổi chau mày. Chàng nghĩ thầm: "Hoàn vô lý quá! Bạ ai cũng ghen". Tình ghen mà trước kia chàng cho là tình yêu, nay chỉ là một tính tình nhỏ nhen, khả ố. "Chưa cưới mà còn thế này, nữa là lúc đã cưới. Mình sẽ mất hết tự do". Chàng cũng không trang nghiêm nghĩ tới tương lai. Và ngay buổi chiều, chàng ngỏ ý kiến với Hoàn về tình ghen. Chàng không muốn để bụng một điều gì. Hoàn xin lỗi chàng. Phát đã quen với tính mỉa mai của vị hôn thê. Chàng không biết lúc nào Hoàn thành thực, lúc nào nàng giễu cợt. Đối với Hoàn, chàng thường ngờ vực, và những lời xin lỗi của Hoàn, chàng không dám chắc rằng đó là những lời thành thực.
Giữa hai người như có một bức rào ngăn cản. Cả hai cùng cố phá bức rào ấy đi, nhưng phá một cách quá uể oải, nên một ngày nó một mọc dầy hơn, bền vững hơn.
Chỉ còn những sự giả dối để che đậy. Cử chỉ dịu dàng, ngôn ngữ mềm mại, thân mật. Và ở ngoài bãi biển bao giờ hai người cũng đi liền với nhau. Họ khoác cánh nhau, vui cười trò chuyện với nhau. Nhưng đó là những lúc linh hồn họ xa nhau nhất. Hoàn bảo Phát: "Sáng mai chúng ta ra tắm sớm nhé?".
Và nàng nghĩ thầm: "Mình phải bảo Nga, Lan cùng đi tắm mới được, nếu không thì sẽ buồn chết". Phát cố giữ cái ngáp để trả lời: "Phải đấy Hoàn ạ, mai đi tắm sớm nhé!" Và chàng tự nhủ: "Để ngắm cái mặt buồn thiu của bà vị hôn thê! Rõ khổ!".
Họ đi sát cánh nhau. Họ nói chuyện để nghe thấy câu chuyện tẻ nhạt của nhau. Họ yên lặng để nghĩ đến, để nhớ đến cái xoàng, cái tầm thường của nhau, của gia đình nhau. Nay họ biết nhau, hiểu nhau như vợ chồng. Ba năm gần chung sống rồi còn gì! Cái mỉm cười của người này, người kia nhận thấy hết nghĩa sâu kín. Câu khôi hài của người kia người này cố không nghe thấy vì đã nghe không biết lần thứ mấy rồi.
Họ hiểu nhau, để mà chán nhau, để mà khinh nhau. Nếu họ là vợ chồng rồi thì họ cứ chán nhau, cứ khinh nhau, không sao. Đằng này họ là vị hôn phu, vị hôn thê của nhau. Họ có can đảm chán, khinh nhau mãi để chờ ngày cưới không?
Phát cho việc hôn nhân của mình là một câu chuyện danh dự: Vì chàng gắn bó theo đuổi mà Hoàn trở nên vị hôn thê của chàng. Bây giờ còn biết nói sao? "Thôi thì cũng liều; vả lại lấy Hoàn vị tất đã khổ hơn lấy một người khác, bất cứ người nào... Về nhan sắc, thì Hoàn chẳng kém mấy ai. Có một người vợ đẹp kể cũng oai, cũng đáng tự hào với chúng bạn". Tư tưởng ấy làm Phát bật cười lên tiếng.
Hoàn thì cho việc hôn nhân của mình là do số mệnh. Nàng nghĩ đến, nàng nhớ lại những người định hỏi nàng và bị nàng lãnh đạm từ chối. Nàng thấy những người ấy đều hơn Phát. "ít ra cũng không tầm thường bằng!" Vì mới quen, nàng không biết tính tình họ, nhưng nàng chắc rằng không đến nỗi xoàng xĩnh như tính tình Phát.
Kể nàng tìm cớ tuyệt giao thì cũng được, thì cũng chẳng khó khăn gì. Phiền một nỗi thời chưa cưới của nàng đã kéo dài quá. Ai ai cũng biết rằng nàng là vị hôn thê của Phát. Ai ai cũng nói đến. Hơn thế, người ta coi hai người như đã thành vợ chồng rồi. Chẳng lẽ bây giờ câu chuyện lấy nhau bỗng im bặt đi! Như cái pháo tịt ngòi? Thế còn ê chề hơn là nhắm mắt lấy nhau vậy. Giá Phát xin thôi, thì đã đi một lẽ. ừ, giá Phát xin thôi...
Từ đó nàng hy vọng Phát xin thủ tiêu hôn ước. Và tính nết nàng càng khó chịu: nàng mong thầm rằng nhờ thế mà may ra nàng được Phát tuyệt giao.
°
° °
Hết hè, nhà Phát và nhà Hoàn nhộn nhịp sắm sửa. Đôi bên cha mẹ muốn lo xong việc hôn nhân cho con trước khi Phát được bổ vào Sài Gòn.
Và đám cưới linh đình, ồn ào, ầm ĩ. Để che cái nhạt nhẽo, cái lạnh lùng của hai linh hồn sắp hòa hợp.
Tối nhập phòng, Phát bảo Hoàn:
- Giá chúng ta lấy nhau ngay mùa hè mới biết nhau ở Sầm Sơn...
Hoàn hiểu thấu tư tưởng của Phát, cau có hỏi:
- Sao anh lại nói thế?
Phát chữa:
- Thì có phải bây giờ đã có con rồi không?
Hoàn cười làm lành:
- ừ! Thì bây giờ may ra đã có con rồi.


Khái Hưng

Hà Nội, 1938.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 19 Dec 2014 08:14 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
38 . Bên Đường Dừng Bước


Sáng hôm ấy khi Bằng ở ấp Ðoan Dương ra đi trời hưng hửng nắng, khiến Bằng cảm thấy tâm hồn khoan khoái và thân thể nhẹ nhàng, như được tắm trong bầu không khí khoáng đãng, trong luồng gió lạnh đầy hương phấn buổi đầu xuân, và chiếc xe đạp của Bằng tự sức nó đi vùn vụt khi xuống đồi, khi lên giốc : chân Bằng cử động mà Bằng không thấy mỏi.

Là vì Bằng vui mừng được xa lánh một nơi mà ở đó Bằng không yêu mến ai và cũng không ai yêu mến mình. Hai ngày Tết vừa qua, trong gia đình một ông chú họ, Bằng đã sống giữa đám người thờ ơ lãnh đạm, nhưng không từng bao giờ quen biết, từ ông chú, bà thím cho chí mấy người em họ. Nhất cô Thu, thì lại khe khắt với Bằng lắm, tuy cái tên có vẻ êm đềm, hòa nhã. Hình như đối với Bằng, ai ai cũng chỉ có một lòng khinh miệt mà xót thân mồ côi cha mẹ, Bằng càng thấy rõ rệt nh vẽ trên nét mặt từng người.

Bằng đã tưởng sẽ đem theo trong trí về Hà Nội mấy cái hình ảnh đáng ghét. Nhưng mà trai trẻ vẫn là tuổi dễ quên. Phong cảnh hữu tình đằm thắm tất tơi trong một sáng mùa xuân lại như vỗ về, như an ủi, như vì ai trút sạch những ý tưởng chán nản, hắc ám, nó vẩn đục tâm hồn. Và Bằng hiểu thấy cái gia đình chân thật của con người là vạn vật, là vũ trụ bao la.

Kìa vạn vật đương đón tiếp và thương mến người
Người hãy dấn thân vào lòng vạn vật...

Bằng lẩm nhẩm đọc hai câu thơ của Lamartine và mỉm cười đưa mắt ngắm cảnh. Những đồi trồng chè, trồng sắn liên tiếp nhau, chỗ xanh nhạt, chỗ xanh đen, vạch lên da trời màu nguyệt bạch một nét uốn éo mềm mại như thân con rồng lượn khúc.

Thỉnh thoảng xe đạp của Bằng lại lăn trên một quãng đường hẻm. Hai bên, trong đám rừng rậm đen um, thấp thoáng hiện ra những gốc trắng mà thắng vút của cây lim và cây trám.

Nhưng khi đến trại Kim Lăng giẫy nhà lá san sát xếp hàng ở ven đồi, trong một nơi thung lũng nhỏ bỗng nhắc lại Bằng nhớ tới quang cảnh Tết ở ấp Ðoan Dương với những cây nêu có chùm khánh sành, đống xác pháo lòe loẹt trước phên nứa dán giấy đỏ.

Bằng cấm đầu chạy thật mau để được khuất mặt cái hình ảnh mà chàng cho là hắc ám, buồn tẻ. Ðối với chàng cái vui chỉ núp ở áng mây hồng, ở trái đồi xanh, ở giòng nước bạc, ở cơn gió may, ở trong sự rung động của cành lá, sự phất phơ của ngọn cỏ, ở trong làn không khí bao bọc mình ta.

Bằng loay hoay với tư tưởng và trời ma từ bao giờ, chàng không biết. Mãi lúc giọt nước lạnh theo vành mũ chảy xuống má, chàng mới chượt tỉnh. Ða mắt nhìn ra xa, phong cảnh tất đẹp quan minh buổi sáng đã chìm đắm vào trong một làng mờ mịt. Những chòm lá gồi cao chót vót như bơi trên mặt đám sương dày, thân cây sắc trắng nhạt đã lẫn vào trong màu hung hung của màn ma bụi.

Thỉnh thoảng, lơ lửng giữa sờn đồi thoai thoải xuống đường, một chiếc nhà sàn lợp lá. Ðứng sát bên cạnh, chòm lá xanh thẫm của mấy cây dọc điểm những chấm đen lên nền trời bạc mờ.

Bằng vui vẻ so sánh cảnh bình minh buổi sáng với cảnh ma phùn bây giờ ? Mỗi cảnh có một vẻ đẹp riêng. Chàng dừng xe lại ngắm, tưởng tượng nh đứng trước một bức tranh sương mờ khói tỏa.

Nhưng mưa một lúc một nặng hột, gió một lúc một lạnh thêm, nước ở vành mũ chảy xuống nh giọt mái tranh. Bộ quần áo dạ tím của Bằng ướt đầm và nặng chịu.

Leo một cái dốc dài, đường thì cây và trơn, gió thì ngược và mạnh, Bằng phải nằm rạp xuống, hai tay nắm ghì lấy tay lái mới khiến được xe đi từ từ như con ốc nặng nề bò lên thành chậu. Ðến lưng chừng dốc, Bằng hết sức dấn. Bỗng sau một tiếng "cách", xe lùi lại làm cho Bằng suýt ngã văng ra. Chàng cúi xuống xem thì xích xe đã đứt và rơi ra đường lẫn trong bùn đất đồi vàng xám. Chàng nhặt lên, chắp nó lại, rồi lắc đầu, thở dài lẩm bẩm : - Thôi đành cuốc bộ, để chờ xe ô tô hàng đi qua.

Nhưng Bằng thất vọng biết chừng nào khi chượt nhớ ra rằng mồng hai tết, xe hàng cha chạy. Chàng đã toan quay xe về nhà chú. Từ đó cách ấp Ðoan Dương chỉ độ mời mấy cây số mà xa tỉnh lỵ Phú Thọ những hơn hai mơi cây. Song tưởng tới cái bộ mặt khinh khỉnh của mấy người em họ, chàng lại thôi.

Rồi Bằng chẳng thấy rét nữa, vui vẻ dắt xe đạp đi lên dốc, mặc cho bùn cây lấm lem ống quần, mặc cho hột mưa sắc như mũi tên đâm xả vào mặt, vào tai.

Vượt qua một trái đồi và đi hết một quãng rừng nhỏ, Bằng trông sang bên tả thấy xa xa có làn khói lam nhạt ẩn hiện trong đám mờ mờ. Ðoán chừng đó là một nơi dân cư đông đúc chàng tìm lối rẽ vào. Chàng liền tất tả tiến bước. Quả nhiên vừa khỏi một chỗ đường vòng, chàng thấy hiện ra một túp lều tranh lẩn vào giữa hai cây gạo lớn.

Lại gần, Bằng nhận thấy nếp nhà có ba gian. Cái gian bên trái vách mới quét vôi trắng. Còn gian giữa thì chiếc phên nứa che kín cả hai cái cột tre, có bốn miếng giấy đỏ vuông không chữ dán trước bức phên.

Thoáng nghe ở trong nhà có ai cười nói, Bằng mừng quýnh lại đập phên.

- Ai ?

- Tôi.

Trong nhà có tiếng hai người thì thầm bàn.

Bằng nói một cách tha thiết :

- Tôi qua đây gặp mưa gió, rét mướt, nhờ ông bà cho tôi trú chân nghỉ một lát và chữa lại xe đạp đứt xích.

Chủ nhà tháo chất, tháo róng, lách phên tiếp khách vào.

Trong nhà lờ mờ tối, nhất là đối với mắt Bằng vừa ở ánh sáng mặt trời vào.

Gian bên hữu bày một cái bàn thờ con con dưới ánh đèn lù mù hai cây đèn dầu nam; Sát bàn là một cái phản thấp giải chiếc chiếu mới.

- Mình chống cái phản lên một tí cho sáng sủa.

Nghe rõ giọng trong trẻo của một người thiếu phụ. Bằng định thần nhìn kỹ thì thấy sau hai cái ống bễ cao, thấp thoáng hiện ra cái đầu chít khăn vuông và hai bàn tay im lặng cầm cán bễ. Bấy giờ chàng mới nhận ra rằng mình vừa vào nhà một người thợ rèn.

Bác phó sửa soạn chống phên, Bằng vội gạt :

- Thôi, cứ để thế này cho ấm.

Người kia hỏi :

- Thưa ông lạnh lắm phải không ?

- Phải, tôi lạnh lắm.

- Vậy mời ông sưởi cho ấm.

Rồi bảo vợ :

- Mình kéo đi.

Tức thì tiếng phì phào bắt đầu. Chủ đặt một cái thùng gỗ thấp bên đống than hồng, mời khách ngồi. Bằng nói cảm ơn nhận lời rồi đưa hai bàn tay rét buốt hơ lên hơi nóng. Ðối diện chàng, ngồi trên nền đá ong xếp chồng, và phủ tầu lá gồi khô, chủ nhà hỏi :

- Thưa ông ở đâu về ?

- Tôi ở ấp Ðoan Dương tới.

- Thưa ông ấp Ðoan Dương tận đâu cơ ?

- Ở gần phủ Ðoan Hùng.

- Thế thì chắc xa lắm. ông bỏ áo ngoài ra chằng ướt thấm vào nhỡ cảm.

Theo lời, Bằng cởi áo. Chàng đã quen với ánh sáng lờ mờ trong gian nhà tối và hơi nóng dịu dàng của than hồng bốc ra đã làm cho chàng dễ chịu, Bằng khoan khoái tươi cười đưa mắt nhìn quanh.

Trên đôi ống bễ, mặt người thiếu phụ phản chiếu ánh lửa hây hây dưới chiếc khăn vuông đồng tiền, và lắc lư theo nhịp tay kéo bễ. Bằng tơ mơ ngắm nghía, khiến người thiếu phụ thẹn thùng cúi gầm xuống.

Bằng mỉm cời :

- Thôi cám ơn bác, tôi đã hết rét rồi. Không làm gì mà kéo bễ mãi phí than vô ích.

- Thu*a ông được, cả một năm có ba ngày tết tốn là mấy, ở đây gần rừng có lò đất than nên rất rẻ.

- Nhưng để thế này cũng đủ ấm rồi. Tôi xin ngồi nghỉ một tý nữa, rồi phải đi ngay cho kịp xe hỏa hai giờ về Hà Nội.

Dừng tay, đứng lắng tai nghe hai người nói chuyện, vợ bác phó rèn cũng góp một câu : - Nhưng ban nãy ông nói giây xích đứt cơ mà.

Bằng sực nhớ ra :

- Ồ nhỉ ! Suýt nữa tôi quên bẵng.

Chàng đứng dậy ra đường. Bác phó cũng theo ra đỡ phên. Bằng đem xe vào trong nhà để tựa bên vách rồi cầm xích xe đa cho bác phó xem :

- Ðứt mất một mắt.

Người vợ đến gần cúi nhìn bảo chồng :

- Ðứt một mắt thì đánh mắt khác vào cũng được chứ gì.

Chồng cười :

- Mình tưởng dễ lắm đấy. Phải làm bằng máy làm bằng tay sao được.

Thấy hai vợ chồng bác phó rèn loay hoay mỗi người cầm một đầu dây xích, Bằng bàn :

- Cái xích này dài và lỏng quá nên thường vẫn rơi, vậy nếu bác cho cài chốt vào mà giọt hai mắt xích với nhau cũng được.

Người vợ đã hết bẽn lẽn, vui vẻ bảo Bằng :

- Ồ ! thế thì dễ lắm nhỉ.

Khi đã rửa xích sạch bùn trong chậu nước đen vàng những bụi than, nàng cười bảo chồng :

- Ừ phải đấy.

Bằng không nghĩ đến cái giây xích xe đứt mà chỉ đăm đăm ngồi ngắm người thiếu phụ nhanh nhẹn, vui vẻ, luôn mồm cười nói. Bằng trông như con chim vành khuyên nhẹ nhàng hót trên cành cây.

Than đổ đầy lò nàng lại đến kéo bễ. Sau tiếng phì phèo, tiếng nổ lách tách. Lò một lúc một nóng thêm, ngọn lửa xanh liếm đến đâu than đen trở nên đỏ đến đấy. Rồi một đám bụi vàng lớn tung tóe ra từ phía như kết thành một bó hoa cải lấm tấm hoạt động thực mau dưới ánh mặt trời trước một cơn gió lạnh.

Bằng giật mình né người về phía sau, khiến chị phó rèn cất tiếng cười khanh khách. Bằng ngước mắt nhìn nàng, mỉm cười. Trong khi ấy thì chồng nàng đương cúi đầu xuống gầm phản lục trong cái hòm gỗ lớn để tìm một cái chất sắt. Chẳng biết nói gì, Bằng hỏi cho có chuyện :

- Hôm nào bác mở cửa hiệu ?

Chị phó rèn lại cười :

- Ông tính làm gì có hiệu mà mở cửa. Nghĩa là bắt đầu làm việc thì chúng tôi làm việc từ hôm qua cơ.

- Thế không ăn tết à ?

- Vẫn ăn tết chứ.

Nghe giọng nói có duyên và ngắm đôi mắt nhanh nhẹn hòa nhịp cùng cặp môi cắn chỉ luôn luôn nhách một nụ cười tươi tắn, Bằng lại nghĩ đến những cô gái Lim láu lỉnh và nhớ một lần có người bảo chàng phần nhiều người Phú Thọ đều là dân quê vùng Bắc Ninh di c lên.

- Còn ông, ông ăn tết ở đâu vậy ?

Câu hỏi ấy khiến Bằng nhớ tới người chú họ. Ngồi chống gối, hai bàn tay ôm đầu, chàng ngẫm nghĩ thở dài.

Người chồng cầm xích xe đi xuống nhà chừng để rửa lại, vợ cũng theo xuống, thì thầm :

- Ông này hình như có việc gì buồn.

Chồng gật, đáp :

- Ừ mà sao mới mồng hai tết, ông ta đã xa nhà cửa để đi đâu một mình vội vàng như thế nhỉ ?

- Hay ông ta không có nhà cửa, không có bà con thân thích.

- Không đâu ! Ban nãy ông ta bảo ông ấy ở nhà người chú về cơ mà.

- Ồ phải ! này có nhẽ ông ấy đói lắm nhỉ ?

- Thôi mình kéo bễ để tôi hành lại cái xích cho ông ấy, rồi ta còn ăn cơm chứ.

Vợ có ý e ngại, bảo chồng :

- Hay ta thử mời ông ấy ăn cơm xem, có nhẽ ông ấy vừa rét, vừa đói.

Chồng cười :

- Bậy ! Khi nào ông ấy lại thèm ngồi ăn cơm chung với mình.

Hai người lên nhà, Bằng hỏi :

- Thế nào, bác liệu có chữa được không ?

- Chưa ông, tôi sắp sửa chữa đây. Mời ông ngồi sởi một tí nữa cho ấm. Ðể cái áo này ráo đã chứ !

Bằng cười :

- Ráo mà làm gì ? Ráo rồi chốc nữa ra mưa lại ướt.

Người vợ nhìn chồng, lắc đầu phàn nàn :

- Thương hại !

Hai tiếng nói se sẽ khiến Bằng phải chú ý đến cô gái quê xinh xắn. Nàng đẹp, Bằng đã nhận thấy ngay từ lúc nãy.

Nhưng tình nhân loại đã làm tăng vẻ đẹp của nàng lên bội phần, tình nhân loại đối với một kẻ mà nàng phỏng đoán không được sung sướng, một kẻ xông pha ma gió giữa hôm ai ai cũng được thư thả an nhàn. Tự nhiên Bằng cảm thấy Bằng yêu nàng, yêu kẻ tỏ lòng thương hại mình, mà mình cũng tự biết ở vào tình cảnh đáng thương.

Chữa xong, bác phó đa xích xe cho Bằng mà bảo rằng :

- Thưa ông, ông thử tra vào xem có vừa không ?

Thấy ông khách lỡ đãng không đáp lại, người vợ đỡ lời :

- Thì mình cứ thử tra vào xem.

Bấy giờ Bằng mới biết cái xích đã chữa xong, quay lại nói :

- Cám ơn bác, bác đưa tôi xin.

Khi tra xích vào đĩa xe thấy vừa vặn, chàng lẩn thẩn : Giá ngắn quá thì có phải...

Chàng không dám nghĩ trọn câu, mình tự thẹn rồi cầm ba hào ngần ngừ nói :

- Năm mới tôi mở hàng.

Bác phó gạt phắt :

- Tôi làm giúp ông đấy, chứ vật thử là bao, mà tiền nong.

- Nhưng năm mới bác...

Người vợ cười :

- Không đâu, chúng tôi khai lò từ hôm qua rồi đó, vì hôm qua chúng tôi đã làm cho ông bà ở trong làng một cái róng sắt.

- Vậy tôi xin cảm ơn hai bác nhé, hai bác tử tế quá.

Bằng dắt xe cáo từ xin đi, vẻ mặt buồn rầu, ngao ngán. Người chồng đứng nhìn ra sân nói :

- Giời mưa vẫn nặng hạt mà gió thổi vẫn dữ. Hay ông hãy đến ngồi để sưởi một lúc nữa cho ấm.

- Thôi, cám ơn bác, tôi phải đi cho kịp chuyến xe lửa hai giờ.

Người vợ đã đến ngồi bên lò ngước mắt nhìn, hỏi Bằng :

- Vậy bây giờ mấy giờ thưa ông ?

Bằng rút đồng hồ túi ra xem :

- Hơn mười một giờ. Trời mưa, gió lại ngược thì đạp cố cũng phải một giờ rưỡi mới đến Phú Thọ. Người thiếu phụ nghĩ đến cảnh mưa gió ướt át lầy lội mà lấy làm ái ngại cho ông khách. Nàng hỏi :

- Vậy sau chuyến tàu hai giờ không còn chuyến nào nữa ?

Bằng trù trừ, nửa muốn đi nửa muốn ở, nên trả lời vơ vẩn :

- Còn chuyến bốn giờ nữa.

- Thế thì ông đi chuyến ấy có hơn không ? Mấy hôm nay, hôm nào cũng gần về chiều thì giời mới hửng nắng. Vậy ông chờ một tí nữa xem.

Bằng yên lặng, nàng lại nói luôn :

- Thôi ông hãy ở lại lát nữa.

Bằng ngẫm nghĩ, rồi chép miệng nhìn nàng mỉm cời :

- Thì ở lại.

Cô phó rèn vui mừng nói một cách ngây thơ :

- Vâng, có thế chứ !

Người chồng đưa mắt liếc vợ, rồi nhìn vào mâm cơm cúng, ý muốn nói bụng đã đói mà ăn cơm nguội. Nàng như quả quyết làm một dự định từ lâu, quay thẳng lại nới với Bằng :

- Thưa ông, thế này thì thực không phải... Năm mới, vợ chồng chúng tôi mời ông xơi với chúng tôi một bữa cơm rau.

Nói xong, nàng đăm đăm chờ câu trả lời. Bằng cảm lòng thành thực của nàng, nhận lời ngay, nàng liền giục chồng :

- Mình bóc bánh chưng ra, tôi đi rán lại khúc cá, hâm lại niêu tôm.

Bằng ngồi chờ bên lò lửa, thẫn thờ nhìn qua cửa vách ra sân sau.

Mưa phùn vẫn lấm tấm. Một cái giậu nứa đã nát vây mẩu sân vuông nhỏ và bóng nhoáng, như mỡ. Mái tranh tí tách nhỏ giọt theo miếng mo buộc vào thân cây cau, một giòng nước manh mảnh chảy lanh tanh vào một cái vại sành.

Bên vại, một con gà mái ướt sướt mướt đứng ủ rũ thỉnh thoảng lại rùng mình khàn khàn kêu se sẽ. Sát giậu mấy bông hoa hồng quế đỏ thắm rung rinh ở đầu cành mảnh khảnh; đó là những nét chấm sắt tươi trong một cảnh toàn mầu nâu sẫm. Ngoài ra, phong cảnh ẩn sau cái màn bụi trắng của ma bay, mịt mờ.

Một lát, cô phó rèn bưng cái mâm gỗ quang dầu, trên có đĩa cá khô rán, đĩa cá diếc kho, đĩa tôm, đĩa dưa hành, đĩa xôi gấc, bát canh khói thơm bay ngào ngạt. Nàng đặt mâm xuống phản mời khách :

- Rước ông lại xơi rượu.

Bằng đứng dậy nhìn mâm nói :

- Ồ ! cỗ to nhỉ ?

Chị phó bẽn lẽn :

- Ông cứ chế riễu. Quê mùa chúng tôi chỉ có thế.

- Không, to thực đấy chứ. Nhưng kìa, sao chỉ có một đôi đũa ?

- Xin mời ông xơi trước, vợ chồng chúng tôi ăn sau.

- Ai lại thế ! Nếu hai bác không cùng ngồi ăn thì tôi chả dám nhận lời hai bác mời đâu ?

Người chồng vội vã xuống bếp lấy thêm đũa bát, rồi lại cùng ngồi lên phản. Vợ bảo chồng :

- Có rượu cúng sao mình không lấy ra thế khách ?

- Ừ phải đấy, suýt nữa thì quên.

Bụng đói, trời rét, Bằng ăn ngon miệng lắm.

Thấy Bằng vì tay dính bùn cha kịp rữa cầm đũa gắp xôi, người vợ đa mắt nhìn chồng tủm tỉm cười; nhưng lúc Bằng nhăn mặt nhắm rượu thì nàng không thể giữ gìn được nữa, bật cười lên tiếng. Nàng chữa thẹn ngay, chữa thẹn cho mình mà chữa thẹn cả ông khách, và nàng tìm chuyện để nói lảng một lúc lâu. Sau một dịp cười trong trẻo nàng vờ bảo chồng :

- Hoài của mình nhỉ, còn mỗi một bánh pháo, sáng nay lại đốt mất, không có bây giờ đem đốt mừng ông thì vui biết bao !

Bằng thì cho là chẳng có tiếng pháo nào ròn bằng tiếng cời của nàng. Người chồng, thấy vợ cười mãi sinh ngượng, tạ lỗi cùng khách :

- Xin ông tha thứ cho, nhà tôi tính trẻ con lắm, thực là vô phép với ông quá ! Bằng nhìn người thiếu phụ, nói :

- Phải vui chứ lỵ, giữ lễ phép thì buồn chết.

Rồi ba người lại nói huyên thiên, lại cười như nắc nẻ, người nọ đem truyện riêng ra kể với người kia, vì thế mà Bằng biết tên bác phó là Lợi, hai mươi sáu tuổi, vợ bác là Ty, hai mươi mốt tuổi. Bác làm nghề thợ rèn đã năm năm nay, và trước có theo lớp sơ đắng trường hàng tổng. Cướp lời chồng, Ty liến thoắng thuật cho Bằng nghe vì sao nàng lấy anh Lợi, vừa kể nàng vừa luôn luôn thêm những dịp cười giòn tan.

Bằng liếc ngắm đôi má hồng vì men rợi, cặp mắt nheo đuôi dài và cái mồm hoạt động xinh xinh. Như lây cái vui giản dị, hồn nhiên của hai vợ chồng quê, Bằng cũng đem chuyện mình ra kể : chàng đã đổ tú tài bản xứ, nhưng chưa tìm được việc làm. Vì mồ côi cha mẹ, chàng đến ăn tết ở nhà một người chú họ để hưởng chút lạc thú gia đình, nhưng cậy giàu chú thím và các em họ nhạt nhẽo với chàng, nên chàng bỏ đi ngay sáng mồng hai tết.

Tâm hồn chàng là tâm hồn thi sĩ, dễ cảm động, dễ tưởng tượng, dễ thương yêu vơ vẩn, vì đó câu chuyện của chàng như có nhiễm vẻ huyền bí đối với bộ óc chất phát của vợ chồng bác phó.

Cơm nước xong, ba người lại ra ngồi bên lò. Thấy lửa đã tàn, Lợi đứng dậy cầm rỏ xuống nhà lấy thêm than.

Bằng nhìn ra sân bảo Ty :

- Kìa ! Trời hửng nắng thực rồi.

- Ờ nhỉ ?

Hai người đều có vẻ buồn rầu, cúi nhìn than đầy tro trắng, và cùng nghĩ đến giờ ly biệt. Kẻ đi sẽ để lại bên đường chút kỷ niệm êm đềm, người ở sẽ thương ai trơ trọi, không thân không thích.

Lợi đem than lên, cầm cái bát mẻ xúc đổ vào lò, rồi quay lại bảo vợ kéo bễ. Bằng đỡ lời :

- Ðể tôi kéo giúp.

Ty cười :

- Chết ! Ai lại thế !

Nhanh nhẹn, nàng đã đến đứng sau ống bễ. Lợi thò tay vào gầm phản với cái ấm sắt, bỏ chè tươi vào rồi ra vại nước. Bằng hỏi Ty :

- Ở giữa nơi đồng không, mông quạnh thế này, bác không sợ ?

Ty đáp :

- Ông tính còn sợ gì ? Làm chỉ đủ ăn, có của cải đâu mà lo trộm cướp.

- Ðủ ăn thì cũng khá rồi. Vậy công việc có nhiều không bác ?

- Thưa cũng đủ. Ðường này có xe ô tô hàng, các bác tài vẫn giao công việc cho chúng tôi luôn, nay cái "doành ", cái "láp", mai cái "bù loong ', cái "rông đền".

Bằng mỉm cời :

- Bác biết nhiều nhỉ ?

- Ấy lâu ngày quen đi đấy ông ạ.

Bằng ngắm Ty, nghĩ thầm : "Hẳn là nhờ cái nhan sắc của vợ mà bác phó rèn được các bác tài đem công lại cho".

Lợi móc quai ấm vào cái giây thép buộc từ trên cái kèo nhà rủ xuống ngay lò than rồi quay bảo vợ :

- Kìa ! mình không kéo bễ đi.

Than soạn nổ lách tách liên thanh, Bằng lấy đồng hồ ra coi. Bằng hoảng hất kêu lên :

- Chết chửa ! Gần hai giờ rồi, tôi phải về... Thôi kính chào hai bác và cám ơn các bác đã tiếp đãi tôi quá hậu.

Người chồng nhũn nhặn :

- Thưa ông, có gì đâu mà hậu. Chúng tôi ơn ông thì có, năm nay ông xông nhà thì chắc may mắn quanh năm.

Người vợ hỏi :

- Ông về mãi tận Hà Nội phải không ?

- Phải.

- Xa xôi mà rét mớt lắm nhỉ ! Nước sắp được ông thong thả một tý, chúng tôi biếu ông một chai chè tươi nóng để đi đường uống cho ấm.

Lợi nói :

- Ông đi xe đạp thì mang làm sao được ?

- Buộc vào xe chứ lỵ.

Rồi nàng ra sức kéo bễ. Chẳng bao lâu nước sôi rào xuống lò than và hơi chè bốc lên thơm phức. Ty róc nước vào chai và lấy giây thép buộc chắc chắn dưới yên xe đạp. Mời phút sau Bằng đã đương lủi thủi trên con đường về tỉnh lỵ.

Trời xuân rọi xuống cảnh đồi một làn ánh sáng trong. Trên những lá cây sim dại mọc bên vệ đường nước mưa còn đọng lại lấp lánh nh thủy tinh. Những khóm hoa đơn lè sè mặt cỏ khoe sắc đỏ tươi, bên những cây phượng vĩ lá đều như gọt tỉa và những khóm thanh hao lá lấm tấm điểm trên cành dài và cứng, trông tựa cụm dương liễu tý hon.

Cảnh vẫn cảnh buổi sớm khi Bằng rời ấp Ðoan Dương ra đi, nhưng Bằng chằng hiểu vì sao vẻ đẹp buổi sớm đã trở nên ủ rũ ?

Leo một cái dốc đến giữa chừng, Bằng thấy chân chồn và lòng chán nản, xuống xe chàng lại thở dài. Chai nước chè tơi buộc sau yên lại nhắc chàng tới vợ chồng người thợ rèn, nhất người vợ nhanh nhẹn, xin xắn, vui cời mà chàng còn mang hình ảnh trong tâm trí

Ðứng trên cao Bằng quay nhìn trở lại. Mấy trái đồi che khuất túp lều tranh. Thất nhiên chàng nghĩ ngợi, chàng lên xe, đạp ngược về đường cũ.

Qua hai quãng đường vòng, chàng đã lại trông thấy nhà người thợ rèn, thấp thoáng giữa hai gốc gạo trắng và cao. Mơ màng chàng tưởng tượng có hai cái bóng vợ chồng ai đứng vẫy Chàng chép miệng, mỉm cười giơ tay chào lần cuối cùng và lẩm bẩm nói :

- Chà ! trên đường đời còn nhiều phen dừng bước !

Rồi chàng quay xe ra sức đạp thật mau về Phú Thọ để kịp giờ xe hỏa, trong lòng lại vui sướng như buổi sớm, khi ở nhà người chú họ ra đi.

Là vì quên hắn mình, Bằng chỉ nghĩ tới những nguồn hạnh phúc của nhân loại. Túp nhà tranh kia, với lò than lửa, với trái tim vàng, chàng cho phải là một sự an ủi dịu dàng đối với hết thảy những người như chàng, lẽo đẽo trên con đường dây lội, gió ma và khao khác được dừng bước đâu đó mà ngắm trong chốc lát một cảnh vui tơi êm ấm khó tả.


Khái Hưng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 19 Dec 2014 08:19 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
39 . Hai Cảnh Trụy Lạc


Hải cùng một ng­ười làng đã hai l­ợt đi suốt phố Hậu Giang mà không sao tìm thấy nhà em. Tìm nhà ng­ười quen ở một tỉnh nhỏ vẫn là một sự khó khăn. Ngờ là chủ đi lùng bắt con nợ, những ng­ười bị hỏi thăm chỉ có một câu trả lời vắn tắt "không biết" dù họ biết mười mư­ơi mặc lòng.

Chán nản, mỏi mệt, hai ng­ười ngồi nghỉ chân ở một hàng nước bên hè, định bụng sẽ cố tìm một lần cuối cùng nữa.

- Bác Giác ạ, hay chú nó dọn nhà đi phố khác ?

Ng­ười nhà quê mình bao giờ cũng t­ưởng như­ ng­ười khác, nghĩa là chẳng tư­ởng gì hết.Trí thức l­ười biếng không nghĩ ngợi để có một ý kiến riêng.

- Chẳng nhẽ lại chịu trở về làng.

Bà hàng n­ước đon đả mời chào, rồi hỏi :

- Thưa, các ông ra tỉnh có việc quan ?

- Không, chúng tôi ra tìm ng­ười em.

Giác đỡ lời, hỏi :

- À bà có biết ông Hai ở đâu không ?

Bà hàng ngửa mặt, đôi mắt nhăn nheo hấp háy như­ cố tìm trong trí nhớ. Giác lại tiếp luôn :

- Ông hai Bản, ông ấm Bản... ông ấm Hai... Tên tục ông là Hai Niu ấy mà... Bà có biết không ?

Hai ng­ười nhìn chòng chọc vào cặp môi cắn chỉ của bà hàng n­ước để chờ câu trả lời.

- Bà làm ơn bảo giùm.

- Ông Hai Niu ? Ông ấm...

- Phải, ông Hai Niu, ông ấm Bản, ông Hai Bản.

- Thư­a hai ông, thế thì tôi không biết.

Giữa lúc ấy ở đằng xa trên con đ­ường nắng rát, loang loáng trong bóng lá nhẹ nhàng rung động của cây soạn tây mới thấp thoáng điểm hoa t­ơi đỏ, một ng­ười đàn ông kéo cái xe bò đang đi lại. Trên xe một ng­ười đàn bà ngồi bên đống thuổng, cuốc, quang, thúng, nghêu ngao ngâm kiều :

Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Ng­ười kéo xe luôn luôn quay lại hỏi chuyện, không nghĩ gì đến cái nóng một buổi trư­a hè im gió, oi ả, nặng nề khó thở.

Giác phe phẩy chiếc quạt rách trỏ xe bò bảo Hải :

- Ông ấm ạ, ai như­...

- Ờ... ờ ai như­...

Cả hai cùng không dám nói đến tên ng­ười kéo xe. Như­ng Hải không sao giữ nổi lời cảm động buột miệng gọi :

- Hai !... chú Hai Bản !

Bản dừng lại :

- Ai gọi tôi ?

Hải buồn rầu nhìn Giác. Chàng không ngờ em chàng đ­ương sống trong cảnh trụy lạc ấy.

Như­ng Bản nhận ra đ­ược thì vui mừng đặt vội càng xe bò xuống hè :

- Ồ quý hóa quá ! Bác ra chơi... Sao bác không lại đằng nhà ?

Hải bẽn lẽn không đáp. Giác mỉm c­ười ng­ợng nghịu :

- Ấy chúng tôi đi tìm nhà ông mãi mà không thấy. Ông ở phố Hậu Giang ?

- Vâng, phố này chính là phố Hậu Giang.

Ng­ười đàn bà chắp tay chào :

- Lạy bác ạ.

- Không dám, chào thím.

- Mời bác về nhà chơi.

Hải và Giác đứng dậy ngần ngại, do dự, nhìn nhau một ìần nữa. Bà hàng nhắc khéo tiền trầu n­ước :

- Bác phó hãy để hai ông ngồi chơi. Hai ông vừa sơi đ­ược mỗi ng­ười một miếng trầu, một bát n­ước.

Bản c­ười vui vẻ :

- Thôi, bà để bác cháu về nhà nghỉ chẳng bác cháu mệt, đây tiền trầu n­ước.

Bản xỉa ba trinh vào thành chõng nhà hàng, rồi thản nhiên ra nâng càng xe bò, và giục :

- Mời bác đi.

Hải ngắm nghía em: cái áo cộc màu xanh bạc, cái quần vải thô màu cháo lòng, hai bàn chân vôi cát bám đầy trong đôi guốc quai cao su gót mòn gần hết. Ðối với Hải đó là những biểu hiệu trụy lạc của một đời ng­ười, và Hải nghĩ thầm "Ta tuy cũng nghèo kiết, như­ng chẳng bao giờ chịu tự hạ như­ thế kia. Vả con quan, ai lại tự hạ đi kéo xe bò... Hừ ! Thà chết đói còn hơn..."

Hải vụt nhớ đến tình cảnh nheo nhóc của mình. Vợ chàng ngược xuôi nhì nhằng, dệt vải làm gạo, chơi ống, chơi ph­ường để cố nuôi sống một gia đình bảy tám miệng ăn, như­ng dầu sau, chàng cũng không đến nỗi bê tha, lụi xui quá như­ em. Dầu sao chàng cũng chân giấy chân dép, khi ra đình, khi đến nhà đám, nhà chay, chàng không để ai có thể khinh nhờn được; "Chà, thằng Bản, t­ưởng nó bỏ làng ra tỉnh làm v­ương làm t­ướng gì ? Thật là bêu diếu ông cha Bản ạ !"

Cái tên Bản bỗng nhắc Hải nhớ lại cả một thời kỳ giàu có sang trọng. Em chàng tên là Bản vì ra đời ở huyện Vụ Bản, cũng như­ cha mẹ chàng đặt tên chàng là Hải, vì sinh chàng ở huyện Tiền Hải...

Mấy năm sau, vì việc r­ượu, cha chàng bị cách, rồi buồn quá mắc bệnh mà chết. Từ đó, ba mẹ con vẫn sống trong cảnh phong lưu như­ x­ưa, vẫn kẻ hầu, ng­ười hạ, vẫn ăn tiêu phung phí và chẳng thèm nghĩ tìm kế sinh nhai. Chỉ có một việc là bán. Tr­ước còn bán ruộng v­ườn, sau bán đến đồ đạc. Làm ma cho mẹ xong, gia tài hai anh em khánh kiệt.

Gia tài khánh kiệt, nh­ưng Hải vẫn sống theo cảnh cũ. Tuy chẳng còn tiền của đâu mà tiêu rộng rãi, song cái tính đài các chững chạc, Hải vẫn giữ đ­ược. Ðến nỗi trong làng chẳng ai dám t­ưởng rằng chàng xơ xác.

Nào ai biết đâu rằng nhiều bữa vợ chồng con cái xúm nhau vào nồi cơm ngô khoai và đĩa muối. Nào ai biết đâu rằng mấy con đi nhặt rau xam rau dền về luộc cho cả nhà ăn. Ng­ười ta chỉ trông thấy ông ấm vận quần áo lành sạch, mỗi khi ông ra đình hay đến chơi nhà ai, ng­ười ta chỉ trông thấy ông ngồi chễm chệ trên sập, ung dung xoay ván bài tổ tôm, hay gật gù nhấp giọng chén chè tàu liên tâm, ng­ười ta chỉ trông thấy bà ấm đem bát đĩa con phư­ợng và các mâm đồng ra rửa ở đầu cầu ao mỗi khi có khách quý đến chơi nhà, và những ng­ười láng giềng tỏ ý thèm muốn khi đứng ngắm nghía con chim họa mi của ông ấm nhảy, hót trong cái ông cao, quang dầu, treo bên bụi hồng đầy hoa.

Giấu giếm che đậy, nhẫn nại, chịu khổ, chịu đói để giữ thanh danh, lúc nào Hải cũng không nhãng nghĩ đến điều đó, và năm tr­ước, chẳng dung đư­ợc, chàng đã nhận chức đại bái và tiêu vào việc ấy hết nửa bát ống của vợ. Những ý t­ưởng phức tạp lộn xộn, rối tung trong óc Hải lại đư­ơng bực về nỗi em chàng làm cho chàng mất thể diện ở tr­ước mặt một ng­ười làng, câu hỏi của em dâu càng làm cho chàng bực tức thêm :

- Các cháu vẫn chơi đấy chứ, bác ?

Lạnh lùng, chàng đáp :

- Phải ?

° ° °

Một lát sau, mấy ng­ười về tới nhà Bản, căn nhà gạch một gian ngăn đôi bởi bức phên liếp dán giấy nhật trình. Vợ chồng Bản mời anh và ông khách ngồi chơi, rồi đi theo một cái cổng chung cho cả dãy nhà để cất xe bò vào sân.

Hải đã đỡ ngư­ợng với ng­ười làng, vì nhà em cũng sáng sủa và bài trí cũng dễ coi : Một cái ghế ngựa quang dầu, trên tường mấy tờ tranh quảng cáo của hiệu dầu hỏa. Hải đư­ơng ngắm nghía cái đồng hồ rỉ để trên bàn tre, và thầm ao ­ước kiếm đ­ược vài đồng mua một chiếc, thì Bản đã rửa mặt rửa chân tay và thay quần áo sạch sẽ, từ trong nhà b­ước ra :

- Bác đi chân hay đi xe đấy ?

- Tôi đi xe chú ạ, có ba hào.

- Ờ rẻ nhỉ.

Kỳ thực, hai ng­ười đã kéo bộ ra tỉnh, nh­ưng quen tính giữ gìn, Hải đã nói dối, nói dối với cả em và tuy có ng­ười làng làm chứng cho sự nói dối ấy đứng ngay bên cạnh.

- Cái nhà này chú thuê bao nhiêu tiền ?

- Th­ưa bác ba đồng. Chả nói giấu gì bác, tr­ước kia tôi thuê một gian nhà và ở chung với ba ng­ười nữa, thành thử chỉ mất có bảy hào thôi. Về sau, nhà tôi tìm đ­ược mấy cậu học sinh ăn cơm trọ mới thuê cái nhà này. Kể cũng kiếm đ­ược đủ ăn. Tôi thì đi làm, để cháu ở nhà nấu bếp, như­ng đã hơn tháng nay, các cậu ấy về nghỉ hè cả, thành thử cái nhà này rộng quá. ấy chả nói giấu gì bác...

Bản ngừng lại, quay ra bảo Giác :

- Mời bác vào rửa mặt mũi chân tay cho mát rồi xơi cơm.

Giác biết rằng anh em Hải muốn nói câu chuyện riêng, liệng lảng ra sân sau. Bản hạ giọng nói tiếp :

- Chả nói dấu gì bác, tôi không muốn để nhà tôi ăn không ngồi rồi, nên đã đi xin tạm cho một chân phu hồ ở chỗ tôi làm việc.

Hải trợn mắt :

- Phu hồ ! Chú để thận là phu hồ ?

- Vâng, bác tính chẳng gì cũng kiếm đ­ược hào r­ưỡi hào tám mỗi ngày, mà công việc có khó nhọc là bao.

Hải chép miệng lắc đầu :

- Giá ở xa tận đâu thì chả nói làm gì nh­ưng ở ngay tỉnh nhà, mà chú thím luộm thuộm thế, bê tha thế, tôi e lắm.

Bản c­ười như­ng không đáp. Chàng chẳng lạ gì tình cảnh của anh và tánh nết anh, chàng cũng thừa biết. Chàng nghĩ thầm, cầm hết thứ nọ đến thứ kia, hết v­ườn ruộng đến đồ đạc nhặt từng cái dĩa, cả ba chén trà đem đi bán để chạy bữa ăn, như­ thế anh mình không cho là luộm thuộm, bê tha. Còn vợ chồng mình, chỉ làm việc, làm việc bằng tay chân...

Hải thở dài ứa lệ bảo em :

- Chú ạ, nhà ta sa sút chóng đến thế ! Lúc thầy còn làm quan, thì chúng ta sung s­ướng biết bao, mà bây giờ, bây giờ.

Bản c­ười :

- Bác nghĩ thế, chứ tôi, tôi lại nghĩ khác. Chúng ta sinh tr­ưởng ở nơi giầu sang thì thuở bé mới đ­ược ăn, mặc, chơi bời sung sướng. Nếu là con nhà khó thì chúng ta cũng đã nghèo đói khát. Ngày nay chúng ta không còn ở cảnh giàu sang thì chúng ta đừng thiết nhớ đến thời x­a nữa có hơn không.

- Ðành thế, như­ng chú bê tha quá.

Bản ngắt lời :

- Ở đời chỉ có sự l­ười biếng, sự ỷ lại là bê tha. Còn như­ em, em không làm việc bằng trí thức, mà em làm việc bằng tay chân, thế thôi. Có gì là bê tha đâu ? Không biết bác thế nào, chứ em thì không sự gì làm cho em đau lòng bằng ngắm cảnh một người không còn sung túc mà cứ muốn có cái hào nhoáng của một ng­ười sung túc. Sự giả dối ấy...

- Như­ng thanh danh nhà mình ?

- Nghèo khác, thanh danh khác. Yên phận nghèo làm việc để sống, sao thanh danh ông cha ta lại vì thế mà mất hay bị tổn hại đ­ược ? Em nhận ra điều ấy ngay hôm em quả quyết bán một ít v­ườn ruộng, phần gia tài của em, kiếm ngót lấy trăm bạc vốn rồi đư­a vợ con ra đây, theo anh em đi làm thợ. Ngày nay phong bao giờ phàn nàn một điều gì nữa. Vì em đã vui lòng nhận mình là một ng­ười thợ nề chính thức sống bằng công việc chân tay, cái đời cậu ấm của em chỉ còn phảng phất trong giấc mộng xư­a. Nếu may ra, nay mai em trúng độc đắc vì em có mua số thì em lại sống theo cái đười ng­ười có hàng vạn, chứ sao ! Phải không bác ?

Hải c­ười g­ợng, giọng mỉa mai :

- Phải !

Lúc đó, vợ Bạn b­ưng ra một mâm gỗ trên có bát canh, khói thơm bốc lên ngào ngạt, Bản hỏi :

- Ðẻ thằng Ðá có mua thêm cái gì ăn không ?

- Thầy thằng Ðá ạ, tôi đã mua thêm ba xu đậu với ba xu xáo bò rồi đây.

Bản phá lên c­ười :

- Bác coi, chúng em có hoàn toàn là một cặp vợ chồng thợ thuyền không ?


Khái Hưng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 19 Dec 2014 08:24 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
40 . Trong Nhà Thương


Thong thả, rời rạc, buồn tẻ, rơi vào trong mưa phùn u ám hai tiếng "Bung Boong", rơi theo những giọt nước đọng lại trên cánh đồng khẳng kheo gần trụi.

- Năm rưỡi rồi ?

- Năm rưỡi rồi.

- Hết giờ vào thăm ?

- Hết giờ vào thăm.

Mấy câu hỏi và trả lời của hai người phu, một người đứng lau sàn hiên và một người đương tưới luống vườn hoa khiến Lực buông hơi thở yếu đuối nghĩ thầm :

- Có lẽ phải tiếng chuông nhà thờ cuối cùng trong đời ta ?

Là vì Lực biết bệnh mình bắt đầu từ sáng hôm nay trở nên trầm trọng, cảm thấy những thớ thịt dần dần tiêu như viên đường phèn lặng lẽ tan trong cốc nước nóng.

Có lúc chàng đã phải cố gắng hết sức mới khỏi thiêm thiếp ngất đi. Chàng yên trí rằng hễ ngất đi, hễ nhãng sống trong giây phút là chết, là hết đời.

- Ðời !

Lực mỉm một nụ cười âm thầm, nghĩa là cặp môi chàng sẽ động đậy và hơi há ra, cặp môi thâm tím trên bộ mặt xám xanh, với hai gò má dô cao, và hai con mắt hết tinh thần chôn trong hai quầng đen sâu hoắm.

- Ðời !

Lực nghĩ đến những sự nhỏ nhen, khốn nạn của đời người, để khỏi tiếc, để khỏi tiếc sống, để khỏi sự chết.

Phải, cái chết của chàng chỉ có một nghĩa thoát ly, cái sống của chàng chỉ có một nghĩa đầy đọa. Ðời chàng có vui thú gì, còn có thể vui thú sao được mà chàng lưu luyến nó.

Trong mấy phút, hai, ba mươi năm hiện ra trong ký ức chàng, tự chia ra mấy thời kỳ rõ rệt.

Chàng nhớ nhất dăm năm sau cùng mà chàng đã cố quên đi, cố xua đuổi đi, cố xóa hẳn đi. Tựa đàn ruồi bâu vào đĩa mật, quãng đời ngắn ngủi ấy vẫn ám ảnh bám chặt lấy ý nghĩa chàng và sống lại với những mầu rực rỡ, với những tiếng nói, câu cười, với những tính tình vui buồn, mừng lo, tức giận : những bức hoạt động và biến đổi như treo trước mắt chàng.

Chàng thấy chàng sống trong một tòa nhà yên lặng, ở một thành phố nhỏ yên lặng, với một người thiếu phụ xinh đẹp mà chàng yêu nồng nàn tha thiết, yêu đắm đuối say mê như muốn trao cả linh hồn.

Người thiếu phụ ấy là con một ông bạn già làm cùng sở.

Một hôm chàng đến chơi nhà, bắt gặp đang bổ cau phơi...

Thế là chàng yêu ngay. Rồi hỏi, rồi cưới... Trời ơi hạnh phúc của người ta phải cầu kỳ tìm ở đâu xa ? Bao giờ nó cũng ở ngay trước mắt, mình chỉ việc lưu ý đến nó, chỉ việc muốn nó là được.

Hạnh phúc dễ dãi, giản dị. Lực hưởng một cách đầy đủ hoàn toàn, có lẽ còn sẽ hưởng mãi nếu một ngày kia chàng không ngẫu nhiên bắt được bức thư của bạn gởi cho vợ...

Hai tiếng - Nói một ý nghĩ thì đúng hơn :

- Khốn nạn !

Thế rồi, sau nhiều trận cãi nhau, chửi nhau, đánh nhau om xòm, người đàn bà bỏ về nhà ở với cha mẹ đẻ.

Từ đó đến nay, Lực không một cân nhắc đến, không một lần hỏi đến vợ, mà cũng không kiện đòi ly dị. Mỗi một người ở một nơi như không ai quen biết ai nữa.

Từ đó đến nay đã hơn ba năm nay. Hơn ba năm. Lực sống trơ trọi, sống với một sự nhớ nhung thương tiếc, vì Lực vẫn còn yêu Minh. Có lẽ sự xa cách làm cho tình yêu của Lực càng nồng nàn, tha thiết hơn xưa...

Và nhiều lần Lực viết cho Minh những bức thư rất dài để gọi Minh về, nhưng mỗi lần viết xong thư, chàng lại xé vụn vất đi. Tha thứ thì vẫn dễ. Sự khó khăn chỉ ở cách tha thứ. Phải tha thứ bằng cách nào, cho mình khỏi bị mỉa mai, chê cười, cho lòng tha thứ của mình không bị coi như tính hèn nhát.

Nếu Minh tự ý về nhà, ăn năn chịu tội, thì không những chàng tha tội, mà chàng còn cám ơn Minh nữa.

Nhưng biết đâu Minh không nghĩ xa xôi như Lực !

Biết đâu Minh không bị người đời mỉa mai, chê cười rằng đã khốn nạn có ngoại tình, còn dám vác mặt về nhà chồng ?

Lực nghĩ thầm : "Biết đâu hai người không cùng một tâm trạng".

Và ý nghĩ ấy làm cho chàng cảm thấy chàng yêu Minh.

Trên cái bàn con bên cạnh giường ngủ, một bông hồng hàm tiếu cánh tươi còn đọng giọt mưa làm chàng cố hết sức lắp bắp một câu hỏi khẽ : "Hoa hồng ngoài sân đẹp lắm ?"

Tức thì người khán hộ thương hại ngắt cho chàng một bông và cắm vào một cái lọ không.

Lực đau đớn nghiêng đầu trên gối để được ngắm nghía bông hoa. Bông hoa vẫn tươi, sắc mịn và mát như cặp má hồng cô thiếu nữ...

Hiệu bán máy hát ở phố hàng Bông vừa cho chạy một điệu âm nhạc du dương, êm ái...

Và lờ mờ Lực thấy hiện ra khuôn mặt Minh, vợ chàng... Chàng sung sướng thổn thức. Hình ảnh kia một lúc một xa, một phai nhạt...

Rồi Lực ngất đi... Rồi lịm đi... Sau cái nghĩ cuối cùng : "Thế là hết !"

° ° °

Khi Lực sống lại thì trời đã tối hẳn. Ở ngoài, gió từng cơn rít lên và tạt mạnh những hạt mưa sắc vào cửa kính. Chàng tưởng vừa ngủ một giấc dài.

Nghe có tiếng khóc rưng rức ở bên giường. Lực muốn ngồi dậy xem ai, nhưng đau quá không sao nhúc nhích được mình mẩy nữa.

Ngọn đèn điện trên đỉnh màn chiếu thẳng xuống bông hoa hồng một luồng ánh sáng chói lòe. Lực định thần nhìn kỹ mấy cánh hoa hơi rung động... Rồi một con sâu sắc xám ngoi đầu vươn cao thân lên rướn nhìn chung quanh mình.

Lực kinh hoàng vì chàng nghe như có nhung nhúc một đàn dòi đương đục gậm phổi chàng.

Chàng kêu ú ớ mấy tiếng. Tức thì người đầy tớ đương ngồi khóc thúc thít ở chân giường đứng phắt dậy như có cái máy bật thẳng lên :

- Cậu ơi ! cậu ơi cậu tỉnh đấy à ?

Một nụ cười thoáng qua trên môi Lực. Người đầy tớ nắm chặt lấy tay chủ vừa khóc vừa nói :

- Cậu đừng bỏ con... ở lại một mình... cậu đi.

Thấy tay chủ sẽ nắm lấy tay mình, người đầy tớ hiểu ngay, ghé sát vào miệng Lực.

- Bật.

- Bẩm cậu, con đánh giây thép về Nghệ An rồi. Thế nào sáng mai ông Phán cũng ra tới nơi.

- Ðược

Bật sụt sịt đưa tay lên dụi mắt rồi nhớ đến lời dặn của người khán hộ, cầm cốc nước suối lấy thìa đổ cho chủ uống.

Giữa lúc ấy, được tin báo có người chết, ông thầy thuốc bước vào phòng, hỏi Bật qua quít mấy câu. Rồi ông xoa đầu Lực mà bảo :

- Cố ngủ đi nhé. Sáng mai tôi tiêm cho ông một ống long não nữa thì không việc gì hết.

Cặp mắt sắp chết đăm đăm nhìn người cứu mệnh, tỏ sự cám ơn.

- Còn phổi yếu thì đã có thuốc A B. Không lo gì hết.

Dứt lời, ông ta mỉm cười gật đầu chào rồi lặng lẽ bước ra hiên.

Lực vẫn thừa hiểu rằng mình chết. Nhưng câu nói của thầy thuốc bỗng có mãnh lực thổi luồng hy vọng ấm áp vào linh hồn giá lạnh của chàng. Chàng cảm thấy gióng máu chạy mau hơn ở trong các huyết quản và chàng cố nuốt những thìa nước suối trôi qua cuống họng bị thương.

Nhưng nhác để mắt tới bông hồng với con sâu nằm vắt ngang, chàng lại kinh sợ, để nước suối ứa ra cả cằm.

Bật lấy khăn, cúi xuống lau cổ chủ. Lực thì thào :

- Vứt hoa đi.

Chàng phải nhắc lại một lần nữa, Bật mới hiểu mà rút bông hồng vứt vào bồ.

Một lát sau, trong khi Bật loay hoay sắp sửa đỡ chủ trở mình vào phía trong, thì một thiếu phụ bù lu bù loa tiến vào phòng :

- Anh Lực ơi, sao thế anh ? Sao lại ra nông nỗi thế, anh.

Lực ú ớ gọi :

- Minh !

Nhưng Minh không nghe rõ.

- Anh Lực ơi, sao lúc mới ốm, anh không báo tin em biết, để em đến hầu hạ, trông nom anh ?... Khổ em chưa ! Anh ốm nặng thế này mà chả có ai ở bên cạnh săn sóc thuốc thang cho anh. Anh Lực hơi, anh có biết em là ai không, anh có nhận được em không ?

Lực sẽ gật.

- Anh Lực ơi, tội em to quá... Anh có tha thứ cho em không ?

Lần thứ hai, Lực sẽ gật.

- Vâng, em vẫn biết... Anh tốt lắm, anh quân tử lắm... Thế nào anh cũng tha tội cho em... Từ nay em ở luôn bên mình anh... Em chăm nom thuốc thang cho anh... rồi vài hôm nữa anh khỏe, em sẽ đưa anh về nhà, nhá anh nhá ? Anh yêu em nhá ? Anh đừng giận em, tội nghiệp, nhá ?

Lực mỉm một nụ cười - nụ cười chết trên cặp môi chỉ còn hơi nhúc nhích. Minh ngừng lại vài giây đặt bàn tay thơm tho, mát rượi lên trán chồng, rồi lại nói tiếp, giọng đầy vẻ thành thực âu yếm :

- Anh Lực ạ... em Minh của anh yêu anh, thương anh, mến anh. Em Minh của anh không thể nào sống xa anh được... Anh đừng bỏ Minh của anh... anh đi nhá. Anh Lực nhá, anh để em góa bụa thì em cũng đến chết mất thôi, anh Lực ạ... Vắng anh thì em sống làm gì ? Ban nãy em nghe thầy em bảo anh ốm nặng, điều trị ở nhà thương Bảo Hộ, mà em xuýt chết đi đấy anh Lực ạ. Rồi em tất tả vào hỏi thăm anh... Em phải năn nỉ van lạy mãi người ta mới cho phép em vào thăm anh đấy, anh Lực ạ... Sao người ta lại ác thế, anh Lực nhỉ ! Sao người ta lại định ngăn cản không cho vợ thăm chồng như thế nhỉ !

Chuông nhà thờ thong thả buông bốn tiếng... "Bung boong", rồi kế tiếp mười hai tiếng "keng" chậm chạp, rạc rời. Một cơn gió mạnh hét lên. Mấy chiếc lá bàng khô, có lẽ những lá cuối cùng, văng mạnh vào cửa kính.

Lực rùng mình tưởng tượng ra tiếng gõ cửa của thần chết đến lôi chàng đi.

Một tiếng nấc ! Linh hồn chàng rời xác thịt. Nhưng nụ cười vẫn còn lưu luyến trên cặp môi xám ngắt.

Rồi ánh sáng yếu đuối một buổi sớm mưa phùn lạnh lẽo, lạnh lẽo rơi qua cửa kính xuống ba người : Một người chết nằm trên giường và hai người sống quỳ dưới đất...

Có ai mở hé cửa lớn tiếng gọi :

- Ði thôi Minh !

Minh ngơ ngác nhìn.

Ðó là tình nhân của Minh đã y lời hẹn, đến đón Minh.



Khái Hưng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
Display posts from previous:  Sort by  
Post new topic Reply to topic  [ 54 posts ]  Go to page Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6  Next


Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest


You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum

Jump to:  
cron
POWERED_BY
Translated by Maël Soucaze © 2009 phpBB.fr

MangTreVN được xây dựng từ 1 nhóm bạn trẻ vào Tháng 2, 2010 và phát triển bởi các Thành Viên.
Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về nội dung mà người dùng đưa lên hoặc download