Welcome to www.MangTreVN.com. Click here to register
It is currently 18 Nov 2017 04:34




Post new topic Reply to topic  [ 29 posts ]  Go to page Previous  1, 2, 3
Author Message
PostPosted: 25 Feb 2015 15:50 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
20 . Nhẹ hơn cơn gió thoảng


A lô... Tổng đài?

- A lô ... Tổng đài đây.

- Chào cô. Xin cô cho tôi số 19.

- Ông đợi cho một lát.

Suốt ngày cứ phải nghe những giọng nói qua đường dlây điện thoại, tôi tìm cái thú tiêu khiển bằng cách đoán xem chủ nhân của những giọng nói thuộc loại người nào. Tôi đoán người này cánh tay ngắn, bụng phệ, da mặt nổi nhiều mụn sần sùi. Bởi tiếng nói nghèn nghẹn đứt khúc và khi nói xong thì y đặt máy xuống một cái "cộp" hung bạo. Loại người có bộ máy tiêu hóa xấu, bị táo bón thường xuyên. Tôi đoán người kia có tóc nâu sợi nhỏ, khuôn mặt dài và cái cằm nhọn. Bởi tiếng nói quặt quẹo như một loài động vật không xương sống. Đây là tiếng nói của một người đàn bà đanh đá chuyên ăn hiếp chồng, đôi hàng lông mày nhổ còn nhỏ như hai sợi chỉ, hay nhíu lại, và đôi môi mỏng ích kỷ. Giọng nói có pha chất cay của ớt, chất chua của me.

- A lô... Ai ở đầu dây? Cô Thùy Diễm?

- Vâng, Thùy Diễm đây. Ông Trường đó phải không?

- Phải. Trường. Cô nghĩ sao về buổi độc tấu dương cầm tối qua?

- Tuyệt hảo.

- Như vậy có nghĩa là cô không hối tiếc gì vì đã nhận lời mời của tôi?

- Hoàn toàn không.

- Vậy cám ơn. Tôi gác máy đây. Xin chào cô.

- Khoan khoan. A lô ...

- A lô...

- Tôi muốn mời lại ông đêm hòa nhạc tối nay.

- Xin cám ơn nhiều. Nhung rất tiếc là tôi phải đi Nam Định liền ngay bây giờ.

- Có cần lắm không? ông có thể hoãn chuyến đi lại ngày mai.

- Cần lắm. Xe đang đợi tôi dưới sân. Va li đã chất trong thùng xe. Và tôi đang đội mũ đứng nói với cô đây.

- Vậy hả? Vậy thì chúc ông thượng lộ bình an.

- Chào cô. Hẹn gặp lại một tuần sau.

Người có tên là Trường. Một cái tên có liên hệ như thế nào đối với một người? Nó có vẽ nên chân dung một người không? "Trường" gợi một cảm tưởng nghiêm túc, một khuôn mặt sáng sủa. Nhưng ai cấm thực tế chẳng ngược lại Có nhiều cái tên gợi sự nhọc nhằn, lao dao túi bụi. Tôi dã gặp hai ông Tuấn, một đen đủi gầy gò trông tựa cái đinh rỉ sét và một ông mập bệu, mắt một mí, môi vểnh răng hô. Những cái tên cũng biết lừa dối như những cái miệng.

....

- A lô... Tổng đài.

- Vâng. Tổng đài đây.

- Nhờ cô cho số 115.

- Xin cô đợi cho một lát.

115, số điện thoại của người đàn ông mang tên Trường. Tiếng chuông reo ở đầu dây. Reo từng hồi. Chắc người đàn ông mang tên Trường đi vắng. Tôi cảm thoáng thoáng một chút vui. Tha hồ cho cô đợi nhé? Cho cô hồi hộp, cho cô tuyệt vọng luôn cũng được. Bởi giọng cô uốn éo làm duyên một cách dễ ghét, dù rằng cô nói với tôi chỉ có mấy tiếng nhạt thếch vô nghĩa "A lô... Tổng đài...Nhờ cô cho số 115... Làm dáng vừa phải thôi, hỡi những người đàn bà, nhất là khi đối thoại, khi đối diện với những người đàn bà khác. Chỉ có đàn ông mới dễ bị mù lòa. Gặp đàn bà, mắt nó tăng độ cận thị, tăng độ viễn thị. Phải cần một cái gương nặng hơn. Đàn bà thì không. Luôn luôn họ có đôi mắt của loài mèo.

- A lô... 115 đây. Ai đó?

- Em. Thanh cưu. Sao anh bắt em đợi lâu vậy? Gọi từ nãy đến giờ có đến hai phút.

- Anh đang bận với...

- Với cô nào phải không?

Tiếng cười nơi đầu dây.

- Đừng có đùa. Anh đang thảo luận công tác với ông nhà thầu.

Thảo luận thì ngồi ở văn phòng, ở bàn giấy, kề bên máy điện thoại chớ sao lại thảo luận ở...chỗ khác?

- Chỗ khác là chỗ nào?

Em biết đâu đấy. Tùy sáng kiến của anh và của ...họ.

- Bậy.

- Sao lại bậy. Nếu không ở chỗ khác thì chuộng điện thoai reo anh đã nhấc máy trả lời liền.

- Anh đưa ông nhà thầu xuống coi kho hàng. Em điện thoại giữa lúc anh đứng ở dưới kho hàng. Thằng nhỏ chạy xuống báo tin và anh lên trả lời đây.

- Còn ông nhà thầu đâu?

- Đang ngồi ở xa lông. A lô. Em cần chuyện gì gấp mà điện thoại đó?

- Chiều nay lại đằng em ăn cơm. Có anh Hùng vừa mới ở Pháp về.

- Về chơi có lâu không?

- Độ nửa tháng

- Bảo anh Hùng mai anh sẽ lại thăm và có nhiều chuyện đề hỏi.

- Còn bữa cơm chiều nay?

- Anh xin lỗi không thể đến được. Đã lỡ có hẹn trước.

- Lại với cô nào...

Em có thể đi kiểm soát . Anh nói giờ và địa điểm. Mưòi chín giờ. Nhà hàng Taverne royale. Hai người đàn ông sẽ ngồi trước mặt anh: một người Nhật Bản mang kiếng trắng dày và một người Âu có bộ ria mép đen nhánh. Chấm hết. Thôi chào em. Cho anh gởi lời chào anh Hùng.

Hỡi người dàn ông tên Trường. Tôi thích cái giọng cười của ông lắm. Thong dong, tự nhiên, vừa ân cần vừa xa cách. Đừng có quá coi trọng những người đàn bà, cho dù đối với tôi là người yêu của ông. Đừng có nhíu những đôi mày đăm chiêu. Đừng có sợ hãi, đừng có xuýt xoa. Hãy cười, mỉa mai một chút càng hay. Hãy nhìn, chế diễu một chút càng tốt. Người đàn bà sẽ đánh rơi vũ khí.

- A lô ... Tổng đài?

- A lô ... Tổng đài đây.

- Xin chào cô ... Cô cho tôi số 23. A lô... Nhưng trước khi cô cắm fiche liên lạc xin cô cho phép tôi được chúc cô một mùa Thu nhiều niềm vui, nhiều hạnh ngộ.

Chúc một mùa Thu? Tôi chưa hề nghe ai chúc một mùa Thu. Tôi tinh nghịch hỏi lại:

- A lô... Cám ơn lời chúc của ông Nhưng tôi hơi bở ngỡ vì không hiểu mùa Thu mang ý nghĩa gì.

- A lô... Vậy thì lỗi thuộc phần tôi. Sáng nay tôi thấy trời vẩn mây, mây xám đục giăng kín bầu trời và gió lạnh hiu hắt. Lá bàng vàng và nhuốm đỏ rơi từng trận trên lối đi trong vườn. Tôi nghĩ rằng mùa Thu bắt đầu. À nơi sân Nha Bưu điện của cô cũng có những câìy bàng. Cô có thấy lá úa đang rụng không?

- Vâng, có.

- Mùa Thu là mùa thích nhất trong năm để mặc áo đẹp, để đi chơi phố, để gặp gỡ. Nghĩ vậy nên tôi chúc cô một mùa Thu nhiều gặp gỡ vui vẻ.

- Tôi cám ơn ông một lần nữa. Bây giờ tôi liên lạc cho ông nói chuyện.

... Tôi chợt giậc mình khi nghe ở đầu dây có tiếng líu lo:

- A lô... Tsớ shứ ơ xứ xang háo. Suậy ya? ( A lô ... Đây là số 23... Ai đó ?).

- A! Xuế in xiẻo chè. Tsào an. Wọ shứ Cheng. Nị hạo má? (A, chào cô Tuyết Anh. Tôi là Cheng. Cô mạnh giỏi ?)

- Tsào an, xien shưng. Hạo Xé xé. (Chào ông tôi mạnh. Xin cám ơn).

Những tiếng líu lo tiếp theo hàng tràng dài, tôi không hiểu được. Sau đó tiếng của ông Cheng, - người đàn-ông-mang-tên-trường bây giờ mang thêm tên mới là Cheng,- cũng líu lo trả lời lại và hai giọng líu lo đó tiếp nối nhau. Thỉnh thoảng là giọng cười điềm tĩnh đặc biệt của ông Cheng chen lẫn với giọng cười pha lê của người con gái Trung Hoa. Tôi mang máng hiểu rằng sẽ có một chuyến tàu ở Hương Cảng cặp neo ở Hải Phòng và ông Cheng sẽ được thông báo ngay để xuống nhận hàng. Tôi phân biệt được đoạn chót của cuộc đàm thoại .

- Wọ khán nị tsái Chic Changhai tsớ xứ lì pái yé. (Tôi sẽ gặp cô ở vũ trường Chúc Chang hai tối thứ bảy này).

- Tsớ xứ lì pái yé. Chíu tèn chung (Tối thứ bảy này, chín giờ).

- Thùng yí. Tsái tsién xièo chè. (Đồng ý. Chào cô ).

-Tsái tsién xien sưng. (Sẽ gặp lại, chào ông).

Tôi vẫn chưa đoán được khuôn mặt và dáng người của kẻ mang tên trường và Cheng. Mở quyển niên giám điện thoại ra xem thì biết số điện thoại 115 thucộc ngôi nhà số 17 đường Carreau. Một buổi chiều tan sở tôi đi dọc theo đường Carreau tìm xem địa chỉ nói trên. Đó là một vi-la hai tần nằm giữa một khu vườn rộng. Hàng rào sắt. Cổng sắt. Bồn cỏ xanh tươi mang dấu tích của một sự quét tước hàng ngày, một sự cắt xén chu đáo. Tôi cố ý đi chầm chậm để mong gặp một khuôn mặt, cho tôi một ý niệm về thân thế của gia chủ. Nhưng chỉ thấy một ông lão làm vườn lúi húi bên cạnh những bồn hoa hồng, những chậu hoa trà. Những cửa kính trên căn lầu mở rộng, chỉ thấy thấp thoáng có màn cửa rộng màu đỏ uy nghi.

...

- A lô ... Tổng đài?

- A lô...Tổng đài đây. .

- Chào cô. Đây 115. Mùa Nô-en sắp tới rồi . Cô nhìn lên quyển lịch nơi bàn giấy của cô đi. Có phải hôm nay là ngày mười lăm tháng chạp không? Tôi tinh nghịch trả lời:

- Đúng y. Không sai một giờ.

- Sai hết hai giây rồi, thời gian giữa câu nói của cô và câu nói của tôi. Bây giờ thì sai mất năm giây rồi.

Tôi cười thành tiếng vì sự tinh tế thông minh của khối óc đó.

- A lô... Tôi không biết chúc gì cho cô nhân mùa Giáng sinh. Cô có còn để những chiếc giày nơi cửa sổ để ông già Nô-en đặt vào đó cái vật mong ước của cô?.

- Tôi không còn ở tuổi mơ mộng đó nữa. Những đứa em đã thay tôi.

- Nhưng ở sở của cô thì cô có quyền đặt chiếc giầy để đựng nhiều mong ước. Vì tôi tin là cô trẻ nhất trong những nhân viên của sở.

- Cái gì cho phép ông tin như vậy?

- Giọng nói của cô.

Tôi cười ngay trong máy.

- Tôi nói thật mà. Tôi chưa biết mặt cô. Tôi cũng chưa biết tên cô. Xin lỗi, hay là sẵn đây cô có thể cho tôi biết tên cô được không?

Tôi suy nghĩ một chút. Với người này tôi không thể nói những ý kiến tầm thường. Người này không chịu sự bằng phẳng.

- A lô... ông cho phép tôi được miễn nói tên. ông cứ gọi tôi là Một, là Hai, là Ba gì cũng được, hoặc là cả Một Hai Ba.

- Ý kiến ngộ nghĩnh ! Một-Hai-Ba thì cũng đầy đủ sự cá biệt như Nguyễn Thị Nga, như Huỳnh Thị Thu.

- Còn cá biệt hơn tên của ông. Xin lỗi người ta vừa gọi ông bằng Trường, bằng Cheng.

- Chưa hết. Có mấy người Pháp thích gọi tôi bằng "ông Robert". Thôi, cám ơn mấy phút nói chuyện với cô, cô Một Hai Ba.

Ngày Hăm Ba tháng chạp tôi nhận một bưu kiện.Trên lớp giấy bao ghi, ghi mấy chữ:

Gửi cô Một Hai Ba

Tổng đài điện thoại

Nhà Bưu điện Hà Nội.

Cố nhiên một địa chỉ như vậy thật không hợp lệ, nhưng tôi là nhân viên Bưu điện và ở Tổng đài không có ai thắc mắc khi tôi nhận Một Hai Ba là biệt hiệu của tôi. Tôi mở lần giấy bọc: một cái áo len màu ngọc bích kiểu thật lạ mắt. Trong lần cổ áo thấy ghi xuất xứ "Làm tại Hạ Uy Di". Một mảnh giấy gài nơ ngực áo "Để mặc đón Chúa Hài đồng".

Đêm Nô-en tôi choàng chiếc áo len đó đi lễ nhà thờ. Từng luồng gió lạnh Hồ Gươm thổi vun vút, đưa cái giá rét căm căm chạy luồn theo các ngã phố, chạy mãi đến tận phố Cửa Nam, phố Hàng Đậu. Con dường Hàng Trống như tê cóng với tiếng lá đập vã vào nhau xao xác trên cao. Những cặp mắt dán vào tôi. Tôi biết là tôi đẹp và chiếc áo len làm cho tôi thêm rực rỡ.

Ngày hăm sáu tháng chạp, tiếng chuông điện thoại reo:

- A lô... Tổng đài .

- A lô...Tổng đài đây.

- Đây 115. Tôi đã gặp cô đêm Nô en. Tôi đã nhận ra cô giữa đám đông. Cô rực rô như...

Im lặng. Tôi tinh nghịch nói :

- Tôi đang đợi ông nói tiếp.

- Tôi chưa tìm ra được cách nói. Người đầu tiên ví một người đẹp với đóa hoa hồng, với tia sáng mặt trời rực rỡ... kẻ đó là một thi sĩ. Người thứ hai lặp lại cách so sánh trên đã là một thằng ngốc rồi. Tôi không muốn đóng vai thằng ngốc thứ một triệu tám trăm chín mươi bảy ngàn.

Tôi không giữ được tiếng cười.

- A lô... ông cũng đi dự lễ nhà thờ?

- Không. Tôi không có đạo. Tuy vậy, tôi vẫn cầu nguyện Đức Mẹ hằng Cứu Giúp phù hộ cho một người bạn gái của tôi hiện đang mắc trong vòng nguy khốn tối tăm. Tôi cầu nguyện một cách đều đặn và hết lòng.

Vừa lúc đó có tiếng chuông gọi, tôi vội vã cám ơn món quà Nô en vừa xin lỗi phải gác máy.

Sau chừng mươi ngày, một hôm 115 gọi tôi:

- A lô... hôm qua tôi gặp cô đi với bạn ở chợ Đồng Xuân.

- Lúc bấy giò ông đứng ở đâu?

- Cạnh bên cô.

Tôi la lên:

- Ông nói đùa.

Giọng cười hồn nhiên ở đầu dây:

- Khi cô không biết mặt tôi thì làm sao cô dám cả quyết là tôi nói đùa. Chẳng những đứng gần cô, tôi có thể giẫm ngang lên giầy cô rồi xin lỗi, cô cũng không biết kẻ đó là tôi.


Tôi im lặng. Trò chơi đang mang một sắc thái phiêu lưu bất ngờ. Tôi như đang đóng một vai trong một phim trinh thám, mang khuôn mặt một nhân vật nào đó và người đàn ông tên Trường đóng một vai quan trọng hơn. Một vai luôn luôn hiện diện mà vẫn luôn luôn vô hình. Trò chơi khá thích thú đối với tôi, không ràng buộc nguy hiểm bởi tôi có niềm tin rằng người đàn ông đó không phải là người xấu. Có lẽ ông ta là một hợp chất gồm yếu tố kinh doanh tích cực và nghệ sĩ mơ mộng. Có thể nói đó là một hợp chất lý tưởng. Chỉ còn khuôn mặt và vóc dáng. Tim tôi chợt bóp thắt một cái mạnh làm tôi đau nhói lên. Tôi vừa nghĩ rằng có thể ông ta là một người xấu trai. Nhưng tôi vội vàng tìm lý lẽ chống chế. Khó lòng mà xấu xí được khi những người đàn bà đối thoại với ông ta bằng giọng nói đó, bằng cách nói đó. Nhưng sao ông ta lại giấu mặt? ông ta có gia đình chưa? Tự nhiên tôi đi lại cái gương lớn nhìn bóng tôi trong gương. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt tôi. Tôi nhìn kỹ hơn đôi mắt tôi. Và tôi thầm nói: "'rồi ông ta sẽ gỡ cái mặt nạ ra, mỉm cười trang trọng chào mình. Vào đoan chót của vở kịch, của cuốn phim".

Những ngày sau tôi vẫn cứ đều đều nghe giọng nói của người đàn ông mang tên Trường. Rồi chợt một hôm có người gọi điện thoại cho tôi:

- A lô... Xin lỗi, có phải cô Một Hai Ba ở đâu dây không?

Tôi giật mình. Không phải giọng nói của người đàn ông mang tên Trường. Giọng này trầm trầm không thể lẫn lộn được. Có gì rắc rối đây? Tôi nín thở để nén hồi hộp

- Vâng, tôi Một Hai Ba.

Giọng nghe lạc hẳn đi.

- Ông Trường nhờ tôi gọi điện thoại cho cô. Ông phải ra đi một cách bất ngờ và không kịp nói lời chào cô.

- Đi xa? Vào Huế hay Sài Gòn?

- Xa hơn nữa

- Vạn Tượng. Nam Vang?

- Hơn. ông đi ngoại quốc rồi.

- Chắc là buôn bán?

- Không.

-Ông có thể nói dùm cho rõ hơn...

- Công tác gian khổ và nguy hiểm.

- Buôn lậu?

- Không. Ông Trường không tầm thường như vậy.

Tôi đoán biết. Chắc là hoạt động chính trị.

- Ông Trường đi đã lâu chưa? .

- Sáu ngày nay.

- Ông ta nhờ ông cho tôi biết tin trước khi ra đi?

- Không. Chỉ khi chúng tôi chia tay nhau ở Lạng Sơn.

Lạng Sơn : Đoạn chót của con đường an toàn, đoạn khởi đầu của con đường gian nguy hiềm trở. Tôi nghĩ rằng Trường đang dấn thân vào con đường chính trị chông gai. Cốt cách của Trường đó mà, không có mâu thuẫn chi hết. Sự dịu dàng đối với đàn bà chỉ là một khía cạnh của tâm hồn Trường. Có thể Trường mượn nó để che dấu hành tung. Tính chất nghệ sĩ của Trường cũng không trở ngại cho con đường gian nan trắc trở bởi chừng, theo tôi nghĩ, người dẩn thân là một loại nghệ sĩ lớn. Phải có xúc cảm cao độ, đam mê cao độ, hy sinh cao độ người ta mới xả thân được cho đại nghĩa, cho nghệ thuật, cho khoa học, cho lý tưởng. Đó là những ngả đường, cho dầu chạy về mỗi hướng khác nhau nhưng đều xuất phát từ một khởi điểm.

Trường đang xa cách tôi. Trong các nếp sinh hoạt bình thường, tầm thường của những đường phố bán buôn tấp nập, của những thị dân áo quan chải chuốt ngồi nhấm nháp ly cà phế ở nhà Thủy Tạ, ngồi hừng hực đam mê trước một bàn ăn ê hề ở phố Hàng Buồm hàng Gai, đứng nối đuôi nhau trước quầy vé của rạpxi-nê Majestie, Olympia... Trong cái nếp sống nhạt nhẻo đó, tôi thấy hình ảnh Trường vươn lên, cao ngất, ngự tri. Tôi ngồi tưởng tượng những vùng đèo cao chớn chở, rừng rậm heo hút, có màu chàm xanh của lớp lớp núi xa, có màu bạc óng ánh của những chòm lau ngút ngàn... nơi đó Trường lặn lội từng bước cô đơn.

Những ngày của tôi sau ..đó sao bỗng nhiên.váng vẻ tiêu đĩều. Tôi ước nghe một giọng nói, nhưng tới tấp đến với tôi là những giọng nói khác. Những tiếng chuông điện thoại reo làm tôi bực mình cáu kỉnh. Giọng đàn bà nhí nhảnh làm tôi khó chiu đã đành, cả ngay những giọng đàn ông ấm ngọt ngào cũng làm tôi bực bội nữa. Thiếu giọng nói đó, một nửa thành phố Hà Nội như im tiếng luôn, như chết sững đi, lặng yên bất động.

Có những hôm buồn quá tôi thẩn thờ quay máy gọi về số 115.

- A lô...115, A lô..115.

Tiếng chuông reo từng chặp bên đầu dây.

Tiếng chuông vẫn reo từng chặp.

- Alô... 115. Tổng đài đây. Tổng đài gọi 115 đây.

Vẫn chỉ tiếng chuông reo.

- A lô... Tổng đài đây. Tổng đài gọi 115 đây. Một Hai Ba gọi 115 đây.

Tự nhiên hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy xuống má tôi Tôi đang nhớ đến một cuốn tiểu thuyết trong đó người thiếu nữ ngồi giữ đài vô tuyến Trung ương để liên lạc thường xuyên với một quân nhân giữ nhiệm vụ đi tiền sát mặt trận địch. Mỗi lần đi đến đâu người quân nhân liên lạc vô tuyến với tổng đài, cho biết vị trí của mình. Ám hiệu của đài Trung ương là "Địa cầu' của người quân nhân là "ngôi sao".

- A lô... Ngôi sao đây.

- A lô... Địa cầu đây. Địa cầu đang nghe Ngôi sao đây.

Rồi chợt một ngày kia, Ngôi sao không gọi về Địa cầu. Địa cầu đợi chờ. Địa cầu đã yêu Ngôi sao từ nhiều ngày, yêu âm thầm nên càng tha thiết. Địa cầu nóng lòng kêu gọi Ngôi sao. Nhưng Ngôi sao im thin thít. Địa cầu kêu gọi khắc khoải, kêu gọi ngày đêm.

- A lô... Ngôi sao đâu. Địa cầu đây... Địa cầu gọi Ngôi

sao đây... A lô...Ngôi sao đâu... Địa cầu đây... Đia cầu gọi Ngôi sao đây... A lô...Ngôi sao....

Những dòng nước mất vẫn lặng lẽ chảy trên má tôi. 115 ơi? Ngôi.sao của tôi ơil Ngôi sao đi biệt tăm và Địa cầu đang ngồi đây, giữa bốn bức tường hoang vắng.

Đầu năm 1954 tôi lấy chồng. Tiếp tới Hiệp định Geneve, chúng tôi di cư vào Nam, tôi vẫn làm việc ở ngành Bưu điện và nhờ chồng tôi khéo vận động, tôi được làm ở ngay Tổng Nha bưu điện Sài Gòn. Cuộc đời công chức lăn trôi đều đều, tôi quen lần với nếp sống miền Nam thật thà cởi mở. Những trái sầu riêng, những trái vú sữa lấn át kỷ niệm của những quả sấu, quả mơ, hủ tiếu Mỹ Tho làm quên dần hương vị của những đêm Đông ăn chả cá trên một căn gác phố hàng Khay, hàng Quạt. Miền Nam không có cái lạnh se sắt của những cơn mưa phùn dai dẳng tháng Giêng , cái lạnh làm buốt nhức thần kinh, cái lạnh chạm vào da thịt, cái lạnh ta ngửi thấy hăng hắc nơi mũi. Khí hậu miền Nam ấm, tình người miền Nam ngọt, tôi yên ổn tự đặt mình trong sự bao bọc ân cần này. Chồng tôi cũng công chức như tôi, công chức trung cấp, không tham vọng, không kỳ vọng. Một căn nhà nhỏ với những đồ đạc bày biện cổ điển: Bộ xa lông bọc vải nhựa, cái buýp phê mặt formica, cái quạt để bàn, bộ magnê Teac, cái tủ lạnh... Hiện tại nó sẽ dẫn tới một tương lai na ná như vậy, xấu hơn hay tốt hơn một chút và một nếp sống trung bình không cho tôi có nhiều rỗi rãi để thường nhìn về những ngày mơ mộng cũ của tôi bên hồ Hoàn Kiếm đong đưa liễu rủ.

Thỉnh thoảng có lần xếp lại tủ áo tôi bắt gặp chiếc áo len màu ngọc bích và tôi bồi hồi đứng giây lâu nhớ lại giọng nói, nhớ lại cách nói người đàn ông tên Trường năm xưa. Rồi lần lần trong óc tôi dựng lên những dãy rừng trùng điệp, những đèo cao, những sương lam và gió lạnh... và trong cái khung cảnh vừa hùng vĩ vừa hoang vu đó có một bóng người ngồi trên mình ngựa, đi mải miết về phương trời trước mặt, quay lưng lại phía tôi. Thường khi nghĩ đến đó là tôi buông ra tiếng thở dài, tôi xếp lại tủ áo khóa cửa tủ rồi đi tìm một công việc làm cho quên đi Bởi không chắc người đó còn yên lành để ngồi trên mình ngựa. Có thể đã ngã xuống rồi ! mình ghim lỗ chỗ nhũng đầu đạn.

Chợt một buổi sáng có tiếng gọi tôi trong máy điện thoại:

- A lô... Một Hai Ba.

Tôi giật mình: Tôi không tin ở tai tôi. Tôi hồi hộp.

- A lô... Tôi đây. Ai ở đầu dây?

- A lô... Đúng Một Hồi Ba rồi. Tôi đây 115 đây.

Tôi có cảm tưởng bàn tay của tôi đang run. Tim tôi đập thình thịch và đầu óc ngất ngây choáng váng. Tiếng nói.ở đầy dây:

- A lô ... Đúng Một Hai Ba rồi. 115 của Hà Nội cũ đây. Giọng nói của cô không thay đổi và chắc giọng nói của tôi cũng vậy.

Tôi đáp lại hụt hơi:

- Vâng.

- Tôi xa cách cô như vậy đã bốn năm rồi. Mới đó mà mau ghê chưa. Không ngờ lại có thể gặp nhau giữa thành phố miền Nam này.

- Vâng

- Đáng lẽ tôi đã chết hụt nhiều lần. Nhiều hơn số ngón tay trên hai bàn tay của tôi.

- Vâng. Tôi cũng sợ như vậy.

- Tôi biết rằng cô đã lập gia đình rồi.

- Ai nói với ông?

- Ngẫu nhiên thôi. Cô có nhớ hôm chủ nhật vừa rồi cô đi Lái Thiêu?

- Có

- Cô ngồi giải khát với một người đàn ông mà tôi biết chắc là chồng cô.

- Ông cũng có đi Lái Thiêu?

- Dĩ nhiên là có. Tôi vẫn có thể giẫm chân lên giày của cô và xin lỗi cô mà cô không hề biết người đó là tôi mà.

Cũng vẫn điệu nói cũ nhưng tôi không còn thấy nét tinh nghịch đùa vui như ngày xưa. Mà có một chút gì u trầm. Thấy đầu dây im bặt, tôi gọi lại:

- A lô...

- A lô...

- Ông cũng vào Nam vào dip di cư?

- Không . Tôi vào và tôi ra, tôi đến và tôi đi không có kỳ hạn.

- Vâng, tôi biết.

- Ai nói cho cô biết?

- Tôi đoán vậy. Ờ... có lẽ tôi đoán được qua lời người bạn ông ở Lạng Sơn.

- Người bạn... Lạng Sơn? à... tôi nhớ ra rồi. Nhưng mà người đó...

Im lặng mật hồi.

- .... Nó chết rồi.

- Chết?

- Nó bi phục kích. Nó bi bắn một viện đạn xuyên qua tim.

Tôi muốn kêu to lên một tiếng ngạc nhiên. Muốn nói ý nghĩ thực của mình: Tôi cứ nghĩ viên đạn đó để dành cho ông.

- A lô...

- A lô...

Tôi mong rằng cuộc sống ở đây vẫn dễ chiu đối với cô. Như hồi còn ở Hà Nội.

- Cám ơn ông. Tôi cố thích nghi và hoàn cảnh khá rộng lượng với tôi. Còn ông?

- Tôi... Tôi không có vấn đề.

- Có nghĩa là ông có quá nhiều vấn đề.

Giọng cười ngắn ở đầu dây:

- Cô hiểu như vậy cũng được. A lô...

- A lô:..

- Bây giờ tôi chào cô. Tôi có cái. hẹn và người tôi hẹn đã đến, đang bấm chuông ngoài cổng. Khi nào có dịp tôi sẽ lại điện thoại nói chuyện với cô. Tôi chúc cô luôn luôn vui mạnh, thành công.

- Xin cám ơn ông. Tôi cũng chúc ông như vậy.

Tôi gác máy, thẫn thờ nhìn ra khung trời cao. 115 đã trở về. 115 lại hiện diện kề tôi, cùng thở một bầu không khí với tôi nhưng tôi vẫn tuyệt nhiên không nhận diện được Người ấy như một cái bóng, chập chờn, ẩn hiện, vừa gần, vừa xa. "Khi nào có dip tôi sẽ lại điện thoại...", tuy nói vậy nhưng người đó sẽ không gọi nữa đâu, khi biết tôi hôm nay đã có chồng. Chồng tôi: Người công chức trung cấp đang chia xẻ với tôi những âu lo và những dự tính vụn vặt tầm thường. Đoán xem giá vàng còn có thể lên cao bao nhiêu nữa, nên rút hết chương mục tiết kiệm ở ngân hàng để mua vàng hay cứ để hưởng lợi tức 24% mỗi năm. Làm sao lo cho thằng em được miễn dịch vĩnh viễn. Một người láng giềng vừa đục một cái cửa sổ nhìn.ngay phòng ngủ của mình. Có nên gọi thừa phát lại tới lập vì bằng để xin Tòa ra án lệnh bắt đậy cái cửa thô bỉ bất hợp pháp đó không?

Chúng tôi đang bò trên mặt đất. Cuộc đời níu kéo chúng tôi xuống và tôi hổ thẹn mà thấy rằng thực tế thì chúng tôi cũng không vươn lên được cao hơn. 115 khác xa chúng tôi. Khác xa chồng tôi. 115 mang hương xa lạ trong đầu, trong lề lối nghĩ, trong thói cách sống. 115 có đôi cánh và 115 đang khởi sự xa cách tôi.

Tôi muốn kêu lên những tiếng tuyệt vọng.

Ngôi sao! Ngôi sao? Địa cầu đây! Địa cầu đang nghĩ đến Ngôi sao đây. Nhưng Địa cầu biết rằng Ngôi sao đang lặng lẽ tách xa, mỗi ngày một xa, vận chuyển âm thầm, lạc nẻo âm thầm giữa cái vũ trụ mênh mông, mênh mông.


Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 25 Feb 2015 15:52 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
21 . Hoa hồng tình yêu và hận thù


Đến hôm nay thì tôi biết rõ ẩn ý của Tuyết Tâm: nàng muốn mua tặng tôi một chậu hoa nhân dịp Tết. Nàng đã khéo gợi để tôi nói ý kiến về các loài hoa:

- Thược dược? Nở rộ quá, nở tràn trề, có bao nhiêu tinh lực hoa dàn bày ra hết. Rồi sau đó vội vã lụi tàn, tiều tụy xác xơ. Y như một cô đào hát thinh sắc một thời. Y như một nhà đại tư bản danh nổi tưng bừng rồi sau đó khánh tận trong nháy mắt. Y như một kẻ ăn chơi thỏa chí để rồi tự tử.

- Mãn đình hồng? Đẹp thì đẹp nhưng làm đỏm hơi nhiều. Son phấn thừa thãi, thiếu kín đáo.

Vân vân... Ngồi nhớ lại, tôi có chút tự trách: sao nỡ nghĩ nghiêm khắc như vậy với hoa?

- ... Dưới chợ Đầm, dãy hàng hoa cũng còn lơ thơ lắm. Năm nay nghe nói mất mùa mưa nhiều thúi rễ thúi lá. Chỉ thấy bày nhiều nhất là loại Hồng hoa nhỏ, nở từng chùm.

- Gọi là hoa Tỉ muội.

- Trông không đẹp.

- Nói "không sang" thì có lẽ đúng hơn. Có vẻ nghèo khó, lúng túng, tụm năm tụm bảy, nương tựa lẫn nhau. Nhưng mà hoa nở quanh năm. Có điều không thơm. Thêm một bất tiện cho người nào muốn cắt cắm hoa, bởi hoa nở chi chít.

- Người ta kêu là Hồng Sẻ.

- "Sẻ" chỉ sự nhỏ. Nhưng tuy nhỏ mà màu hoa rất đậm đà gợi niềm vui vẻ hưng phấn.

Thấy Tuyết Tâm im lặng, tôi ngẩng nhìn nàng, nhận thấy một vẻ gì lúng túng, thiếu thoải mái. Sao vậy? Tôi đã làm nàng phật ý vì đã bào chữa cho loại Hồng Sẻ nghèo nàn?

Đợi mãi không thấy nàng lên tiếng, tôi nói tiếp:

- Có một loại Hồng rất thơm, ngày xưa cha tôi hay ngắt bỏ trong bình trà. Cây nó mọc thẳng đuột cao cả thước.

- Nhà ông công chức láng giềng của em có trồng. Thấy ổng quý lắm. Cô con gái của ổng kêu là hoa Tường Vi. Ai kêu là bông Hường thì cô giận, mắng là đồ nhà quê.

Tôi cười một tràng, thích thú. Sau đó mới giải thích:

- Tường Vi là chữ Nho, người Trung Hoa dùng để chỉ bông Hường. Do vậy, chữ "Tường Vi" không có gì quý hơn chữ "bông Hường" hết.

- Có một loài hoa Hồng, hoa đỏ tía như màu hoa mào gà Không thơm.

- Nhưng hoa nở to, cánh lớn. Trông cũng đẹp.

Tôi vụt thấy mình nhà quê rõ ràng. Chớ sao? Cái gì mà bông Hường Sẻ cũng đẹp, Hường Tía cũng đẹp? Sự nghèo khiến mình bận quần áo vá một cách tự nhiên, chẳng lẽ sự nghè lại cũng khiến mình yêu cả hoa Mõm lợn và hoa Cứt chuột?

Chừng mười ngày sau, trong câu chuyện, Tuyết Tâm lại đề cập tới hoa ngày Tết. Cô nói vừa tới thăm một trại hoa và chọn được một chậu Hồng trắng.

- Hoa nhỏ thôi, nhưng nở đều, trắng xóa, trông thật dễ thương.

Tôi gật gật đầu:

- Riêng với tôi, hoa Hồng trắng gợi nhớ những ngày tuổi thơ. Hồi nhỏ, cạnh nhà tôi có một ông phu trạm lớn tuổi gầy yếu, cứ lúc thúc trồng những chậu hoa. Giữa đám cẩm chướng, đinh lăng... có hai ba chậu bông hường trắng.

Năm ngày sau thì câu chuyện về hoa bắt tôi bối rối:

- Em đã mua một chậu Hường trắng để biếu anh. Hiện còn gởi ở nhà vườn.

- Trả tiền chưa?

- Rồi.

Tôi lặng im. Sự bối rối khởi nguồn từ màu trắng, từ một kỷ niệm về màu trắng.

Năm trước một người bạn tôi gả con lấy chồng. Tặng món quà gì bây giờ? Người giàu sang thật dễ chọn quà cưới. Một cái xe Cadillac nếu mình làm Tổng giám đốc một Ngân hàng mừng con gái ông Tổng thống. Một vòng kim cương, một đồng hồ Wesminter treo tường, một bộ đồ trà, một cái quạt máy... Nghĩ vẩn vơ cho thỏa cái từng trải vậy thôi, chớ những món quà được gợi ra đều cao hơn mình cả ngàn thước. Ngẫu nhiên nhìn ra sân thấy một con gà trống Leghorn vừa đến tuổi biết đạp mái đang đi lại. Lông trắng toát, mào đỏ chói, da mặt hồng nhạt. Như một sinh viên Đại học đẹp trai. Hãy thắt cho nó một cái nơ xanh. Rồi mình ôm tới đặt nó đứng giữa phòng khách. Dáng đẹp đẽ, tươi trẻ khoẻ mạnh của nó sẽ làm mọi người mê. Anh bạn mình là một thi sĩ thì trong bạn bè nhất định là có họa sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ ...kể cả nha sĩ, dược sĩ. Đang nghĩ cách trao quà sao cho hay, nói lời gì cho tạo được xúc động, đang tưởng tượng cảnh đón nhận tưng bừng thì chợt giật mình. Màu trắng mà, đâu có được? Màu trắng là màu tang chế. Đã vậy lại đơn độc một con cồ. Có khác nào đem lại điềm xấu đến. Điềm xấu! Anh bạn thi sĩ chắc cũng mê cái Đẹp như mình nhưng trong bè bạn họ hàng sao chẳng có người kiêng cử? Rồi thì kẻ thầm thì nói ra nói vào. Rồi có lời chú thích, bình giảng, dẫn chứng. Thôi, xếp cái sáng kiến lại. Đạp xe đi dò hỏi xem có ai cùng dự tiệc để góp tiền chung với họ. Hoặc lục tìm một cái phong bì đẹp rồi đặt vào giữa một tờ giấy bạc.

Màu trắng! Một chậu bông Hường màu trắng! Tôi lén đưa mắt nhìn Tuyết Tâm. Sao em thông minh chi cho khổ? Em có óc thẩm mỹ độc lập, đã vậy, còn đặt tâm hồn để chọn một màu hoa có ý nghĩa. Và vậy là em rơi vào màu trắng kiêng kỵ !

Tôi nhìn xuống đất, nói nhỏ như một lời nhận lỗi:

- Anh rất thích chậu hoa mà em định tặng... nhưng có lẽ chắc có lẽ..., - tới đây tôi gãi cằm một cách vô duyên,-

... sợ có người... lỡ sang năm anh gặp chuyện gì rủi thì thiên hạ họ...họ đổ cho chậu hoa màu trắng...

Tuyết Tâm mở tròn mắt:

- Vậy hả? Ồ, vậy mà em không nghĩ tới. Nhưng không sao. Dễ mà. Em đổi lấy chậu hoa ni-lông. Trên đó có một chậu. Em sỡ dĩ không mua vì nó ít hoa. Chỉ có hai đóa đang còn búp. Nhưng ông lão làm vườn nói mua về chừng một tháng sau là nó nứt nhánh xúm xuê... Không sao... Dễ mà...

Đến lượt tôi mở tròn mắt. Sao Tuyết Tâm giải quyết nhanh gọn dễ dàng vậy? Có cái gì đáng để bối rối đâu? Kỳ lạ! Không, phải nói là kỳ diệu. Đàn bà quả là một nhân cách kỳ diệu. Không có gì đáng để họ phải chau mày bối rối.

Ngày hăm lăm tháng Chạp, một ông xích lô gõ cửa, trao tờ giấy trên có ghi ngắn gọn mấy chữ. Khi tôi nhìn xuống chậu hoa đặt ở sàn xe, ông cũng ngắn gọn hỏi:

- Ông định đặt chậu hoa ở đâu, nói tôi bưng lên cho. Cô Tâm dặn tôi vậy.

Tôi đi trước dẫn đường.

Ngoài chợ người ta gọi loại hoa này là hoa Ni-lông. Có lẽ tại vì cánh hoa bóng láng, gần như trong suốt, trông tựa hàng ni-lông. Nhất là khi hoa vừa hàm tiếu. Màu hoa cũng có vẻ gì không giống với tự nhiên. Đó là một màu đỏ rụt rè, màu bã trầu nhai vừa giập, màu sơn phê của cụ đồ trên những trang giấy chữ Nho. Rất nhiều khi tôi ngồi nhìn màu hoa vừa cố gắng tìm một vật có màu tương tự. Người ngoại quốc thường gợi tên một vật để chỉ rõ một màu: màu vàng trái chanh, màu vàng bông mặt trời, màu xanh ngọc bích, màu xanh rừng nhiệt đới, màu hồng trái dâu, màu tím trái nho... Từ khi quen tôi hơn một năm nay, cứ thỉnh thoảng Tuyết Tâm đem đến vài cành hoa Ni-lông cắm vào cái lọ nhỏ nơi bàn tôi. Một hôm tôi nói:

- Gọi tên Ni-lông, nghe... tội nghiệp cho nó. Vì người ta dễ tưởng lầm là hoa giả làm bằng lụa ni-lông. Vả chăng ni-lông gợi ta nghĩ đến quần áo. Người sành điệu gọi nó là Brigitte. Chắc là để tôn vinh cô đào Brigitte Bardot. Cũng như có hoa Hồng René Coty, tên một ông Tổng thống nước Pháp.

Tôi suy nghĩ xung quanh những cái tên như Britgitte, René Coty. Người trồng hoa có thể vì mục đích thương mại mượn tên cô đào chiếu bóng thời danh, có thể vì mưu cầu danh lợi mà cúi xin ông Tổng thống hạ cố ban cho phương danh. Nhưng cũng có thể là họ đã tìm thấy những nét tương đồng nào đó giữa hoa và người, những nét tiêu biểu nào đó, sâu sắc, thâm thúy mà người thường chúng ta không nhận thấy. Mà phàm đã không nhận thấy nổi thì ta lại có tật lớn tiếng chê bai theo cái hiểu nông cạn của ta. Brigitte ! Tôi không cần tìm biết cái đích xác tên đó có phải mượn của cô đào chiếu bóng hay không, tôi chỉ cảm thấy rõ ràng cái tên Brigitte súc tích hơn, có chiều sâu hơn, dung lượng lớn hơn, chứa đựng nhiều hơn một cái tên xuề xòa kiểu bông Ni-lông, bông Hường tím, hoa Loa kèn và nữa, lại gặp nhau nữa - hoa Cứt chuột.

Chậu hoa đặt trước hiên được tôi chăm sóc đặc biệt. Một phần vì hoa đẹp hoa quý, một phần - mà phần lớn - là vì cảm tình của người tặng dành cho tôi và cảm tình của tôi đền đáp lại. Tôi tưới toàn bằng nước thật sạch. Chọn lông vịt nõn ủ lên mặt chậu đề giữ nước. Cứ năm bảy ngày tôi lại soát lại các lá các cành để bắt sâu giết rầy. Lũ rầy thường tạo những vết tròn nhỏ, màu đen ở mặt dưới lá. Kiểm soát lá cành này xong thì đáng lẽ đi qua lá cành khác, tôi lại đưa tay xoay nhích cái chậu. Làm vậy, tôi được ngồi một chỗ và ánh sáng mặt trời chiếu dọi theo phương hướng tốt nhất mà tôi đã chọn.

Vài tháng sau, để ý thấy nước tưới bị dồn về một góc chậu. Dòm kỹ thấy cái chậu sao hơi nghiêng. Lục soát kỹ hơn, cuối cùng tìm ra nguyên nhân: một chân chậu bị mòn đi, ngắn đi dễ có đến năm phân. Đó là cái chân bị đứng làm trụ để xoay. Sờ tay vào chân cụt thấy cát rụng ngoan ngoãn. Xi măng chỉ mơ hồ gọi rằng có. A! Tình hình khan hiếm! Nhưng đáng lẽ la lối chê bai nền kinh tế như đa số người dân vào trường hợp này, tôi lại mải mê nghĩ đến nghệ thuật pha chế cân lường của anh thợ đắp chậu. Vừa đủ chỉ tạm đủ. Đồng thời cũng không được tham lam thêm bớt đi một tí xíu nào nữa. Làm sao mà cái chậu đứng vững trong một thời gian cần thiết: khi ở nhà vườn, khi ra chợ, khi lên xích lô về nhà chủ mới. Sự thành công đạt đến độ lý tưởng. Nếu không có kiểu bắt chõi một chân đứng mà xoay thì chắc cái chậu có thể chịu đựng hai kỳ Tết. Chớ sao? Phải lo xa, phải đề phòng năm đầu xuất quân hàng bán không chạy, phải đợi Tết sau.

Những thú vị bất ngờ! Tưởng chỉ có thú vị được thưởng thức hoa, - ở trên - nào ngờ thêm thú vị thưởng thức nghệ thuật đúc chậu - ở dưới.

Một hôm có một cô bạn của đứa cháu tới trầm trồ hai đóa hoa đang nở. Rồi ngỏ ý xin cắt một bông. Sự đột ngột làm tôi chỉ còn biết nhìn sững cô gái. Như vậy gọi là yêu hoa? Sao có thể tàn bạo... Nhưng tôi vội nghĩ dịu dàng hơn: có thể đó là tính dễ dãi, xuề xòa. Sẵn tay thì làm, vui miệng thì nói.

Sau hai tháng, lộc nhú đầy cành. Tưởng khó có cảnh nào truyền cho ta niềm an ổn cho bằng cảnh một cành Hồng nứt lộc. Đó là sự chất phác, là sức sống trầm lặng, tràn đầy mạnh mẽ. Là sự say mê có hơi đui mù nữa. Thật vậy: chỉ cần một bàn tay nhổ hất gốc rễ là cả sự sống đó, cả sức sống đó ngừng lại. Nó cũng khỏi bận tâm biết vì sao.

Những nụ lộc biến thành mầm cây, thành cành mơn mởn hồi nào, tôi không theo dõi kịp vì chúng lớn mau quá và cũng bởi vì chúng đông quá. Khi những đầu cành kế tiếp nhau đơm nụ thì bụi hoa trông bề thế rậm rạp, khác xa cái dáng mảnh mai khiêm tốn ngày nào. Lần lượt hoa nở, có lúc đến bảy tám hoa nở rộ một lần. Để tránh cái nắng tháng ba và cũng để tận hưởng cái đẹp, cứ khi nắng bắt đầu gắt là tôi bưng chậu hoa đặt ở giữa phòng. Phun nhẹ nước lên lá lên cành nữa.

Khi hoa tàn, tôi dùng kéo cắt bỏ. Sự sống dừng lại nơi vết cắt, dòng nhựa quay lui và chừng nửa tháng sau, bỗng lại một hôm, một loạt lộc mới lại nhú lên mơn mởn. Lại một loạt cành Hồng mới đâm tua tủa dọc ngang qua lại làm cho bụi hoa rậm thêm, xứng đáng mang tên là một bụi hoa. Và hoa lại nở, lần lượt trước sau, thân ai nấy lo, theo cái trình tự nụ xanh nhếch mép, tiếp theo nụ cười thẹn thò, rồi rực rỡ mãn khai, rồi màu sắc úa đi và cánh hoa héo nhàu và sau đó từng cánh rơi rụng lả tả. Thời kỳ đẹp nhất là khi hoa hàm tiếu, màu tươi mà lợt như có rắc phấn, các cánh hoa còn đang đứng sít kề nhau, chen cài vào nhau, như còn thẹn như còn sợ nắng gió, như những cô phù dâu ríu rít quây quần không dám tách xa. Quả đó là một cái gì thanh tân nhất mà thiên nhiên có thể tạo ra dược. Khi hoa mãn khai: hoa nở trọn vẹn, xòe rộng hết mọi cánh phô bày hết mọi vẻ đẹp thì đó là lúc mà nếu có ý thức thì hoa phải bắt đầu buồn. Y như ngày Tết chấm dứt vào tảng sáng mồng một.

Lại có dịp để nghĩ vẩn vơ: háo hức nẩy lộc đâm cành để làm gì vậy Chỉ cốt để nở một cái hoa? Rồi tàn rụng ? - Nhưng thôi, hãy thưởng thức cuộc sống một cách ngu ngốc đi. Bởi xét cho cùng, mình cũng đâu hơn chi nó?

"Màu son môi, thời trang 1970", một buổi sáng nhìn chậu hoa nở tôi chợt nhớ lại, chợt nói lên thành một tiếng, một mình, trang trọng kiểu cách như một nhân vật lãng mạn trong kịch Shakespeare. "Màu gạch, màu cam". Phải, thời đó các cô nói như vậy và bôi môi như vậy, những cô bạn của tôi. Bây giờ họ ở đâu? Mười mấy năm lặng lẽ lướt qua không gây tiếng động, son môi hoặc không còn được tô nữa hoặc đã đổi thay màu cho hợp với thời trang. Chỉ còn lại cùng tôi, vĩnh viễn không thay, vĩnh viễn không mất, màu môi son cũ âm thầm hiện lên hàng ngày trên mỗi nụ hoa, tươi thắm nồng nàn như những môi cười.

Một hôm Tuyết Tâm đến thăm nhằm lúc tôi đang bận lúi húi trong phòng bên cạnh. Khi trở lại thì thấy một đoá Hồng đứng rực rỡ trong lọ.

- Em mới lau dọn cái bàn. (Ờ! Trông gọn. Trống. Rộng. Như một bàn tay nào vừa lấy cắp mất vài ba món đồ) Em cắt cành hoa cắm vào...

- Mới cắt ngoài chậu hả ? - tôi vội hỏi.

- Vâng.

Câu trả lời bất ngờ. Nhưng khó mà nghĩ đến chữ "bạo tàn" khi nhìn đôi mắt dịu dàng và nụ cười xinh đẹp của Tuyết Tâm. Nàng nhìn cánh hoa giây lát rồi nói:

- Lá của nó cũng chịu ảnh hưởng của màu hoa thấy không? Nên sắc xanh mà có pha chút vàng rất nhẹ.

Suốt ngày hôm đó mắt tôi thường nhìn đóa hoa đứng đơn độc trong lọ rồi nhìn những đóa khác còn chen chúc trên cành. Cho tới một lúc nào, tôi nhận thấy rằng đóa hoa trong lọ được tôi nhìn ngắm kỹ hơn và trân trọng hơn, các vẻ đẹp được thưởng thức trọn vẹn và sâu sắc hơn. Việc cắt hoa cắm lọ để chiêm ngưỡng hoàn toàn chẳng có chút gì đáng trách mà ngược lại, đó là một phương cách thông minh, không thiếu sự hợp lý.

Sang đợt hoa thứ ba thì những đóa hoa bắt đầu nhỏ. Phải vô phân, tất nhiên, nhưng những chùm rễ không đủ sức nuôi cả một rừng những lá, nhũng cành, những cánh đài cảnh tràng... (Nuôi cả gai nữa!) cho dù nhựa đó có chứa chất bổ của phân heo và phân hóa học, bổ như sâm Cao ly. Phải chiết ra làm hai hay ba cây con thôi. Trong khi chờ đợi, sự khôn ngoan tầm thường nhất dạy ta phải hạn chế sự phát triển của bụi hoa bằng cách phải cắt, nhất định phải cắt những cành có hoa sắp hàm tiếu.

Một buổi tối tháng sáu, tôi ngồi cô đơn nghĩ ngợi xung quanh sự khôn ngoan đó. Từ trước đến nay tôi không bao giờ cắt hoa cắm lọ. Cả đến một nhánh hoa ti-gôn nhỏ, mà chỉ khi vô ý làm gãy tôi mới đem cắm vào lọ, dỗ nước để kéo dài sự sống cho nó mà thôi. Tôi đã có dịp lý luận về cái tính dễ thương đượm nhiều chất nhân ái đó. Chắc lý luận không dở, vì tôi biết vận dụng từ ngữ. Ý tưởng lại độc đáo hơn người có thể nói là cao hơn người bởi nó thấm đượm một triết lý nhân ái, khiến người nghe tôi chắc là thích, có thể đã trở thành môn đồ của tôi. Vậy mà giờ đây tôi tự cải chính. Tôi đã hăng hái nhiệt tình và rất chân thật, - đó là cái nguy hiểm đáng thương - chống lại việc cắt hoa cắm lọ chỉ vì tôi đã dốt nát không biết gì hết về hoa. Tôi chưa hề có một chậu hồng và chưa hề tự mình săn sóc để biết rõ về một chậu hồng. Cái kết luận làm tôi bàng hoàng: bao nhiêu bất công, cố chấp tôi đã phạm phải trong cuộc đời, cho đến hôm nay.

Cứ như vậy, cứ mỗi cuối năm, ông xích lô chở đến cho tôi một chậu Hồng kèm theo mảnh giấy. Cho tới ngày Tuyết Tâm vĩnh viễn từ giã tôi.

Tuyết Tâm, em có đủ cái tệ bạc để anh hận thù nguyền rủa, nhưng lại dư cái thâm thúy để anh khó có thể quên em. Trong những cái thâm thúy có việc chọn hoa hồng, người thầy im lặng đã dạy cho anh bài học khoan hòa cẩn trọng.

Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 25 Feb 2015 15:56 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
22 . Vĩnh biệt cây Trứng Cá


Ăn tối xong, tôi thấy ba tôi ngồi hì hục tháo những vòng dây dừa dài. Tôi hỏi:

- Ba định làm gì đó?

- Để chặt cây trứng cá.

Tôi kêu lên hớt hãi:

- Sao lại chặt nó?

- Nó héo rồi. Nó cỗi rồi. Nó sắp chết.

- Nhưng nó chưa chết.

- Nó sắp…

Ba tôi không nói hết câu. Chắc tiếng “chết” làm ông nghẹn lời.

Cây trứng cá ba tôi trồng cho chúng tôi đó. Nó đứng ở trước sân, hiện diện từ lúc còn là một thân tơ lá to xanh mướt, gốc lớn bằng ngón chân cái. Da nó láng, có lấm chấm từng điểm mốc. Cao độ một thước là nó đã lấm tấm nở hoa, những đóa hoa năm cánh trắng mỏng. Khi hoa rụng, trái thành hình, trái lớn thật mau, tròn trĩnh, màu xanh lục. Rồi đến một ngày nào màu xanh chuyển sang vàng, màu vàng chuyển sang đỏ. Ba vin cành xuống cho đứa con út là tôi hái trái đầu tiên. Trái thứ hai dành cho anh tôi. Trái thứ ba dành cho chị tôi. Từ trái thứ tư thì mạnh ai nấy hái.

Trời ơi, mới đó mà đã mười lăm năm rồi. Cây trứng cá được mười lăm tuổi và hôm nay là ngày chết của nó.

Tôi bật ngọn đèn trước sân. Ánh sáng nê-ông xanh mát soi rõ tàng cây ủ rũ. Những lá nhỏ, héo tạo những khoảng trống thưa thớt giữa các nhánh. Khi cây đang sung sức, lá đan dày kín trên cao, phủ bóng mát xuống sân, phủ bóng mát xuống hiên, vừa khoe khoang vừa giấu kín những trái chín đỏ. Từng bầy dơi bay rần rật đảo qua lượn lại vào giờ này. Chúng bay vút qua sân, bay xuyên qua tàng lá nhanh và thẳng như những mũi tên màu đen.

Bây giờ thì tất cả đều im lặng. Cây đứng chơ vơ một mình buồn bã ốm yếu. Những chiếc lá nhỏ lay động uể oải theo từng cơn gió nhẹ.

Tôi cố gắng thuyết phục ba tôi:

- Chúng ta thử chờ xem cây nó có hồi sinh được không?

Ba tôi lắc đầu:

- Ba đã ra công tưới nó suốt cả tuần rồi. Hôm đi Sài Gòn về, ba để ý thấy lá nó sao chợt nhỏ lại và không còn màu xanh đậm nữa. Ba sợ nó thiếu nước nên mỗi tối ba chăm chỉ tưới nước cho nó. Nhưng nó không khá hơn. Qua một cơn mưa giông dồi dào, ba thấy tình thế vẫn không biến chuyển. Coi như nó đã kiệt lực rồi.

- Nhưng thà để cho nó chết hẳn đã. Chớ chặt nó khi nó còn thoi thóp thở…

- Phải đành lòng vậy. Cảnh tượng một thân cây đứng chết dần từng ngày từng giờ trông buồn hơn.

Từ một thân cây to bằng ngón chân, cây trứng cá đã lớn lên hết mức, mọc tẻ ra hai nhánh thẳng hình chữ V. Lúc nhỏ anh tôi và tôi hay ngồi ở chạng cây để nói chuyện vẩn vơ, nói đủ thứ chuyện, để nhìn ra dãy xe cộ chạy ngoài đường hoặc nhìn sang những sân nhà trước mặt. Khi ba tôi đi làm, chị tôi đi học thì ở nhà chỉ còn có ba người là anh tôi, tôi và chị giúp việc tên Bốn. Anh tôi lúc đó lên sáu tuổi. Đáng lẽ đã phải đi học rồi, nhưng ba sợ tôi ở nhà một mình cô đơn nên ba bắt anh ở nhà luôn. Ba giao cho anh tập viết và tập làm những bài tính cộng trừ. Tôi lên ba, chỉ biết chơi chớ chưa biết học. Chị Bốn cũng mới chỉ mười hai tuổi, còn ham chơi hơn là làm việc trong bếp. Cả ba người ở nhà cộng lại vừa hơn hai mươi tuổi nên ba tôi căn dặn hễ ba tôi và chị tôi đi khỏi là phải đóng cổng gài chốt lại cẩn thận. Đề phòng chúng tôi chạy ra đường và đề phòng kẻ cắp vào nhà.

Anh tôi hì hục ở bàn học chừng độ mười phút là tay chân đã bắt đầu ngứa ngáy. Anh cất tiếng gọi:

- Thủy ơi!

Tôi dạ.

- Mày ở đâu?

- Em ở sau giếng.

- Mày làm cái gì ngoài đó?

- Em coi con gà nó ấp.

Im lặng một lát. Chắc lúc đó trí óc anh xáo trộn dữ lắm. Nửa muốn ngồi tập viết, nửa muốn chạy ra coi “con gà nó ấp”. Cuối cùng con gà thắng bài tập viết. Anh lê dép đi ra sân sau.

Tôi nói:

- Coi chừng! Không tập viết đủ một trang, chị Bé về đánh đòn đó.

Anh ngần ngừ:

- Ừ, để tao coi một lát rồi tao lên viết.

Một lát có nghĩa là một giờ. Đôi khi hai giờ. Có bữa là luôn cả buổi. Anh bị chị Bé đánh hoài vì tội không kiểm soát được mỗi cái “lát” của mình.

Thỉnh thoảng anh cũng có làm bổn phận một cách đầy đủ. Chẳng hạn làm xong bốn bài tính cộng. Chẳng hạn tập viết xong một trang. Những lúc đó anh đắc thắng bỏ mạnh cây viết xuống bàn rồi cất tiếng gọi tôi:

- Thủy ơi!

Tôi dạ.

- Mày ở đâu?

- Em ở trước sân.

- Chỗ nào?

- Ở gốc cây trứng cá.

- Làm gì ngoài đó?

- Coi hai con chim nó tha rác.

- Đợi tao ra coi với.

- Lo làm tính xong đã.

- Tao làm xong rồi.

Và anh nhảy ra ngồi ở chạng cây trứng cá với tôi. Hết coi chim tha rác, chúng tôi lại nhìn ra dãy xe cộ nối đuôi nhau chạy ngoài đường. Chán nhìn xe cộ, chúng tôi nhìn sang những sân nhà láng giềng. Giữa những cành lá bao vây um tùm, chúng tôi mê mải nhìn sự sinh hoạt của các ngôi nhà trước mặt. Thật là một đài quan sát lý tưởng. Số 48 là nhà của má chị Liên. Má chị sinh một bầy con gái và ba chị làm an lòng bà bằng cách đặt cho các con những cái tên bắt đầu bằng chữ L: Liên, Loan, Lệ, Luận, Lương, Lợi. Có một chút hài hước để đùa lại số mệnh hoặc một chút an vui cam phận.

Số nhà 52 có thằng Hùng, thằng Hạ, con Nhơn. Mỗi lần mẹ chúng nó đi chợ về vừa bước tới cổng là chúng nó chạy ùa ra lục giỏ. Rồi mỗi đứa lãnh một củ khoai hay một trái bắp đi nghêu ngao, vừa cạp vừa múa hát. Tôi nói nhỏ với anh tôi:

- Ăn bắp mà tụi nó không gỡ mấy sợi râu ở đầu.

Anh tôi không trả lời. Tôi lén đưa mắt thì thấy nét mặt anh có vẻ thẫn thờ. Tôi hỏi:

- Anh muốn ăn bắp phải không?

Anh tôi giật mình quay lại:

- Mới ăn xôi hồi sáng còn no. Mà… bắp ở đâu mà ăn?

- Ờ… mình không có má để được ăn bắp như lũ con Nhơn.

- Ba đã dặn mình muốn ăn món chi thì nói chị Bốn mua.

- Chị Bốn chớ đâu phải là má.

Có một sự khác nhau giữa chị Bốn với một người gọi là má, tôi cảm thấy rõ ràng mà không nói được.

Anh tôi gật đầu:

- Ừ, có má sướng hơn có chị Bốn.

Nói chuyện dông dài quên hết thời gian. Có bữa chị Bé đi học về đậu xe trước cổng rồi mà từ cái đài quan sát chúng tôi không hề biết. Chị bấm chuông làm chúng tôi giật mình. Anh tôi lúng túng không biết nên chạy ra mở cổng hay chạy vônhà ngồi trước bàn học. Hoặc chạy vô nhà rồi sau đó mới chạy ra mở cổng, làm như mình vừa chăm chỉ ngồi làm bài. Tôi thì bấn loạn không kém chỉ vì thấy dáng điệu âu lo của anh tôi.

Những năm trôi qua. Từ cái đài quan sát chúng tôi đã chứng kiến sự ra đi của gia đình chị Liên và thay vào bằng gia đình chị Cẩm. Chứng kiến ngôi nhà của ông Nam An đang từ tầng trệt mà xây vượt lên ba tầng, có cửa kính kéo ri-đô đỏ. Chứng kiến sự biến cải của ngôi trường sơ học Đại Trung thành tiệm sửa xe đạp.

Hôm nay thì sự biến đổi xảy đến cho chính cái đài quan sát. Chị tôi và anh tôi đang ở xa, chỉ có mình tôi làm chứng nhân đau khổ.

Ba tôi đã tháo xong mấy đường dây dừa. Ông đang cẩn thận nối chúng lại với nhau thành một đường dây thật dài và thật chắc. Sự cẩn thận tỉ mỉ làm đau xót lòng tôi. Sợi dây này sẽ góp phần để kéo ngã cây trứng cá xuống. Nó đóng vai trò dụng cụ giảo hình.

Hỡi cây trứng cá thân yêu ơi, cây có biết số phận nào đang chờ đợi cây không? Và nếu đã biết rồi thì cây có buồn không? Trongmột chuyện xưa tôi nghe kể có anh em họ Điền kia, sau khi cha mẹ chết đi, vẫn chung sống hòa thuận với nhau trong một ngôi nhà. Nhưng khi người em út cưới vợ thì lại cưới nhằm một ả tham lam lắm điều. Ả giục chồng đòi các anh phải chia gia tài. Người anh cả thuyết phục không được đành phải đem của cải của cha mẹ tổ tiên để lại chia ra thành những phần đều nhau. Chia xong ruộng nương, nhà cửa, chia hết tiền bạc, xanh, chảo, chén bát. Đến cây hòe trước sân, người em dâu út cũng bắt buộc phải chặt ra mà chia. Anh cả năn nỉ giữ lại, nhưng người em út nhất định không chịu. Anh đành hẹn sáng hôm sau sẽ chặt cây mà chia.

Sáng hôm sau anh em tề tựu đông đủ, rìu búa trên tay, nhưng khi đến gốc cây nhìn lên thì cây đã héo chết rồi. Cây không chịu đựng nổi sự chia cắt từng phần, cây thà chịu chết trọn vẹn rồi sau đó mặc kệ cho người muốn làm gì thì làm trên thân xác đó. Cây có linh hồn. Cây có tình có nghĩa. Cây dạy cho người bài học thương yêu. Người anh cả trong truyện lại ngồi ôm gốc cây mà khóc.

Ba tôi leo lên thân cây và buộc một đầu dây vào cành cao nhất. Sau đó chú tôi cầm rựa bổ vào gốc. Lưỡi rựa không được bén tạo nhiều tiếng dội. Và cành lá rung rinh điên đảo.

…Bao nhiêu năm trước đây lá chỉ khẽ rung rinh mỗi khi có gió nhẹ. Ba tôi hay bắc ghế ra nằm dưới bóng cây để đọc sách. Tràng hoa trắng bay rụng trên áo, trên mái tóc, trên trang sách, rụng rải rác trên mặt đất. Ba tôi hứng những cánh hoa mỏng bay rơi lả tả nhẹ nhàng, nâng niu trên bàn tay mà bảo tôi:

- Ở giữa phố thị, không dễ mà có được một cảnh đẹp như thế này, và nghệ thuật sống ở đời là phải biết tận hưởng những lạc thú nhỏ mà mình có. Thường người ta trồng cây trứng cá để tìm bóng mát vì cây mau lớn và cành đâm ngang. Trẻ con thì thích những trái ngọt. Hầu như không ai biết tới những hoa trắng mỏng của nó, mỏng như cánh chuồn. Và với cảnh cánh hoa rơi nhẹ từ cành cao xuống đất như một trận mưa sương.

Những cô bạn đến thăm tôi thường cũng không chú ý đến những cánh hoa trắng mỏng đó. Họ chỉ thấy trái chín. Họ ào ào leo lên hái, có khi năm sáu người thượng lên cây một lượt và tôi phải trao cho mỗi người một túi ni-lông nhỏ để họ đựng trái.

Những tiếng rựa bổ chan chát vào gốc cây. Ba tôi nhắm hướng để sợi dây sẽ kéo thân cây ngã vào giữa sân, tránh đập vào hàng rào và đập vào mái nhà. Tránh cả những luống hoa lài, những bụi trúc, những cành hoa sứ. Khoảng sân thì hẹp mà cây cối thì nhiều, không vì một cây này mà làm bị thương một cây khác.

Khi những nhát rựa của chú tôi bắt đầu rời rạc thì chợt nghe có tiếng răng rắc. Ba tôi nói to:

- Đi giãn ra xa! Coi chừng!

Sợi dây căng đến tột độ. Thân cây trịnh trọng khẽ nghiêng rồi bỗng ngã đánh rầm trong một loáng mắt, nằm sóng sượt giữa sân.

Một khoảng trời xanh chợt hiện ra trên đầu. Một khoảng trống bỡ ngỡ, xa lạ, bất ổn. Chú tôi dùng rựa rong những cành nhỏ, chị Bốn lần lượt lôi bỏ ra vườn sau. Chú tôi hỏi:

- Bây giờ phải chặt ngang ra làm mấy khúc?

Ba tôi đứng nhìn, im lặng suy nghĩ. Rồi ông hỏi lại:

- Để nguyên, khiêng có nổi không?

- Hơi nặng.

- Cố gắng thử coi.

Tôi lại phụ tay với ba tôi, chú tôi và chị Bốn. Sức nặng làm đỏ rần mọi khuôn mặt. Phải nghỉ đến ba chặng mới khiêng được thân cây ra tới sân sau. Tôi đoán vì sao Ba tôi không nỡ để cho cây bị chặt làm nhiều đoạn.

Sau khi dọn dẹp xong, ba tôi lại ngồi một mình trầm ngâm ở ghế sa-lông. Tôi biết ba tôi đang buồn. Một cái cây hiện diện cạnh mình trong nhiều năm trời, sớm chiều quen thuộc, thì tự nhiên mình đã coi như một người bạn trầm lặng. Ngoài ra một cái cây muốn lớn lên phải đòi hỏi nhiều năm cần cù nhẫn nại. Phải dinh dưỡng thường xuyên, cành cây muốn dài thêm một phân phải cần tháng này sang tháng khác. Những công trình nhân tạo như tòa lâu đài đồ sộ, nhà cao ốc chất ngất, như đập nước vĩ đại, con người có thể huy động sức người ra làm mau theo ý muốn, phá vỡ rồi làm lại theo ý muốn. Chớ một cái cây có đời sống độc lập của nó, loài người có thể hạ sát nó mà không thể ép buộc nó phải lớn mau theo ý muốn của loài người. Ba tôi quí trọng cuộc đời của những cây cối một phần chắc là bởi lẽ đó.

Trước đây bảy tám năm, một cây chùm ruột ở vại nước nhà tôi bị héo lá rồi chết khô. Ba tôi buồn nói:

- Cây chùm ruột này, ba lên tận Xuân Lạc xin cây con đem về trồng khi mới làm nhà. Hồi đó má các con còn mạnh. Từ khi má các con mất, đây là lần đầu tiên một cái cây chết ở vườn nhà chúng ta.

Sau cây chùm ruột đến cây ổi xá lị, vì bị hơi nóng đốt rác mà lá rụng dần rồi chết. Sau cây ổi đến một vườn mãng cầu, sa-pô-chê phải chặt đi để làm căn nhà mới. Chắc chắn là tâm hồn của ba tôi không còn bị xúc động nặng như lần đầu tiên nhìn cây chùm ruột chết khô. Khi một tâm hồn đã chằng chịt vết thương thì một vài vết cắt đến sau tự nhiên bớt đi phần cay xót.

Cây trứng cá giữ nhiều kỷ niệm với chúng tôi biết bao! Tôi nhớ những năm chúng tôi còn nhỏ, đến rằm Trung thu ba tôi mua đèn lồng treo trên những cành trứng cá thấp để chúng tôi chơi. Ba tôi lại tự tay ngồi phất những cái lồng đèn thật lớn, hình tròn, đem treo mãi trên đọt cây trứng cá cao, treo rải rác xuống từng cành, biến cây trứng cá thành một cây Nô-en vĩ đại và chúng tôi ngồi dưới gốc cây chong mắt nhìn lên.

Ba tôi chỉ cái đèn tròn lớn nhất:

- Đó là tượng trưng cho mặt trời, trung tâm của Thái dương hệ. Cái đèn tròn nằm ở gần dưới nó, - ba tôi giơ tay chỉ, - là thủy tinh. Cái đèn nằm xa một chút nữa là kim tinh.

Anh tôi ngắt lời:

- Người ta lấy thủy tinh đó để làm cái ly uống nước hở ba?

Ba lắc đầu:

- Không phải. Thủy tinh làm cái ly uống nước là một chất dẻo do hột cát nấu chảy mà thành. Còn thủy tinh của Thái dương hệ là một hành tinh, nghĩa là một khối lớn kiểu như trái đất xoay xung quanh mặt trời.

Tôi không hiểu gì hết về những cái “tinh” đó, về nhiều cái “tinh” nữa mà cha tôi kể tiếp như là hỏa tinh, mộc tinh, thổ tinh, vân vân. Tôi chỉ một cái đèn xếp dài ngoằng hỏi ba tôi:

- Còn cái “tinh” gì kia?

Ba tôi bật cười:

- Cái này không phải là hành tinh. Nó là một cái lồng đèn thường, dễ làm vì chỉ cần xếp giấy lại, bẻ từng lần, dán dính hai mép giấy vào nhau là nó thành một cái đèn tròn. Hồi nhỏ ba hay tự tay xếp cái lồng đèn kiểu đó mà chơi lấy, chớ không phải tốn tiền mua như trẻ con bây giờ.

Tôi lặng lẽ từ phòng khách bước thẩn thờ ra sân, nơi cây trứng cá đứng rậm rạp ngày trước và giờ đây chỉ còn là một khoảng trống cây ô ma thấp, bụi bông lài, mấy nhánh đồi mồi đứng im lìm. Vắng cây trứng cá cố hữu, vắng người bạn láng giềng cao cả uy nghi, những cây nhỏ đó trông có vẻ ngơ ngác lạc loài. Tôi không muốn nhìn cái cảnh đìu hiu trống vắng đó nó làm nhức nhối võng mạc và tâm não tôi. Tôi nhắm mắt lại một phút nhìn lui về ký ức của tôi, nơi đó một cây trứng cá cành lá um tùm đứng vững chãi hiên ngang, mang trên mình những cái lồng đèn sáng rực nhiều kiểu nhiều màu. Và ở dưới gốc cây rõ ràng là có ba chị em chúng tôi, ba đứa nhỏ ngây thơ đang đứng chong mắt nhìn lên.


Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 03 Mar 2015 15:27 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
23 . Từ Giã Tuổi Thơ


Năm giờ chiều ngày thứ bảy. Anh tôi dừng xe trước hiên, bước vào nhà. Tôi vội hỏi có mua được vé không. Anh cười, móc túi sơ mi chìa cho tôi xem hai cái vé màu xanh. Lòng tôi buồn bắt đầu từ giây phút đó. Tôi gượng hỏi:

- Vé ghi chừng nào đi?

- Sáng thứ Ba.

- Mấy giờ?

- Tám giờ.

Nỗi buồn được tăng thêm. Tôi lẩm nhẩm tính. Còn một ngày Chủ Nhật, một ngày thứ Hai. Ngày thứ Ba coi như bỏ. Phải chi anh tôi đi chuyến bay bốn giờ chiều thì chúng tôi có thêm được một buổi sáng. Chúng tôi sẽ cùng chung một bữa ăn trưa. Kéo dài được giây phút nào hay giây phút ấy.

Anh đi vào phòng Ba để báo cáo kết quả với Ba.

- Cô Nhẫn nói chuyến bay bữa thứ Hai đã hết vé. Cô xếp cho con đi sáng thứ Ba.

- Như vậy có trễ không?

- Chị Hằng nói kịp mà.

- Vậy thì được. Sao nghe nói có mấy đứa đã đi vào Sài Gòn cách đây bốn năm ngày rồi?

- Tụi nó nói đi vô sớm cho chắc ăn. Nhưng đi vô sớm quá cũng vô ích thôi. Chưa phát giấy chứng chỉ mà.

- Con nghe nói chừng nào mới phát?

- Họ nói không chắc. Nhưng ít nhất cũng phải 25, 26 tháng này. con cứ đi vô trong đó rồi ở ngoài này Ba đi nhận giùm.

Bữa cơm tối, tôi ăn không được. Ba cũng vậy. Chén cơm của Ba cứ thấy đầy hoài và ba từ chối không cho sớt chén thứ hai. Chỉ có chị tôi là ăn uống vẫn còn ngon lành. Chị đã quen đi học xa nhà nên chị không bị xúc động bao nhiêu. Cách đây ba năm, chị tôi đỗ xong tú tài 2, cũng đi Sài Gòn học như anh tôi hôm nay. Lúc ấy tôi cũng buồn nhưng không buồn như bây giờ. Bởi vì lúc ấy chỉ có một mình chị đi, ở nhà còn có ba người. Bây giờ thì chị tôi và anh tôi cùng đi và ở nhà chỉ còn có Ba và tôi.

Ăn tối xong, chị tôi vô phòng riêng học bài. Chị còn phải lo hai cái chứng chỉ phải thi ở kỳ 2. Tôi và anh tôi ra ngoài sân ngồi ở gốc cây ô ma. Tôi nói:

- Anh đi vô Sài Gòn vui. Em ở ngoài này thui thủi buồn quá.

- Chớ có Ba đó chi?

- Ba đi làm cả ngày.

- Có thằng Cu, thằng Cút con của chú thím đó. Mày chơi với tụi nó cũng được.

- Cố nhiên là phải chơi với tụi nó. Nhưng anh với em, tụi mình sống quây quần với nhau lâu ngày, bây giờ…

Tôi nghẹn ngào không nói tiếp được. Những tiếng tiếp theo, nếu nói lên cũng chắc sẽ làm tôi khóc. Mà tôi thì không muốn khóc. Tôi muốn tỏ ra can đảm, nếu lạnh lùng được thì càng tốt.

Chúng tôi ngồi im lặng. Con đường trước nhà tấp nập những xe cộ. Dãy phố trước mặt sáng choang ánh đèn. Thằng Mạnh, thằng Dần, con Lan, con Thu, thằng Đạt… con của bác Sáu ở trước nhà tôi đang đùa nghịch với nhau trong sân. Trông chúng nó quây quần vui vẻ với nhau mà tôi thấy tủi thân. Mới ngày nào, chị tôi, anh tôi và tôi cũng quây quần đùa nghịch trước sân như vậy. Thời gian đi mau quá, thoáng chốc mà chúng tôi đã lớn. Giá biết rằng lớn lên sẽ phải chia ly như thế này thì tôi thích cứ được nhỏ mãi như vậy hơn.

Con Bobby nhà tôi nhảy vờn đùa nghịch với con chó Vàng của nhà chị Điển. Chúng nhảy chồm lên nhau, lôi cẳng nhau, vật nhau nằm ngã ngửa. Cuộc vui đùa diễn ra trong sự im lặng, tôi có cảm tưởng mình đang coi một phim câm.

Tôi lén đưa mắt nhìn lên vẻ mặt của anh tôi, thấy anh cũng đang theo dõi cuộc đùa nghịch của hai con chó. Chắc lòng anh buồn lắm bởi vài ngày nữa anh sẽ không còn được nhìn chúng nó đùa giỡn như vậy. Anh sẽ tới ở một ngôi nhà xa lạ nào đó, giữa một thành phố xa lạ và ồn ào. Anh sẽ tiếp xúc với những người lạ mặt trong nhà, với những người bạn học mới nơi ngôi trường mà anh sẽ ghi tên học. So với nỗi buồn của tôi, chắc nỗi buồn của anh lớn hơn. Vừa buồn vừa lo. Nếu không vì bổn phận thì tôi chắc vào trường hợp đó ai cũng muốn chùn lại.

Tôi chợt thấy thương anh tôi và tôi nghĩ: mình nên làm chocan đảm. Tôi bắt đầu liền. Tôi nói:

- Vô Sài Gòn, chắc anh diện ngon lắm. Chiều thứ Bảy, tha hồ đi lả lướt ở đường Lê Lợi.

- Sức mấy mà lả lướt? Học chết cha.

- Em nói chiều thứ Bảy, chiều Chủ Nhật mà.

- Phải học bù đầu để thi vô mấy phân khoa.

- Anh gắng thi cho được một cái học bổng xuất ngoại.

- Cái đó hơi phiêu lưu. Sinh ngữ phải xuất sắc lắm mới địch nổi tụi nó.

- Tại anh u mê. Đáng lẽ thi Tú tài 2 anh đỗ Ưu để có thêm điểm khi thi học bổng. Còn Tú tài 1 thì đỗ xoàng xoàng cũng được. Đằng này anh làm ngược lại, đỗ Tú tài 1 thì Ưu còn qua Tú tài 2 thì chỉ đỗ Bình thứ.

Ý kiến đó là ý kiến của Ba tôi, tôi chỉ lặp lại. Ba tôi tặc lưỡi mấy lần, miệng nói:

- U mê! Thằng u mê!

Tôi tiếp:

- Tuy vậy mà em vẫn cứ hy vọng như thường. Biết đâu chó ngáp phải ruồi.

Anh tôi cung một ngón tay cốc vào đầu tôi:

- Mày nói hỗn vậy hả?

- Uở, em nói con chó chớ phải nói anh đâu?

- Mày nói con chó là tao.

- Em không muốn nói vậy. Em muốn ví anh với một con sư tử chẳng hạn, cho oai, nhưng biết con sư tử nó ngáp trúng cái gì? Một con ong chăng? Không thấy có câu tục ngữ nào nói vậy.

Bóng tối núp ở trong những tàn cây. Tiếng bà hàng xóm kêu con:

- Luân ơi! Lý ơi! Về mẹ rửa chân rửa tay rồi đi ngủ con.

Tiếng kêu con là một thứ tiếng hay lây. Bác Hy gái cũng đứng trong nhà gọi với:

- Thưởng ơi! Đi về con. Mợ đóng cổng bây giờ.

Những giọng nói trao đổi với nhau giữa những người trong gia đình thật êm đềm. Nhất là giọng của người mẹ. Tôi nói với anh:

- Ước chi anh được đi ngoại quốc. Em sẽ buồn hơn vì phải xa anh lâu hơn nhưng mà em sẽ khoái. Nếu đi ngoại quốc thì phải đi trong bao lâu?

Anh tôi ngẫm nghĩ:

- Ít nhất cũng phải năm năm. Tùy ngành mình học.

- Thế năm năm là ngành gì?

- Nếu học kỹ sư thì khoảng năm năm. Học y khoa thì lâu hơn.

- Như vậy là anh thích học kỹ sư.

- Ai nói với mày?

- Anh. Anh vừa nói đó. Anh nói ít nhất cũng phải năm năm.

- Hẳn nhiên là tao thích, tao không chối, nhưng đã chắc chi thi vô đỗ. Còn chuyện xuất ngoại học bổng là chuyện… của mày, mày mơ ước chứ tao không hy vọng.

- Phải hy vọng chớ. Năm xưa anh đọc trong cái bài gì đó cónào nói đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà…

Anh tôi ngắt lời:

- Ông Nguyễn Bá Học. Nhưng cái khó có trăm loại. Cái khó do thiên nhiên gây trở ngại tao không sợ, tao có thể chế ngự, khắc phục. Cái khó do loài người bày ra thì … hơi khó. Sự khắc phục không từ nơi tài trí mình và ý chí của mình.

Anh im lặng một lát. Rồi chợt trầm giọng:

- Mày ở nhà phải lưu ý săn sóc Ba. Trúng chị ở làm biếng mà Ba thì không chịu sai chị ta làm việc.

- Ổng biết gì mà sai?

- Chính vì thế mà mày trở nên cần thiết cho Ba. Phải bày chị ta nấu món ăn cho ngon.

- Cái đó thì em dốt luôn. Có món măng khô hầm thịt bữa nọ bác Hoàng Mai biếu, Ba khen ngon. Hỏi chị ở biết nấu không thì chị mù tịt. Em phải lên bác nhờ bác bày nấu.

- Càng hay chớ sao. Mày nhờ đó mà trở nên một tay đầu bếp thiện nghệ.

- Nhưng em còn phải lo học. Chương trình năm nay nặng gãy cổ. Học bù đầu sợ cũng không kịp.

- Phải vừa học vừa làm việc nhà. Không bắt buộc mày phải học gia chánh nấu nướng nhưng có nhiều việc khác nhẹ hơn cần đến con mắt của mày. Chẳng hạn quần áo chăn màn của Ba, bắt chị giặt giũ sạch sẽ. Phòng ba, bắt lau thường xuyên. Cây cối trong vườn, lo tưới.

- Săn sóc cây cối đâu có nghĩa là săn sóc Ba?

- Sao lại không? Phải cho cây nó nở hoa để ổng nhìn, vui con mắt. Cho cây ra trái để bữa ăn có món tráng miệng “của vườn nhà”.

- Còn lâu chị ở mới chịu tưới cây. Thời nay người ở đòi hỏi phân công rành mạch. Làm bếp thì đừng hòng bắt họ giặt giũ. Làm cô sen thì khỏi nói chuyện bế em. Tưới cây là công việc của người làm vườn.

Anh tôi cười

- Mấy năm nay tao làm công việc của “người làm vuờn” mà không hề biết. Bây giờ tao sớt chức vụ lại cho mày đó.

- Dễ chưa!

Tôi cười theo anh tôi và nỗi buồn như nhẹ hẫng đi trong phút chốc. Mười mấy năm qua sống cạnh nhau, chúng tôi hay phân công cho nhau mỗi người làm một việc. Hồi tôi lên năm, sáu tuổi, chị tôi coi sóc áo quần, mạng chỗ rách, đính hột nút và dọn dẹp trong nhà. Anh tôi phụ trách tưới bồn hoa trước sân. Tôi lêu bêu. Khi tôi lên chín, mười tuổi, tôi được đặc trách lau bàn và xếp giường cho Ba. Đáng lẽ chị ở lo, nhưng tính Ba lơ đễnh tiền bỏ tứ tung, trong hộc bàn, đè dưới cuốn sách, vung vãi trên giường. Anh tôi được kiêm thêm việc bơm xe, kêu thợ điện, thợ ống nước. Ba bắt anh giữ cuốn sổ tay trong đó ghi những địa chỉ cần thiết đó. Chị tôi thì thêm mục trang hoàng nhà cửa. Việc này coi ra thong thả mà lại được lợi. Chị mua màn, mua rèm, mua hoa và tụi tôi nhờ đó mà có nhiều tiền ăn cà rem, uống nước trái cây sinh tố, ăn chè có trái táo Tàu. Khi chị tôi đi học xa thì mặc nhiên tôi phải lãnh trách nhiệm. Vội quá không kịp có cuộc phân công lại và không có sự bàn giao. Tôi lúng túng một thời gian trong việc mua sắm, trả giá, lựa hàng. Người bán thách giá quá cao, năm lần cao hơn thực giá. Tôi không biết, cứ đem giá đó chia hai, và thế là tôi bị hớ. Họ nói láo không thua cái thằng nào đó trong truyện cổ tích. Và họ dữ tợn nữa. Trả lời chậm chạp, lật coi món hàng hơi kỹ là bị mắng liền. Nụ cười và lời nói lễ độ họ để dành tiếp các khách hàng người lớn. Tôi xính vính ngơ ngác như một con cừu giữa bầy sói. May thay, kinh nghiệm theo nhau và nay, khi tôi đã thay được chị tôi một cách bình an thì tới lúc anh tôi đi, gây nên xáo trộn. Công việc sẽ nặng hơn và cứ nghĩ rằng tôi sắp đóng vai quản gia, tôi, một con bé mười lăm tuổi, tôi thú thật thấy mình hơi run. Bởi vì tôi không có ai để làm cố vấn cho tôi hết. Trước đây, anh tôi chị tôi làm phận sự mình một cách thong thả là bởi hễ có cái chi nghi ngại là ba chị em đem ra bàn bạc. Bàn bạc quyết định xong, đến khi thực hiện mà có hỏng thì coi như cả ba chịu chung. Không có ai bị trách cứ hết. Nay đến phiên tôi một mình một cõi, ngó trước nhìn sau không có ai để cùng bàn bạc. Đã thế, một mình lại phải kiêm nhiệm công việc của ba người!


Thật ra, vào lúc này tôi không quan tâm bao nhiêu đến công việc nặng nhọc sẽ đợi chờ tôi mà tôi chỉ nghĩ đến nỗi buồn xa cách. Anh tôi nói:

- Thôi tao vô xếp vali. Để mai mốt lật đật bỏ quên bỏ sót.

Tôi ngồi lại bàn, mở trang sách học. Chữ nhảy múa trước mắt tôi. Chúng cứ nối đuôi nhau chạy trốn, chạy dạt về một bên, chạy ngược lại, rung rinh. Tôi bỏ sách lên giường nằm.

Ngày Chủ Nhật, chú thím sai làm tiệc thịt vịt để đãi anh. Tôi cũng có dự bữa tiệc nhưng ăn không thấy ngon. Ba tôi cũng vậy. Ba lúi húi ở trên bàn để viết liên tiếp nhiều bức thư. Chắc là để gửi gắm anh tôi cho những chỗ quen. Ngoài những lúc viết thư, Ba tôi hay nằm trong giường. Tôi biết là Ba tôi buồn. Tôi mong thì giờ chạy đi thật chậm, ngày cứ kéo dài ra, nhưng mới thoáng đó đã tới trưa rồi thoáng đó đã tới chiều. Anh tôi thì xách xe chạy liên miên. Có nhiều món phải trả phải đòi: dăm cái đĩa hát, cái mỏ hàn, những quyển sách…

Tôi nhìn căn nhà vắng. Lạ thật, ngày thường cũng có nhiều lúc anh đi vắng nhưng tôi không cảm thấy sự trống trải cô liêu như hôm nay. Tôi biết lát nữa anh sẽ về, tiếng xe nổ rồ rồ quày vào sân, tiếng còi ọe ọe và tiếng cánh cửa reo leng keng. Tiếng giày của anh sẽ siết trên hiên, cái dáng cao cao của anh hiện ra giữa khung cửa… bao nhiêu tiếng động và hình ảnh quen thuộc đó tôi sẽ còn nghe còn thấy nhưng không hiểu sao tôi vẫn cứ cảm xúc nỗi đìu hiu rộng lớn trong tâm hồn.

Bao nhiêu dấu vết sinh hoạt của anh đều thu gọn lại. Dãy sách học của anh thường ngày xếp đứng thành hàng trên bàn, nay đã biến mất. Anh xếp chúng vào thùng và chỉ cho tôi :

- Sách đệ Nhất tao bỏ hết vào cái thùng này đây. Khi nào mày học đệ Nhất thì khui ra.

Tôi không thích nghe anh nhắc đến những năm sắp tới. Tôi thấy thời gian thật dễ ghét và tôi cứ muốn sự việc ngừng lại nơi đây, dẫu không vĩnh viễn thì cũng lướt qua một cách thật chậm

- Thùng sách đệ Nhị thì ở trên gác. Mày nhớ lâu lâu coi chừng kẻo chuột nó gặm.

- Nó ăn chi cái thùng gỗ?

- Nó không ăn gỗ cũng như mày chỉ thích ăn cam và ăn táo, nhưng nó lại phải gặm gỗ để mài răng cho mòn bớt. Khi nó đã khoét được một lỗ để chui vào giữa thùng thì coi như cái thùng biến thành nhà hộ sinh của nó.

Thật không gì buồn bằng cứ nhìn cái vali dựng đứng cạnh cái sắc PAA màu xanh. Buổi chiều thứ Hai thì có thêm một cái giỏ đứng kề. Trên bàn học của anh tôi thấy sắp chồng chất đến bốn ký mực khô bọc trong bao ni lông, năm chai rượu, quà biếu những chỗ quen của Ba. Ngày thường ở nhà, ngoài những giờ học bài hay làm bài, anh hay bày ngổn ngang xung quanh anh những loa, những bóng đèn ra đi ô, những bộ phận máy khuếch đại âm thanh lục cục đủ cỡ lớn nhỏ, những dòng dây điện đủ màu, anh hí hoáy hàn, vặn, tháo, ráp. Bây giờ thì những món đồ chơi ngổn ngang đó anh xếp dẹp hết vào một thùng khác.

Tôi mở cánh cửa tủ áo của anh. Một dãy móc áo bỏ không và cái ngăn tủ trống hoang. Tôi đứng nhìn mà cơ hồ nước mắt muốn chảy. Tôi thử tìm hiểu vì sao sự vắng thiếu nơi cái tủ áo xúc động tôi nhiều hơn cái tủ sách hay cái bàn viết. Có lẽ tại áo quần dành riêng cho một người, trở thành bộ phận thân thiết của một người nên nhìn nó tự nhiên ta nghĩ đến đó. Quyển sách không được tạo ra theo kích thước của người dùng. Đặt vào tay ai cũng vừa.

Buổi tối thứ Hai, anh tôi căn dặn những chi tiết quan trọng cuối cùng. Anh nói:

- Có mấy việc này hay quấy rầy Ba hơn cả, mày phải ghi nhớ. Tao biên cho mày mấy cái địa chỉ...

Anh xé một tờ giấy hí hoáy biên rồi chợt ngẩng lên:

- Mà cũng không được. Biên trên tờ giấy thì mày đánh lạc. Biên trên cuốn vở thì mày lẫn lộn cuốn này với cuốn khác. Thôi được, tao biên luôn lên lưng cuốn lịch đây. Hồi nào rảnh mày nhớ chép lại vô một cuốn sổ tay.

Anh tôi đi lại lật tấm lịch lớn treo tường.

- Ông Khiêm thợ điện ở trong hẻm số 1 đường Gia Long. Biết đường Gia Long không?

- Đường Gia Long thì biết, hẻm thì không.

- Ở dưới này đi lên thì cái hẻm đầu tiên kề trường Hưng Đạo.

- Biết vậy được rồi. Tới đó mình hỏi.

- Ống nước có nghẹt thì lên ông Rồng. Số 7 đường Mạnh Tử. Nếu ông Rồng đi vắng thì ghé lại hiệu xe đạp Phương Sài nhờ ông thầy Thức nhắn kêu giùm người thợ ống nước quen của ổng.

- Nhớ rồi.

- Ông thợ khóa ở 22 bis Trịnh Phong. Ông thợ tủ lạnh ở 84 Hà Thanh.

Tôi gật đầu.

- Cần thợ mộc thì ghé ông Lược ở Nguyễn Trãi.

- Em biết ông đó.

- … hoặc ông Bảng ở đường Hồng Bàng. Quét nước vôi thì anh thợ Sáu ở gần tiệm sách Hồng Lĩnh.

Vân vân. Danh sách kéo dài như bản tấn phong nội các.

Chín giờ tối. Ba tôi gọi riêng anh vào phòng. Cửa phòng khép kín lại và hai cha con nói chuyện gì trong đó. Tôi vừa ngồi học vừa sốt ruột nhìn cánh cửa đóng im ỉm.

Mãi hơn một giờ sau mới thấy anh nhẹ nhàng mở cửa đi ra, vẻ mặt trầm ngâm im lặng. Tôi đưa mắt ra hiệu hỏi anh có chuyện gì đó thì anh chỉ mỉm cười lắc đầu. Tôi đoán câu chuyện Ba nói với anh là những câu dặn dò quan trọng khiến anh phải suy nghĩ. Ừ, anh đã lớn rồi mà. Mười tám tuổi là tuổi thành niên và ngày mai anh sẽ xa gia đình, thoát ra ngoài tầm tay bảo bọc và đôi mắt trông chừng của Ba tôi. Anh không còn thường xuyên nghe lời dạy bảo của Ba nên Ba phải dồn hết những điều cần dặn dò mà trao trọn cho anh trong một giờ đối thoại.

Trông vẻ mặt nghiêm trang của anh mà tội nghiệp. Chừng như mới trong vài ngày mà anh bỗng lớn hẳn lên, lớn lên, nghiêm trang, trở nên quan trọng. Trước đây một tháng, trước đây một tuần, chúng tôi còn trẻ hơn biết bao. Làm trẻ con, ăn chơi đùa nghịch không biết lo, thật là thong thả dễ chịu. Như thằng Cút con của chú thím tôi, hết chạy đuổi theo một con dế đến ghếch mắt đứng nhìn ra đường. Cái gì cũng làm cho nó háo hức say mê được. Một tiếng rao cà rem…. Một tiếng còi hụ kéo dài của chiếc xe Cảnh Sát chạy qua đường… một cái diều bằng giấy của đứa trẻ nào thả bay trên trời cao, đôi dải đuôi dài lòng thòng lượn lăn tăn theo gió. Nó không lo, không nhớ, không tính toán, không sắp đặt gì hết trong óc, không bổn phận.

Tối đó chúng tôi thức thật khuya. Không biết chuyện gì để nói nữa. Phải lôi những chuyện xưa thật xưa, cách đây cả hàng mườinăm.

Đêm im lặng ở ngoài trời, chỉ xa xa ở nơi mạn đường Lê Văn Duyệt có tiếng xe jeep chạy vội vã. Chắc là xe Cảnh sát đi tuần. Tôi mở cửa bước ra sân. Tấm bảng hiệu “trường sơ học tư thục Đại Trung” của bác Sáu nổi bật trong sự vắng lặng. Ngày thường tôi không để ý nhìn kỹ bởi sự chú ý của tôi thường dồn vào lũ học trò tụ họp chơi đùa làm ồn ở sân trường. Trong sự im vắng của đêm nay, màu đỏ và màu vàng của những nét chữ bất động như tăng thêm niềm cô đơn. Tội nghiệp thay là những tĩnh vật. Mỗi ngày mỗi hoen úa, mỗi tàn phai, màu sắc mờ đi, mưa gió gặm mòn đi, những hàng chữ không còn sắc sảo rộn rã như ngày chúng mới trình diện lần đầu.

Có tiếng chân xèn xẹt sau lưng. Anh tôi đã theo tôi bước ra sân hồi nào. Tôi nói:

- Sao anh không đi ngủ đi? Để mai dậy sớm.

- Tao không thấy buồn ngủ. Vả lại, mai tám giờ mới lên ga. Ít nhất cũng tám giờ rưỡi mới lên xe ca.

Tôi không biết nói gì thêm. Aùnh đèn ở cửa sổ phòng Ba tôi chiếu xuống sân thành một khoảng ánh sáng hình chữ nhật, gãy đôi ở ngang dãy bụi hoa lài:

- Ba sẽ rầy nếu biết giờ này anh còn thức.

- Để cho ổng rầy “cú” chót. Ngày mai…

Anh tôi không nỡ nói hết câu, tôi chắc vậy. Chắc anh có chút hối hận. Không ai nỡ nói đùa về một người cha đang cô đơn. Riêng tôi lúc đó, khi nghĩ về Ba tôi, tôi thấy trái tim tôi như chợt mềm đi.

- Ừ, mà cũng nên đi ngủ sớm, giọng anh tôi nói nhỏ lại. Ngày mai mày còn phải đi học mà.

Vào giường, tôi cố giữ im lặng và lạ thay, khi quyết tâm giữ im lặng thì nhiều chuyện muốn nói lại cứ nhảy ra trong óc. Có lẽ anh tôi cũng cùng một tâm trạng như vậy. Tôi cứ để cho trí óc lững thững đi về những nẻo của quá khứ, từ gần đến xa. Quá khứ trong đó có thêm anh tôi. Quá khứ trong đó có đủ anh chị và Ba tôi. Trong đôi mắt nhắm, quá khứ mở ra, sáng rỡ và lặng lẽ, có lúc sự vận động chậm rãi, có lúc hối hả quay cuồng và trên cái gối êm đềm của những kỷ niệm, tôi đã ngủ lúc nào không hay.

Buổi sáng hôm sau cả nhà hối hả trong những việc sửa soạn cuối cùng. Tiếng hỏi, tiếng trả lời, tiếng gót giày gõ trên sàn nhà, tiếng những cánh cửa tủ, những cái ngăn kéo mở ra đóng vào, những cặp chân bước hấp tấp, những dáng người chạy lên chạy xuống… làm rộn ràng khối óc khiến không ai còn đủ bình tĩnh để mà buồn nữa. Khi vali, giỏ xách đã chất đủ lên xe, chị tôi lên ngồi trước. Ba đứng cạnh anh tôi, vẻ mặt nghiêm và buồn. Ông nhìn xuống đồng hồ rồi nói nhỏ:

- Thôi con đi

Vừa nói ông vừa đưa bàn tay cho anh tôi. Cử chỉ bất ngờ làm tôi ngạc nhiên và anh tôi lúng túng. Rõ ràng là Ba đã coi anh là người lớn. Tôi thấy anh dồn hết sức lực vào cánh tay, vào bàn tay để bắt tay Ba. Hai người lặng lẽ nhìn nhau.

Tôi vội vàng nhìn xuống đất. Bởi tôi có cảm giác rằng có hai giọt nước mắt đang vội vàng chạy xuống đọng ở hai khóe mắt của tôi.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 03 Mar 2015 15:30 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
24 . Không Coi Thường Khuyết Điểm Nhỏ


Ở lớp tôi có hai nữ sinh và một nam sinh ở Bắc vào là Phúc, Ánh Tuyết, Dũng. Các bạn quen miệng gọi là "Bộ đội". Như hôm nhốn nháo chạy tìm cuốn sổ biên bản:

- Hôm qua ai giữ quyển sổ biên bản của lớp?

- Ánh Tuyết.

- Ánh Tuyết nào?

- Ánh Tuyết "Bộ đội".

Ðể phân biệt với một Ánh Tuyết khác miền Nam, nói giọng miền Nam.

Thỉnh thoảng có đứa liến láu, gọi bạn không bằng tên mà bằng "Bộ đội":

- Ê, Bộ đội. Chiều hôm qua đi xem phim "Sáu người đi khắp thế gian" ở rạp Hưng Ðạo phải không?

Nam sinh thường không thèm chấp. Nữ sinh có tỏ vẻ không bằng lòng, nhưng không nói ra. Thú thật, tôi thỉnh thoảng cũng có gọi thằng Dũng theo cái lối:

- Ê Dũng "bộ đội" mai chủ nhật đi tắm biển nghe.

Và Dũng cứ thân mật quay lại bảo tôi:

- Ngày mai tớ bận. Chú tớ ở Xà Goòng ra thăm. Cậu chịu khó đi một mình.

Thầy Nghĩa vẫn thường khuyên chúng tôi đừng dùng chữ "bộ đội" để gọi các bạn. Khi cần nói đến các học sinh ở miền Bắc, thầy lịch sự dùng chữ "các học sinh ở A vào" để tránh nhắc đến chữ miền Bắc miền Nam. Như khi khuyến khích các học sinh theo học lớp Anh văn, thầy nói:

- Những em ở A vào, thiếu căn bản Anh văn, nên theo học một cách chuyên cần phụ đạo Anh văn do Trường mở vào chiều thứ Tư và thứ Sáu!

Sau này các thông báo của nhà trường hay dùng chữ "Ở các tỉnh phía Bắc" và "Ở các tỉnh phía Nam". Danh từ miền Bắc và miền Nam dần dần lu mờ.

Các bạn ở A vào của chúng tôi có một đặc điểm chung là làm công tác rất tháo vát. Trồng cây, quét lớp, đi cổ động... việc gì nhà trường giao, các bạn cũng làm tận tình. Hôm lớp tôi được phân công làm hố nhảy xa, Phúc, Ánh Tuyết đều mang cuốc xẻng đầy đủ. Ráp tay vào việc, Phúc xắn quần cầm xẻng xúc cát, quăng cát mạnh bạo như con trai. Ánh Tuyết cũng vậy. Mồ hôi chảy nhễ nhại trên mặt nhưng không chịu nghỉ. Chúng tôi cũng hì hục đào, xúc vừa pha trò vui vẻ với nhau.

- Ở ngoài A có đào hố, xúc cát như vầy không bạn?

- Có chứ. Học sinh tự tay làm lắm việc lắm chứ. Nhiều nơi thầy trò tự xây cất trường lấy.

- Nhiều nơi, nhưng chắc không phải trường của bạn.

- Vâng. Trường của mình thì có đào ao thả cá.

- Rồi ai cho cá ăn?

- Có chứ. Chia ra từng tổ, có tổ lo chăm sóc cá, có tổ làm gạch, có tổ vớt bèo nuôi lợn.

Thằng Ðại chỉ cái bụng to của thằng Giảng:

- Thằng này mà nuôi heo thì heo mập cả tạ.

Cả bọn cười rúc rích. Thằng Giảng mập, bụng to, hai má nung núc, chúng tôi hay đùa là thằng Giảng heo.

Ánh Tuyết nghiêm trang:

- Sao lại đùa với bạn thế?

Trong khi chúng tôi đổ mồ hôi thì con Yến cầm cuốc đứng nhìn, chu dài mỏ phê bình:

- Khéo lựa cái chỗ này để làm hố nhảy! Ðất hẹp mà cây cối tùm lum.

Giáng Châu đứng gần đó giải thích:

- Tại sân trường hẹp đành chịu. Ban Thể dục phải chọn mãi mới quyết định lấy chỗ này.

- Sao không lấy đoạn kia?

- Gần nhà tiêu. Thì... Mà sao không kiếm một cái xe cút-kít để chở cát cho nhẹ. Xúc cát rồi bê đi tìm xẻng, nặng nhọc quá.

- Xe cút-kít đâu có mà kiếm?

- Thiếu gì.

- Thiếu gì thì sao Yến không kiếm mượn cho Trường một cái?

- Xì, việc của Trường thì Trường lo.

- Sao lại việc của Trường? Việc của mình chớ sao việc của Trường? Vả lại, Trường của ai? Chủ yếu là mình, lực lượng chính là mình, rồi mới đến các Thầy, Cô, mới đến Ban Giám hiệu.

- Xì, hố nhảy. Bày đặt. Nhảy dở ẹc.

- Vì nhảy dở nên mới gấp làm hố nhảy để có chỗ tập.

- Xì.

Yến xì khắp nơi, bí ngõ này thì xì sang ngõ khác, chân đứng tréo và tay cầm xẻng. Ðể tăng thêm sự an lạc, nàng dựa lưng luôn lên một thân me tây.

Trong lớp chúng tôi có đôi ba đứa lánh việc rất tài như kiểu nàng Yến. Còn tía lia cái miệng thì khá đông; Về mặt lắm lời thì nàng Phúc không thua, tốc độ phát ngôn thuộc hàng cao thủ. Ánh Tuyết thì trầm lặng ít nói. Ngồi cạnh con Yến chuyên môn dùng chữ "bộ đội", cô ta âm thầm khó chịu. Thằng Dũng thì tỉnh bơ. Nó sinh hoạt sát với lũ chúng tôi, mục nào cũng có nó tham dự. Ðào đất thì nó đào khỏe. Nó bảo tôi:

- Tao thích giồng cây. Hồi ở ngoài quê, một mình tao giồng cả một vườn na cho bố tao. Cây na ở trong này chúng mày gọi bằng cây gì ấy mà...

- Cây mãng cầu.

- Ở trong này có nhiều cái tên gọi khác ngoài tao. Lúc đầu mợ tao đi chợ cứ ngẩn người ra, bảo gì cô bán hàng cũng không hiểu. Cái bánh đa mày gọi là bánh gì?

- Bánh tráng.

- Ờ bánh tráng.

Tôi hỏi lại:

- Mày có thích miền Nam không?

- Thích chứ. Nam Bắc một nhà.

- Nhưng tụi nó hay kêu mày là bộ đội.

- Chúng nó đùa ấy mà. Bạn bè thì có đùa mới vui.

Dũng lý luận vậy mà đúng. Cuối học kỳ I danh từ bộ đội lác đác còn nghe nhưng người nói không thấy hứng thú nữa. Ðã nhàm quá rồi.

Thầy Nghĩa bảo tôi:

- Có đôi em thích a dua, ưa bắt chước mà không phân biệt cái nào đáng bắt chước cái nào không. Thường thì ưa bắt chước cái rởm, cái nhảm nhí, cái hình thức. Từng thời kỳ có mốt áo quá dài rồi quá ngắn, sơ mi màu tím rồi sơ mi ca-rô. Có em học đòi, bạ chữ nào cũng dùng chữ tếu, dùng đúng nghĩa và dùng sai nghĩa, một giờ nói chuyện dùng đến mươi lần. Một số tiếng chửi thề, một số danh từ thời thượng...

Tôi biết có những danh từ thời thượng thịnh hành từng thời kỳ. Nha Trang ảnh hưởng của Sài Gòn. Sài Gòn sản xuất danh từ, chuyên chở ra Nha Trang rồi từ đó quảng bá đi Ninh Hòa, Diên Khánh, Cam Ranh, Tuy Hòa... Học sinh dốt, lười, hỗn là những người dùng danh từ nhập cảng đầu tiên, dùng với vẻ hãnh diện, ta đây. Thời trước đó: Cùi, bỏ đi Tám, gồ, sức mấy... gần đây có: mút mùa, mút mùa lệ thủy, be, dỏm, chôm chỉa, mánh mung, quậy...

- Bắt chước những gì thời thượng là tự nguyện làm nô lệ, là tự tố cáo đầu óc mình rỗng tuếch. Các em nên thân mật và khéo léo giúp nhau, sửa những khuyết điểm khi chúng mới manh nha. Người có khuyết điểm thường không tự biết mà chỉ kẻ bàng quang mới thấy.

Ðúng vậy. Tôi quen tật hễ có ý kiến là nói chớ không giơ tay xin phép trước. Và nói là nói chớ không mở đầu bằng "Thưa Thầy". Thằng Anh nhắc chừng tôi độ mươi lần tôi mới nhớ

- Có những khuyết điểm mắc phải từ lâu ngày đã trở thành tật. Bạn bè cần kiên trì giúp nhau sửa. Như có em hay ngậm đầu bút, có em đi và ngồi lưng còng như con tôm, có em khi nói chuyện hay nhún vai hay bĩu môi, có em đi hay lê dép xềnh xệch, có em ngồi đâu là rung đùi như bị giật gân. Ði từ việc bỏ hẳn không dùng danh từ "bộ đội" để gọi các bạn, các em tiến tới xây dựng cho nhau những cung cách tốt trong lời nói trong cử chỉ để rồi từ đó tiến xa hơn, trong nếp suy nghĩ, trong quan niệm. Các em có hiểu ý của thầy không?

- Dạ có.

- Có ạ.

- Các em có đồng ý với thầy không?

- Dạ đồng ý.

- Dạ đồng ý ạ.

Tôi giơ tay (tiến bộ quá) xin nói:

- Thưa thầy (lại tiến bộ nữa!), xin đề nghị lớp mình bắt tay ngay vào việc mà thầy vừa nói. Nghĩa là... (Bận nhớ đến việc giơ tay và thưa thầy, tôi quên mất những chữ đang sắp đặt định nói)... Mình áp dụng ngay...

Thầy cười:

- Tiến có ý kiến hay đấy. Các em nghĩ sao?

- Dạ đồng ý.

- Ðồng ý ạ.

- Vậy thì bắt đầu từ thứ Hai này, lớp mình tổ chức một tuần lễ "chỉnh phong". Chỉnh phong nghĩa là chỉnh đốn tác phong. Mỗi người đều tích cực tham gia, sửa giúp bạn mình và tự mình sửa cho mình khi nghe bạn góp ý. Các em có đồng ý không, nếu đồng ý thì giơ tay.

Cả lớp giơ tay đều răm rắp.

Không đợi đến thứ Hai. Giờ ra chơi, con Hòa đã bày cho con Út chữa bệnh còng lưng:

- Mày nhớ cứ một lát thì vòng hai cánh tay ra sau lưng và ưỡn ngực ra trước. Hai bàn tay phải nắm lấy nhau như thế này (Nó biểu diễn ngay cho bạn thấy). Khi ra sân đứng chơi cũng nhớ thỉnh thoảng vòng tay ra sau lưng như vậy. Dáng đứng tự nhiên lắm chớ không giống như tập thể dục đâu mà mắc cỡ. Nào, thực hành đi.

Con Út ngoan ngoãn làm theo.

Ở trên bục trước bảng đen, thằng Thế gạch một đường phấn dài và bắt thằng Sanh phải đi tới, đặt bàn chân đúng vào đường gạch. Nó giải thích:

- Mày đi chân chữ bát. Muốn chữa thì dẫu đi ngoài đường cũng tưởng tượng có một đường gạch thẳng như vậy và hai bàn chân phải liên tiếp đặt đúng vào đường gạch.

Ở một góc phòng thằng Dũng và thằng Lưu cãi nhau về phương pháp chỉnh đốn ngôn ngữ. Thằng Dũng nói:

- Ðồng ý là tao hay dùng chữ bỏ mẹ là bậy, như ông đánh bỏ mẹ, sợ bỏ mẹ, ngã một cái bỏ mẹ, thối bỏ mẹ... nhưng mày chữa bằng cách bảo tao lặp lại "Tôi không nói bỏ mẹ nữa" 3 lần rồi 5 lần thì nhảm quá.

Thằng Lưu cãi:

- Tao bắt chước cô giáo dạy tao hồi lớp 3. Ngồi nói chuyện trong lớp thì cô bắt chép phạt 50 lần "Tôi không nói chuyện trong lớp nữa".

Trong suốt tuần lễ sau chúng tôi lại ồ ạt sửa chữa và tự sửa chữa không khí trong lớp vui không thể tả. Trong một bài ngụ ngôn, có ông tác giả nào đó viết rằng mỗi con người có mang hai cái túi, cái túi trước mặt (dễ thấy) đựng những khuyết điểm của người khác, cái túi sau lưng (khó thấy) đựng những khuyết điểm của mình. Tôi thành thật muốn đổi cái túi đằng sau mang ra đằng trước để thường xuyên nhìn thấy những khuyết diểm mà sửa chữa.


Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 03 Mar 2015 15:36 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
25 . Người Bạn Nhỏ Tên Tô


Tố Phượng ôm con chó đến tặng tôi nhằm lúc tôi đi vắng nhiều ngày. Về nhà nghe kể lại nó nhớ mẹ kêu khóc cả đêm trong buồng tắm. Phải hai đêm kêu khóc tuyệt vọng như vậy, vừa lò dò đi tìm mẹ mà không có lối ra, nó mới chịu im và chịu ăn. Đành giã từ quá khứ, vĩnh biệt quá khứ, quên đi quá khứ để chấp nhận cuộc đời mới trong khung cảnh mới.

Đứa con út của chú tôi là người đỡ đầu bồng bế nâng niu nó. Hôm tôi về nhà em bồng nó lên giới thiệu:

- Đây, bé Tô.

Tôi hỏi:

- Ai đặt tên cho nó vậy?

- Em đặt.

Bé Tô cứ cúi nhìn xuống đất và huơ hai chân trước tỏ ý muốn xuống đất. Có lẽ chiều cao làm nó không an tâm. Em tôi nâng cằm nó lên bắt nó nhìn tôi vừa bảo:

- Đó, cô chủ của Tô đó. Chào đi.

Tô ngước nhìn rụt rè rồi lại cúi nhìn xuống đất.

Tô thuộc giống chó Nhật nên đã nửa tuổi rồi mà vẫn không cao lớn vạm vỡ bao nhiêu mà thân hình chỉ roi roi thon thon. Thể chất mảnh mai nên hay đau vặt. Thứ nhất là ho. Tôi bế Tô xuống Thú y để được nghe giảng giải:

- Nhiều con chó trong thành phố cũng mắc chứng ho như nó vậy. Tại xe xịt thuốc DDT cứ chạy rảo các ngã đường xịt thuốc vào mỗi buổi chiều.

- …

- Không có thuốc chi chữa được. Con nào mạnh thì bệnh lướt qua, con nào yếu thì đành chịu chết.

Ba tôi không đành tâm để Tô tự chống cự với bệnh bằng cái khả năng hữu hạn của nó, ông ra tiệm thuốc tây quen, hỏi cô dược sĩ quen:

- Thuốc ho thì nhiều thứ lắm, nhưng ông cần thuốc cho người lớn hay cho trẻ con?

- Ơ… ơ… cho trẻ con.

- Mấy tuổi?

- Ơ… ơ…

Lại có chuyện rối rắm. Con Tô nặng chừng mười ký thì đáng được xem là trẻ con. Và sáu tháng của nó phải coi như tương đương với sáu tuổi của loài người . Vậy nên ba tôi nói:

- Sáu tuổi.

Không ngờ cô dược sĩ mở to mắtù ngạc nhiên:

- Con ông lớn hết cả rồi mà. Có đứa nào sáu tuổi đâu?

Ba tôi bật cười:

- Cám ơn cô đã ân cần lưu ý biết rõ gia đình chúng tôi. Thật ra tôi không mua thuốc cho con, mà mua cho con… chó con.

Đến lượt, cô dược sĩ cười lên và mấy cô bán hàng, cô ngồi két cũng thích thú cười theo. Sau đó, họ thảo luận về sự tương đồng giữa một con chó sáu tháng với một con người và cuối cùng họ trao cho ba tôi một chai xi-rô. Tô uống xi-rô trong mươi ngày thì hết ho. Tôi mừng quá ghé lại tiệm thuốc Tây để “ thay mặt Tô và nhân danh cá nhân tôi” cám ơn cô dược sĩ.

Tám tháng sau Tô lại ho. Lần này cơn ho dài mà có kèm nước dãi trắng. Tôi lại hỏi thuốc nơi thú y. Một ông nhân viên lạnh lùng hỏi:

- Có cho nó uống thuốc sán lải chưa?

- Dạ… chưa.

- Sao nuôi chó mà không cho uống thuốc sán lải?

Tôi bí, không biết nên trả lời sao. Nghĩ lại, người Việt Nam mình cẩu thả thật, đáng bị rầy là phải. Chẳng những nuôi chó không cho uống thuốc sán lãi, đến nuôi con mà cũng không cho uống thuốc sán lãi nữa. Đến chừng thằng con tới tuổi động viên đi Thủ Đức, cha mẹ nó mới chợt nhớ ra rằng mình quên chưa hề cho nó uống thuốc sán lãi một lần.

Ông nhân viên thấy tôi đứng bí một cách thật thà, liền gọi cô thư ký bảo lấy cho tôi hai gói thuốc sán lãi.

- Mỗi gói uống làm hai lần. Uống trước bữa ăn.

Tôi móc ví trả tiền thì ông khoát tay:

- Thôi, biếu cô đó.

Như vậy, cứ năm bảy tháng là Tô lại có một chứng đau, lại bỏ ăn đôi ngày khiến tôi có dịp để mà biết các loại thuốc tiêm, thuốc uống dành cho gia súc vừa cả những món thuốc dành cho người mà tôi cứ sẵn sàng xâm lấn vi phạm.

Tô nó yếu như vậy nên nó nhát nước, không thích tắm. Mỗi lần muốn tắm cho nó thì tôi phải đích thân bế nó, vỗ về và khi nó nhìn thấy thau nước đổ đầy trước mặt là chân nó cứ run khựng lên. Làm như thau nước đó không phải để tắm mà để luộc nó vậy.

Tôi phải xối nước nhè nhẹ, in ít rồi len lén xát xà phòng lên từng phần nhỏ của cơ thể nó, bắt đầu là mông, rồi ngược lên lưng, lên bụng, lên ức. Khi vò tới cái đầu thì mắt Tô biểu lộ đầy vẻ sợ hãi thê thảm.

Để tránh sương gió, tôi cho nó nằm ngủ trên một cái ghế bành đặt ở mái hiên. Khi ai vô ý đem di chuyển cái ghế ra xa vị trí thường nhật chừng một thước là Tô không lên nằm nữa. Hoặc cái ghế vẫn đặt ở chỗ cũ nhưng có ai vô tình để lên đó một tấm vải, một tờ báo thì Tô cũng không chịu lên nằm. Tôi coi như đó là biểu trưng của một tâm hồn tế nhị nhạy cảm, thấy ai tỏ một chút gì khác trong một thái độ nhỏ là đã vội ngừa ý xa xôi. Trong khi giữa xã hội loài người càng ngày càng thêm lắm kẻ trân tráo lì lợm, thô bỉ đến độ phải đợi người khác nặng lời mới nham nhở cười trừ, thì một phong cách như vậy nơi con vật càng khiến tôi quí nó hơn.

Bởi cái thể chất mảnh mai của Tô mà mặc dù nó là một con chó đực, tôi vẫn gọi đùa là “con gái”, phát âm trìu mến theo giọng miền Nam thì trở thành “con gải”. Mỗi lần vỗ về nâng niu nó mà gọi là “con gải” thì nó mừng rỡ rối rít, vẹo mình vẫy đuôi rồi nhảy chồm lên. Bởi sống quen trong nhà nên mỗi khi mở cổng Tô thích được chạy ra đường một chút. Có lần ra đường rồi mải mê nhìn cái gì đó quên vào, người nhà sơ ý không biết cứ đóng cổng lại, vậy là Tô đứng chống chân lên song cửa cổng, ghếch mặt nhìn vào nhà vừa kêu rên khe khẽ ra tuồng sợ hãi lắm.

Lần này Tô lại bỏ ăn. Tôi có việc vắng nhà hai ngày, khi trở về nghe kể lại như vậy. Tôi lấy thuốc đau bụng pha với tròng đỏ trứng là món nó thích ăn, nhưng nó chỉ nhìn mà không buồn ngửi. Tôi lấy ống tiêm hút chất thuốc và thức ăn đó rồi nhờ em tôi cạy miệng nó để tôi bơm vào cuống họng. Phải là một người thương nó hết tình và nó tin cẩn hoàn toàn thì mới đủ can đảm mò tay vào giữa hai hàm răng nhọn bén và trắng nhởn đó.

Sáng hôm sau tôi pha thuốc với sữa và cũng dùng ống tiêm mà bơm vào miệng. Nhưng nửa giờ sau thì Tô mửa ra hết. Cơ sự dường này thì đành phải gõ cửa Thú y để hy vọng có một thứ thuốc tiêm. Tôi mặc áo đi đến Ty Thú y.

Mười một giờ trưa. Một cô thư ký ngồi đơn côi giữa một phòng vắng.

- Mời cô chiều đến. Chừng ba giờ rưỡi hay bốn giờ… Chứng bệnh mà cô vừa khai, mấy hổm rày tôi nghe nhiều con chó cũng mắc như vậy. Hình như đang có cái dịch… Vâng… vâng, đúng vậy… Ty Thú y biên tên thuốc và chủ nó cầm toa đi mua thuốc.

- Cô có biết tên thuốc là gì không?

- Tôi không biết. Có cái ông kia, - cô chỉ về một cái ghế trống đặt sau một cái bàn trống, - ông ấy chuyên môn khám chó cho thuốc.

- Chiều nay ổng có đi làm không?

- Tôi không rõ. Cô cứ đem chó tới.

- Con chó tôi nó nhút nhát lắm. Hay là có ông nào đi chữa bệnh tại gia, tôi xin mời.

- Có ông kia, - cô chỉ về một cái ghế trống khác đặt sau một cái bàn trống khác, - nhưng không biết ông ta có…

Cô thư ký ngần ngừ.

Theo cái điệu này thì không có gì chắc chắn hết. Phải chia mọi động từ vào giả định cách (Subjunctive mood) vào Điều kiện cách (Conditional mood)

- Dẫu cô không biết tên thuốc nhưng chắc cô biết thuốc bán ở tiệm nào.

- Dạ ở tiệm Thanh Thảo đường Lam Sơn. Số nhà thì tôi quên.

Tôi vọt xe thật lẹ tìm đến tiệm Thanh Thảo. Ông chủ tiệm nghe kể bệnh chứng. Nghe đến chữ “đang có cái dịch”, ông ngắt lời liền:

- Chó dại thì nó bỏ ăn nhưng một điểm nữa là nó sợ nước… Con mắt nó đỏ và bạ ai nó cũng cắn. Vả chăng…

Ông say sưa giảng giải về bệnh chó dại. Tôi phải vội vã thưa rằng tôi không mảy may nghi nó bị dại, hoàn toàn bảo đảm là nó không dại, cũng như tôi và ông hiện nay vậy. Tôi kể rằng nó mới ụa mửa hết cả thuốc lần nữa.

- À… ông lại giơ tay ngắt lời, nguyên là ở trong ruột non có những mao trạng ruột, khi nó đứng dựng lên thì tạo ra sự ụa mửa và nó còn…

Nghĩ rằng con Tô đang kiệt sức ở nhà, và những kiến thức về giải phẫu và sinh lý dẫu rất hay nhưng không làm cho nó hết bệnh, tôi cướp lời:

- Nghe nói hiện nay có nhiều con chó cũng mắc y chứng đó và Ty Thú y biên toa thuốc ra mua ở tiệm. Tôi hy vọng ông bán cho tôi đúng thứ thuốc đó.

- Như vậy thì…

Ông đi lại tủ thuốc, ngẩng lên cúi xuống, một ngón tay trỏ chỉ chỉ vào từng hộp thuốc, từng lọ thuốc như người ta điểm danh, rồi chợt kéo ra một lọ.

- Lấy lọ thuốc này được. Chích một lần hai xê xê (phát âm chữ cc là chữ centi-litre ). Chích làm ba lần.

- Đó là thuốc?

- Tétracycline hiệp với Chloromycétine.

- Chữa bệnh?

- Đau bụng, sưng ruột, ho…

Tôi cầm chai thuốc mà không tin tưởng bao nhiêu. Tưởng rằng có một thứ thuốc lịch trị như lời cô thư ký, ai ngờ đây cũng chỉ là một thứ thuốc nào đó, cho một vài trường hợp nào đó.

Con Tô có vẻ mệt hơn hồi sáng. Tôi lấy thuốc trụ sinh pha với sữa và cũng dùng ống tiêm mà bơm cho nó. Định xế chiều sẽ trở lại Ty Thú y nên không dùng lọ thuốc tiêm.

Bốn giờ chiều. Lần này thì ở văn phòng có thêm một ông nhân viên. Và những cái ghế vẫn trống đằng sau những cái bàn tịch mịch. Ông nhân viên nói y chứng bệnh của Tô: bỏ ăn, chân run… và đoan chắc rằng chỉ cần ba mũi tiêm là dứt bệnh. Có điều cái lọ thuốc thần đó hiện để ở trong tủ mà chìa khóa tủ thì ông cán sự đi công tác mang theo mất rồi.

- Ông đi ba bữa nay. Chắc ngày mai ổng về. Cô chịu khó đợi thêm một ngày.

Tôi trở về âm thầm. Đi tìm Tô thì thấy nó ra nằm ở sân sau. Thấy tôi, nó cố gắng làm những cử động thường nhật: nghểnh cổ lên, đứng dậy bước tới… Nhưng chỉ loạng choạng hai ba bước là nó đứng dừng lại, thở dốc rồi nằm gục xuống để cát dính đầy nơi miệng. Tôi lau những hạt cát cho nó. Tôi kê đầu nó để nằm nghiêng trên một cái ghế nhỏ do một xấp báo xếp lại. Nó thở nhọc mệt.

Tôi không biết làm gì khác hơn là vuốt ve đầu nó, vuốt ve mông nó. Và nói lảm nhảm:

- Gắng lên Tô ơi! Ngày mai có thuốc. Lát nữa Tô uống thêm sữa với thuốc trụ sinh. Sao mày nằm buồn vậy? Dậy mau, có lũ nhỏ lén hái trứng cá trước kìa. Chạy ra rượt!

Nhưng mặt Tô thản nhiên như không hề nó nghe tôi nói. Nó chỉ biết thở, những hơi thở gấp gáp nặng nề. Rồi bỗng tôi chợt nhận thấy rằng nó không còn thở nữa.

Buổi chiều màu xám. Lá cây ô ma thản nhiên xanh mướt trên cao. Tôi lặng yên ngồi vuốt mắt cho Tô, nắn bóp đôi chân trước thon thon manh mảnh. Tôi đã chứng kiến nhiều cái chết nên lòng tôi hắt hiu hoang vắng lạ thường.

Hơn hai năm, Tô với tôi đã thành một người bạn nhỏ. Khi tôi ăn xong là đến lượt nó. Tôi bảo nó:

- Xuống kêu cô Hiền lên lấy cơm phần Tô. Cô Hiền đâu?

Tô phóng chạy ngay xuống phòng Hiền, đứng ở giữa cửa, ngó lên đợi… Khi xe tôi về tới cửa, Tô nghe tiếng nổ vội chạy ra rồi chạy lui vào để báo hiệu cho người nhà ra mở cổng. Thế mà bây giờ thì nó chết rồi. Nó duỗi thẳng hai cặp chân xếp song song với nhau, như giũ bỏ hết mọi hoạt động, mọi háo hức chạy nhảy, leo trèo. Thôi rồi, không còn xục xạo đi săn lũ chuột, không còn nhảy chồm lên hàng rào để gầm gừ lũ nhỏ đến khoèo trái trứng cá.

Tôi sẽ báo tin như thế nào cho ba tôi biết rằng Tô đã chết rồi? Mới bảy giờ sáng nay ba tôi vừa từ giã nhà ra đi sau bốn ngày được về nhà nghỉ lễ Phục sinh. Trước khi lên xe, ba tôi còn chạy tìm Tô để vuốt ve nó:

- Ở nhà uống thuốc cho mau mạnh nghe, con gải. Hẹn sẽ gặp lại, tuần sau.

Con gải đã không vẫy đuôi. Con gải chỉ lặng lẽ nhìn.

Tôi lo sẽ phải đọc trong bức thư đầu tiên ba tôi gởi từ nơi công tác về nhà có đoạn hỏi thăm sức khỏe của Tô. Chắc là tôi sẽ phải giả vờ quên không nhắc đến nó trong bức thư trả lời. Đợi cho một tháng hai tháng trôi qua. Tôi phải cố gắng hết sức giữ sao cho tâm hồn ba tôi tránh bớt được những dấu vết của sự xúc động của sự xót thương, của sự buồn bã âm thầm.


Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 05 Mar 2015 11:44 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
26 . Đôi Bạn Vong Niên


Khi học lên cấp ba Diễm phải lên thị xã ở trọ nhà bác Hai để đi học. Bác Hai là anh thúc bá của cha Diễm. Cha mẹ Diễm ở dưới quê trung thành với ngôi vườn và ruộng lúa.

Lên ở nhà bác, Diễm có dịp sống gần ông thân sinh ra Bác. Ông đã bảy mươi tuổi nhưng đi đứng còn lanh lẹ. ông nói:

- Nhờ ông ăn uống thanh đạm và điều độ. Hồi thanh niên hay mắc cỡ vì thân hình ốm. Tự chế diễu mình "ngó như con khỉ". Không dám tán tỉnh mấy cô. Khi nhiều tuổi mới biết mập mạp mơn mởn, đẹp thì có đẹp nhưng dễ bệnh.

Ông có vẻ cô đơn giữa khung cảnh hào nhoáng sang trọng của gia đình bác Hai. Bác trai đi làm cả ngày. Bác gái con nhà giàu nên thái độ kênh kiệu có hơi coi thường nhà chồng. Ông được xếp cho một phòng ở trên lầu, và gần như ông không hề bước ra khỏi phòng. Ngoại trừ khi xuống phòng ăn ở từng dưới.

Một hôm, thấy Diễm chăm chăm nhìn cái kim băng gài nơi cổ áo, ông giải thích:

- Áo sơ mi thời nay không tra nút nơi cổ. Để hở cổ với ông thì lạnh. Tra nút thì dễ mà khoét khuy đơm khuy thì khó. Ông dùng tạm cái kim băng để ghim.

Diễm nói lơ lửng:

- Phải loại kim băng ngoại mới an toàn.

- Nhưng khi mở ra hay cài vô lật đật một chút, lúng túng một chút là bị kim đâm.

Chủ nhật đó Diễm khoét ba cái khuy, tra ba hột nút cho ba cái sơ-mi "đời mới" của ông. Ông thường tỏ ra lúng túng mỗi khi đưa quần áo cho người nhà giặt. Nhiều lần ông tự giặt lấy. Diễm hiểu cái tinh tế của một người tự trọng cảm thấy mắc cỡ khi ai cầm những áo quần tẩm mồ hôi của mình. Muốn giảm lượng quần áo đưa giặt thì phải mặc dài ngày lâu thay... mà khi đã hà tiện lâu thay thì áo quần càng dơ hơn, giặt nhọc hơn.

Diễm bảo ông:

- Mỗi ngày ông thay một bộ. Khi giặt chỉ cần ngâm xà bông rồi vò sơ một lượt là sạch. Khỏe hơn khi giặt một bộ đã mặc lâu ngày.

ông gật đầu:

- Đúng.

Diễm biên thư về nhà quê cho cha mẹ, đề nghị may tặng ông mấy bộ áo quần, loại vải thường thôi nhưng cốt sẫm màu để nhẹ giặt. Áo cổ sơ-mi, cổ và tay có gài nút, khỏi bị cảm lạnh. Nhằm dịp rằm Trung Thu, cha lấy tư cách là cháu ở quê gởi gói quần áo thay quà bánh và Diễm cầm tay ông nói:

- Quà này do con sáng kiến. Mỗi ngày ông mặc một bộ. Cuối tuần con giặt hầu ông một lần. Nhẹ thôi vì chúng chưa kịp dơ. Quần đùi áo lót cũng thay đều như vậy. Con để cho ông tự giặt để ông khỏi mắc cỡ, vừa để tập thể dục.

Ông lấy ngón tay gõ vào đầu Diễm nhưng liền đó thấy mắt ông rơm rớm nước mắt. Phải, người có tuổi thường đa cảm. Dễ buồn. Vì khi nghĩ ngợi mông lung về quá khứ là nhớ rằng người bạn này của mình đã chết, người quen kia của mình đã chết. Diễm tìm cách giải khuây cho ông.

Thỉnh thoảng Diễm bế thằng bé Khang, con cô giáo Thanh láng giềng lên chơi với ông. Bé Khang được 8 tháng, mặt mũi xinh xắn, tay chân mập trắng. Mỗi khi Diễm nói "cúc cu" là bé nhoẻn miệng cười, vừa huơ tay huơ chân loạn xạ. Ông bắt chước cũng "cúc cu" và bé lại cười. Ông lấy ngón tay cù vào nách, rờ nhẹ lên lưng lên bụng nhằm tạo cái cảm giác nhột, nhưng dường như bé chưa biết nhột. Ông nhìn bé rồi ôm nựng. ông nói:

- Nhiều hồi ngồi nhìn một đứa bé đang cười và mình gắng tìm hiểu xem cái cảm xúc gì làm cho nó cười.

Nhân giặt áo cho ông, Diễm có dịp kiểm tra những hột nút. Té ra có những hột bị bong đâu mất mà vì không dám phiền ai xỏ kim chỉ giùm nên ông lại lấy kim găm.

Diễm còn đi học chưa có phương tiện để mua những món ăn ngon tặng ông. Trái cam quá đắt, Diễm chỉ có thể đều đặn vắt nước một trái chanh bắt ông uống mỗi ngày và mỗi bữa ăn gọt cho ông một trái dưa leo thêm vào rau để ông khỏi bị táo bón. Sáng chủ nhật và chiều thứ năm thì rủ ông cùng đi bộ dưới bãi biển. Niềm cô đơn làm ông lười hoạt động cơ thể, nhưng Diễm không thể bắt chước ông công chức nọ cầm roi bắt cha đứng dậy tập thể dục buổi sáng.

Mắt ông nhìn ít rõ dẫu có mang gương. Có mấy lần thấy ông dùng muỗng cào mãi vào đáy cái dĩa. Rồi ông cười:

- có một cái bệt màu xanh, ông cứ tưởng là miếng lá cải.

Đây là do cô thợ vẽ phụ trách trang trí cho lò chén bát. Cô vô ý để rớt giọt sơn màu xanh xuống đáy dĩa.Một lần khác thì là một bệt màu nâu, ông cứ lấy đũa gắp tưởng đó là miếng thịt bò.

Diễm thích thú cười to. Câu chuyện đáng viết thành mục "Vui cười".

Mắt kém là cái khổ thường xuyên của ông. Cứ thấy ông loay hoay sục kiếm cái này, mò tìm cái kia.

- Uở, cái phong bì... vừa dán tem... bỏ đâu kiếm không ra... Tờ giấy thông báo mới nhận hồi chiều, xếp dưới chồng sách... đâu mất rồi?

Vậy là Diễm lặng lẽ treo hai cái kẹp giấy nơi khung cửa sổ, cạnh bàn ông.

- Có cái gì chưa kịp làm, ông cứ kẹp vô đây, đặt lên bàn dễ bị lẫn lộn, cái này đè lấp cái kia, kiếm không ra.

Mắt kém đi ra đường sợ bị xe cộ tông nên ông gần như bị cắt đứt với sinh hoạt bên ngoài, Diễm phải tự nguyện làm cầu nối. Thỉnh thoảng kể cho ông nghe những gì nghe thấy ở hè phố, ở trên báo.

- Buổi tối ở trên đường Lê Thánh Tôn vui lắm ông ơi. Bàn dọn ăn và ghế dành cho khách ngồi cứ la liệt. Hết bà bán chè tới ông bánh bao, hết chị bánh bèo tới thím mì Quảng. ở góc đường Trần Nguyên Hãn - Trịnh Phong tối mò có ngọn đèn hột vịt tạo một chấm đo đỏ, vàng vàng. Đố ông biết họ rao cái gì đó?

- Bia hơi hay mát-xa?

Diễm cười to lên, đập vào vai ông:

- Không phải đâu. Họ bán trứng vịt lộn.

Suốt Cả cuộc đời ông làm nghề thầy thuốc. Bản chất liêm khiết lại còn pha thêm lòng nhân ái nên của cải không tích tụ, vợ ông phải làm thêm nghề ươm tơ mới nuôi nổi bác Hai và cô Năm. Bác học giỏi đậu đạt cao làm chức lớn nên cưới vợ nhà giàu. Vợ ông mất cách nay được mười năm.

Kể từ ngày vợl mất, ông gần như không còn nụ cười. Diễm mừng là còn có căn lầu nhỏ để dành cho ông biệt lập trên đó, tránh cho ông khỏi nghe tiếng the thé đầy quyền uy của bác gái, tránh phải nghe tiếng nhạc rập rình suốt ngày ở bốn quán cà phê nằm sát kề. Trên đó thỉnh thoảng ông còn nghe được tiếng chim - chẳng biết tên là con chim gì - liến thoắng hay lảnh lót nơi tàn cây đứng kề cửa sổ.

Nhiều hôm Diễm thấy ông săm soi một thân cây con nhỏ, mảnh mai gầy yếu, trồng trong một cái ly thủy tinh. Cây cao chỉ khoảng sáu, bảy phân. Phiến lá kép nhỏ, xếp chạy dài như loại lá phượng, lá táo nhơn.

Nhìn ông nâng niu gượng nhẹ, Diễm thầm nghĩ: "Chắc một loại thảo mộc quí. Tên gọi chắc bằng chữ Hán rực rỡ và cây là bạn sớm hôm của cácbậc nho sĩ công hầu. Diễm muốn hỏi nhưng chưa dám. Thì chợt một hôm ông nói:

- Đây là cây chó đẻ.

Diễm giật mình, suýt kêu lên một tiếng ngạc nhiên "Thiệt à?".

- Ở nhà quê, nó mọc tràn lan ngoài đồng. Không hiểu sao mấy chậu hoa nơi sân thượng có chứa hột của nó. Qua tiết Cốc vũ, khí hậu mát là nứt mầm thành những cây con.. Nhổ quăng thì mọc cây khác. Lớn rất mau. Không hiểu sao ông ghét nó. Không hề có một kỷ niệm xấu gì về nó trong quá khứ, trong những ngày nhỏ ở thôn quê. Đã vậy, dáng vẻ của nó phải nói là xinh xắn óng ả dễ thương. Nhưng lạ, không hiểu sao hễ thấy nó mọc là ông cứ muốn nhổ. Ông im lặng trầm ngâm một phút.

- Cho tới một hôm gần đây ông chợt nghĩ: Sao không chuyển tình cảm GHÉT thành THƯƠNG? Nó không có hại gì hơn một loài cỏ hoang khác. Nếu nó xâm phạm tới cây quít, cây có ích thì nhổ quăng đã đành, đằng này cái chậu bỏ không. Nhiều cây cỏ vô ích cùng tranh nhau mọc. Thử thương nó, cứ thương nó đi. Chuyển ghét thành thương, cái cảm xúc THƯƠNG làm êm ái tâm hồn mình.

Ông thực hiện liền ý nghĩ. Dễ quá. Một cái lọ thủy tinh bỏ rải rác đâu đó. Xúc mấy muỗng đất. Chọn nhổ một thân chó đẻ. Trồng buổi chiều, sáng hôm sau nhìn thấy nó đứng xanh tươi, mạnh khỏe. Trong cái lọ thủy tinh trắng ngần nó như tăng thêm nét kiều diễm, nó như một cô công chúa nhỏ, nó tước bỏ hẳn cái dáng cây chó đẻ quen thuộc vốn bị ghét.

Tối đó, trước khi đi ngủ, ông bật đèn ngồi hóng mát trước sân. Bất ngờ nhìn sang cây chó đẻ, thấy nó xếp lá thẳng tắp. Nó ngủ. nNó có trí thông minh để nhớ xếp lá lại khi đêm xuống, cho dù bị thay đổi chỗ ở và thân ê ẩm vì bị nhổ đi trồng lại. Sáng thật sớm ra nhìn, thấy các phiến lá đã xòe ra.

Diễm tưởng tượng niềm vui của ông khi phát hiện ra một nét đẹp của sự sống. Nhà thảo mộc học óc đầy nghẹt kiến thức về cỏ cây không chắc đã có niềm rung động hồn nhiên như ông. Phải nhìn cái chăm chú say mê của một mái đầu bạc.

Hôm đầu tháng Tám thấy ông ngồi rọc những tờ giấy gói xà bông Cadum có hình vẽ màu đỏ rực, nối chúng lại với nhau thành ba dải dài. ông lấy cái giỏ bằng giấy nhựa màu xanh, đem tròng vô cái móc áo. Dùng kim ghim hai dải giấy đỏ lên hai bên giỏ và một dải dài hơn ở đáy. Cột dây treo lửng lơ nơi cầu thang lên sân thượng, cái giỏ biến thành lồng đèn Trung thu có dải dài bay tung tăng theo gió.

Cái lồng đèn dó ông làm tặng bé Khang. Ông tự dặt cho mình những tiêu chuẩn dùng vật phế bỏ, cắt lắp ráp cách nào dễ dàng nhất, mau chóng nhất.

Đêm Trung Thu bé Khang được mẹ mua cho đèn lồng. Cũng có đốt dèn sáp, tay xách đèn sáng rực, lững chững đi cạnh cu Tí, cu Cún, bé Cụi, bé Nụ. Mỗi đứa đều cầm đèn.

Nhưng chỉ ba đêm, rồi sau đó im lặng. Trong khi cái lồng đèn của ông cứ rực rỡ màu sắc ngay giữa ban ngày, gió thổi dải bay tung tăng chao qua chao lại. Và bất chấp trời mưa, vì chất nhựa dẻo coi thường nước.

Thừa thắng xông lên, ông cho ra đời thêm một cái lồng đèn nữa, sắc màu còn rực rỡ hơn. Một hôm lục thấy mấy cái hộp đựng quà có giấy bọc màu đỏ trang trọng, một ý nghĩ tinh nghịch lóe lên, ông lấy dây cột thả một cái giữa hai lồng đèn. Vì nhẹ, nó cũng tung tăng nhún nhẩy, cũng được gió thổi đu đưa.

May mà khách của bác Hai đi vô xa-lông bằng ngã trước, không thấy cái đèn lồng đèn của ông. Tưởng tượng tới thăm một ông chức lớn quyền cao mà thấy đong đưa cái hộp đựng quà biếu xén thì đố khỏi có kẻ chẳng giật mình coi như vừa bị nhắc khéo.

Sống cách biệt ở trên một tầng gác, ông gần như không biết gì về những đổi thay trong cuộc sống. Nghe ông đoán giá bán của một vật dụng là đủ cười bể bụng. Một hôm Diễm cầm đưa cho ông nửa trái bưởi. Ông nhìn chăm chăm cái múi bưởi màu hồng pha tím. Nói: Lâu quá mới thấy lại múi bưởi màu này. Ở ngoài quê của ông gần như chỉ có bưởi màu này. Chắc nó chua và the. Ở trong Nam thường múi bưởi màu trắng. Thanh trà ở Huế cũng vậy. Ngọt. Thời nay chọn giống và lai tạo giống, ông cứ đinh ninh là màu hồng tím không còn nữa. Giá bao nhiêu trái này?

- Ba ngàn.

- Trời ơi.

- Chớ ông tưởng bao nhiêu

- Tưởng sáu bảy trăm là cùng.

Diễm nhìn ông mà lòng thương vô hạn. Cái gì cũng ít cũng nhỏ, cũng vừa phải, cũng dè xẻn... là thế hệ của ông. Ông kể hồi đi học không có cuốn vở đóng sẵn bày bán mà chỉ bán giấy trắng. Mua về rọc ra đóng thành vở. Trước khi viết, lấy thước và bút chì ra gạch thành hàng chớ không có giấy gạch sẵn. Không như Cẩm Tâm, đi học mang theo cái bi-đông nước bằng nhựa trắng dáng dấp xinh đẹp tựa món trang sức của cô tiếp viên hàng không. Ngồi trong lớp mà việc gì phải khát nước (à, té ra hồi đó khát nước bị coi là... xa xỉ! Mà nếu có lỡ khát thì ra cái lu nước lạnh bác phu trường đã gánh về đổ sẵn đó! Ông giật mình khi thường đêm nghe đài Truyền hình kể ra bao nhiêu bệnh truyền nhiễm do nước dơ gây nên, do những vi trùng, vi khuẩn vi-rút có tên bằng tiếng La-tinh gây nên. Đáng lẽ ông đã Chết nhiều lần rồi mới phải vì vũ khí chống lại, vào thời xa xưa đó chỉ là củ gừng lui và lá ổi.

Thỉnh thoảng Diễm dạy ông về thời giá: thịt bò một ký 35 ngàn đồng. Thịt heo 28 ngàn. Gạo loại tết 4 ngàn. Tiền công may quần dài 25 ngàn. Cúp tóc 5 ngàn.


Ông không mấy khi bước ra đường. Có một lần tìm tới thăm người bạn, ông đi nhằm con đường chạy theo hông chợ. Những hàng rau trái lấn chiếm. Người đi ngược chiều tránh nhau, tay ôm tay xách kềnh càng. Người đi xe đạp, người dắt xe đạp đứng lại trả giá. Xích lô chở hàng la inh ỏi để dẹp đường. ông đã lanh trí đi theo sau một chiếc xích lô. Nó dọn rộng đường giúp ông, và ông đi chậm lại lúc nó bị kẹt, hối hả bước theo cho kịp khi nó chạy băng. Khi thoát ra khỏi khu chợ ông vẫy tay chào cám ơn anh xích lô. Anh tươi cười chào lại. Chắc là cái cười bị lây, chắc anh chưa hiểu ông cám ơn cái gì.

Những khó khăn, những hạn chế như tôi luyện trí óc ông. Ông không quen cái dễ dãi. Iuôn luôn sâu lắng, nhận xét tinh tế, cân nhắc. Diễm học nơi ông nhiều nhất là tính cẩn trọng, và tính cẩn trọng đó - một hôm ông nói đùa - ông học được từ cái... bình trà. Nguyên ông có cái bình trà loại quí, sản xuất tại Nhật Bản, ông dùng đã hơn 40 năm. Cứ một thời gian, khi nước róc chảy chậm là ông lấy cây tăm xoi vào mấy lỗ nhỏ khoét ở đáy vòi Gần đây mắt ông yếu đi, cái gì được nhìn bằng trí nhớ thì rõ ràng chi tiết, cái gì nhìn bằng mắt thật thì mông muội mơ hồ, trong đó có vòi nước rót từ bình trà. Chế đầy nước sôi, đợi vài phút rồi nghiêng bình rót ra, vòi nước mảnh yếu, còn nước ở miệng bình thì tuôn ra ướt cả mặt khay. Lập lại gần như hằng ngày.

Một cách tự nhiên, ông nghĩ rằng cái vòi nên cao hơn một chút. Nhớ tới loại bình trà gần đây mình thon cổ cao như bình hoa, ông thầm chê kỹ thuật chế tạo cái bình của mình. Cho đến một hôm gặp buồn phiền nhiều nỗi, ông tìm quên bằng cách đem cái bình ra xoi. Những cặn trà bong ra như mọi lần trước. Xoi nữa. Xoi nhiều nữa. Đổ nước vào thổi. ông xoi ông thổi liên miên cho quên nỗi buồn phiền. Sáng hôm sau, ngạc nhiên chưa, nghiêng bình rót, nước chảy vọt ra mà không hề có nước trào ra miệng.

Coi kỹ lại thì thấy cái vòi bình còn cao hơn miệng bình một vài li, nhưng khi nghiêng rót thì cái vòi chuyển sang vị trí thấp. Ông muốn cốc vào đầu mình. Tất cả đều chỉ do lỗ vòi bị nghẹt. Ân hận đã chê người làm bình vắng mặt. Do cái ngu của mình mà ra hết. May mà mình không có chức vụ cao để chê bai ồn ào, tuyên bố ầm ĩ.

Ông kể lại chuyện và ân cần dặn Diễm:

Con nhớ câu chuyện này. Cân nhắc rất kỹ, xét nghiệm rất đúng rồi hãy nói. Chớ nói cho vui miệng nói cho sướng miệng, nói cho khỏi chua miệng nói không để cho miệng kịp làm da non.

Cái tinh nghịch bất ngờ của điệu nói bình dân "nói không để cho miệng kịp làm da non" khiến Diễm bật cười và ông cũng cười theo.

Sống cạnh ông hai năm, khi lên Đại học Diễm đậu nhằm Đại học Thủy sản phải ra ở nha Trang. Hôm chia tay, Diễm cầm tay ông khóc nức nở.

Lúc tiễn chân Diễm ở bến xe, đợi Diễm có chỗ ngồi yên ổn, ông cầm một tấm thiệp chúc Xuân màu đỏ rực rỡ trao cho.

- Mùa khai trường mà, ông - Diễm la lên. Đâu đã tới Tết.

Ông mỉm cười:

- Mượn tấm thiệp làm bìa. Đóng thành cuốn sổ nhỏ trong viết những lời dặn dò để gởi con mang theo. Xa ông nhưng coi như có ông bên cạnh nhắc chừng.

Khi xe ra khỏi thành phố, chạy yên ả giữa những cánh đồng vắng vẻ đìu hiu, Diễm mở cuốn sổ nhỏ ra đọc. Mỏng chỉ bảy, tám tờ giấy. Nét chữ rắn chắc chân phương.

Con thương yêu.

ông ghi tóm tắt những điều dặn con. Chẳng có gì cao siêu hết, tất cả đều tầm thường ngang tầm tay - không cần với - của con. Giữ kỹ, cất đó, để lâu lâu mở ra dọc. (Đừng coi nhẹ cái tầm thường bởi cuộc sống bình thường vốn được xây dựng bằng cái tầm thường. Cho dẫu ông vẫn mong mỏi con làm được cái siêu việt)

1- Này con, hãy có một cuốn vở ghi chép mỗi tối trước khi đi ngủ dành chừng năm phút ghi lại những gì xảy ra trong ngày. Ngó thì nhảm nhí nhưng sau 5 năm, 10 năm, 20 năm... những điều ghi có thể sẽ rất có giá trị: bài học khôn về tình đời, về vật giá thay đổi, về những biến đổi xung quanh, gần và xa.

2- Ghi những số tiền nhận được, chi ra, ngày tháng nào, từ đâu, cho ai, mục gì..., để khi cần tra cứu. Đồng tiền đã làm khổ con người khi tạo ra nó, làm khổ suốt cuộc đời, vậy đừng thêm cái khổ do sự NHỚ, QUÊN.

3- Ghi tên, địa chỉ, ngày sinh ngày cưới của những người thân quen, tên các đứa con... Bất ngờ gởi một phong thư, viết một lời chúc mừng, tạo niềm vui nhẹ nhàng.

4- Có một cuốn sổ tay ghi gọn những kiến thức. Mỗi ngày thuộc một kiến thức. Ví dụ: Thể tích của Sao Thổ... Ngày kết thúc Đệ nhị thề chiến...Mỗi ngày thuộc một thì sau 10 năm con đã thuộc tới 3650, sau 30 năm đã hơn một vạn. Nhiều lắm đó. Không có tài sáng kiến phát minh thì tạm bằng lòng tích lũy kiến thức.

5- Đừng vội giận khi có ai nói ngược lại điều con vừa phát biểu. Thường đó chỉ là hạn chế vấn đề quen thuộc trong thể văn nghị luận. Nếu người kia không lật đật nói thì chính con cũng sẽ nói.

6- Hãy dè dặt khi bắt buộc phải chê một người, vì con đâu có hiểu thật rõ hoàn cảnh, trường hợp của sự việc´. Cũng đừng khen hời hợt, lấy lệ, hình thức bởi người nghe bị tốn thì giờ vô ích họ, sẽ bực mình.

7- Sự hoạt bát là phương tiện làm vui làm nhẹ nhàng cái không khí họp mặt. Nhưng đừng coi nó là một giá trị để hãnh diện khoe khoang, để tự bằng lòng. Chẳng hạn khi ai đó nhắc đến việc cứu trợ thiên tai, việc trùng tu mộ danh nhân thì thế nào trong cử tọa cũng có 3-4 người giành nhau hoạt bát thông minh" kiểu Lá lành dúm lá rách... , ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

8- Cái lý luận vốn vô cùng: chuyện được người khen mà có ai đó muốn chê thì cũng vẫn cứ được. Năm 1995 có một vị hảo tâm tặng quỹ từ thiện 50 ngàn đồng. Nhiều người tự xét mình ít hảo tâm bằng. Nhưng kẻ muốn chê cũng không khó: "Tưởng gì! Chỉ đủ trả tiền phòng hộ sinh một ngày". Vậy luôn luôn chuẩn bị nhận lời chê, thay vì đợi nhận lời khen.

9- Có hai cách nói lời khuyên: HÃY và ĐỪNG. Hãy sống có đạo đức. Đừng tham lam, dối trá. HÃY đòi hỏi phải tích cực, chịu nhọc nhằn, cần nhiều cố gắng. Còn với ĐỪNG thì người nghe cảm thấy nhẹ nhàng. Họ nghĩ, ít nhất mình cũng nên thực hiện cái ĐỪNG này.

10- Tiếng SAO bắt đầu một câu hỏi làm người nghe giật mình, lo lắng, hồi hộp (SAO nó chưa... ? SAO mày không..? Nên nhân ái chọn một hình thức nhập đề dịu dàng hơn.

11- Đừng ganh tị với kẻ giàu sang. Dưới cái bề ngoài huy hoàng sang trọng, bao nhiêu cái KHỔ ít ai biết giùm. Có quá nhiều tiền sẽ không biết dùng vào mục gì để sung sướng hơn người. Có quá nhiều quyền lực trong tay sẽ phải từ chối bao nhiêu kẻ tới quỳ cầu xin ban ơn cứu giúp.

12- Khi ra đời, con hãy nhận một chức vụ hơi thấp hơn khả năng của con (đáng được 8 chỉ nhận 7). Như vậy tâm trí dễ thong dong, không lo lắng về thành tích không có tâm trạng hạ mình xu nịnh dể mua lòng cấp trên. Không quát nại hách dịch để tỏ uy quyền đối với cấp dưới.

...

Tóm lại, Diễm con ơi, hãy gắng giữ một tấm lòng nhân ái, thương người và cố gắng làm điều tốt cho người.

Ông cầu xin mọ Ơn Phước cho con.

Diễm nhắm mắt lẩm nhẩm trong óc.

- .....Còn nữa chớ. Ông đã dặn : "Với bổn phận xã giao nào chỉ cần bỏ tiền ra là trả xong thì con đừng chần chừ. Bù lại chỗ tiền đó bằng bữa ăn bớt thịt, vẫn đủ lượng bổ dưỡng bằng cách ăn cá vụn thay thịt".

Lời dặn còn tới độ thân tình như : "Thời nay, hội nghị thường có kèm bánh, kẹo, ngồi vừa nghe vừa nhai. Nhớ kín đáo nhìn vào chiếc gương con, kiểm tra coi bánh có dính kẽ răng, làm tổn thương sự lịch thiệp".

Hoặc : "Cuối bức thư, chịu khó ghi cái địa chỉ của con. Để người nhận thư nếu cần hồi âm khỏi phải nhọc công bực bội lục tìm".

Xe êm êm chạy, nhồi xóc nhẹ nhàng, tiếng máy đều đều, Diễm có cảm tường đang nằm trong nôi hồi nhỏ. Và giấc ngủ chập chờn.

Chợt một tiếng "rầm" làm Diễm giật mình nhìn ra cửa xe.

Hàng cây bên đường chạy vun vút ra sau. những ruộng lúa nằm bình tĩnh. Những đám đất thổ trồng mía, thân cây mía đứng xúm xít chen lấn, mình bao phủ đầy lá khô, tiều tuy nghèo nàn. Bờ cỏ dọc lề đường. Những bụi cây lúp xúp. Xa hơn: những đồi núi im lặng, bất động... Và tâm hồn Diễm lượn nhẹ nhàng trên cái khung cảnh quê mùa thân quen.

Hai tháng sau, vào một buổi chiều, Diễm cầm sách lẩm nhẩm học bài, thả bộ đi một mình nơi sân sau của ký túc xá. Bước lần đến vạt rau kề chái bếp nhà chị cấp dưỡng. Có vẻ ít được bàn tay chăm sóc, những bụi húng nằm chen với tía tô, rau răm. Có cả cỏ. Chợt Diễm thấy một cây chó đẻ. Xúc động, Diễm muốn kêu lên cây chó đẻ, ông ơi!

Diễm đi lại ngồi gần. Cây cao cỡ một tấc. Cũng màu xanh phơn phớt nhẹ nhàng. Cũng cái chất lá mảnh mỏng, mềm. Hai hàng phiến lá nhỏ sắp hàng dài hai bên cái cộng mảnh. Diễm lật nhìn mặt dưới. Một hàng những nụ xanh tròn nhỏ cũng chạy suốt chiều dài của cộng. Chắc đó là nụ hoa. Chưa gặp một nhà thảo mộc học nào để hỏi kỹ... Diễm nghĩ đến ông. Giờ này chắc ông đang ngồi lặng im một mình hay nằm lặng im một mình nhắm kín đôi mắt để nhìn về quá khứ, tìm gặp lại những cảnh cũ, những người xưa. Diễm bồi hồi nhớ lại hôm chia tay, ông vỗ nhẹ đầu Diễm, giọng nói nghẹn ngào:

- Con nín khóc. Ngoài đó cũng gần đây thôi mà.

Đi cho biết. Ở đâu cũng có cảnh đẹp người tốt. Cốt yếu là khéo tìm thấy cái đẹp và biết học cái tốt. Con đi, ông buồn lắm, chắc con đoán biết. Vào tuổi của ông, không ham được mà chỉ sợ mất. Được danh, được lợi ông không màng. Chớ cái mất làm đau trái tim ông. Ông không nỡ bỏ cái áo cũ, thay cái chén cũ. Dùng vật cũ là không nỡ để nó mất. Một người bạn lâu năm đang bệnh nằm chờ chết. Ông sắp mất người bạn. Con xa cách ông là ông xa cách một nguồn an ủi, một bàn tay giúp đỡ. Nhưng ông đâu có cách nào để giữ cho khỏi xa con?

Ông nghẹn lời đưa tay nhẹ lau nước mắt.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 05 Mar 2015 11:57 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
27 . Gà Và Ba Tôi


Ngày nào cũng vậy, khi tiếng còi 12 giờ vang lên là má tôi cất tiếng dặn con Lời, con nhỏ giúp việc:

- Lời ơi, coi chừng gà qué đó con ơi. Cậu sắp về rồi đó.

Tiếp theo lời dặn của má tôi là tiếng la ùi… ùi! Oái… oái! Thật to của con Lời và tiếng vỗ tay của nó. Có bữa nó chạy một vòng quanh nhà và tiếng la, tiếng vỗ tay, tiếng chân dậm sầm sập của nó có kèm theo tiếng gà la quang quác, tiếng vịt cạp cạp inh ỏi.

Chừng 15 phút sau, ba tôi về. Ông dắt xe đạp kê ở hiên sau rồi đi thanh sát một lượt từ nhà ngang đến nhà bếp, còn đôi mắt thì lục lọi xa hơn, ở mãi đầu giếng, góc rào. Trăm lần như một, câu nói đầu tiên của ông là câu hỏi con Lời:

- Mày có nhớ coi chừng gà không?

- Dạ thưa có - Con Lời đáp lại gọn gàng như một tiếng vang.

- Gà hàng xóm có tới phá không?

- Dạ thưa không.

Có lần tôi suýt bật cười to vì để làm chứng cho câu trả lời đầy thiện chí và bảo đảm của con Lời, có một cây ớt bị bươi gần trốc gốc, nằm uể oải nghiêng một bên hông và đầu tai mặt mũi bám đầy những cỏ rác do chân gà bới tung lên. Ba tôi tỏ dáng bằng lòng, tháo cái mũ nhựa trắng (chế tạo tại Đài Loan) ông đội tức thời giao cho em tôi cất rồi lại vục tay vào thau nước rửa mặt. Nước mát mẻ làm mặt ông tươi lại. Lúc bấy giờ ông mới bình tĩnh giảng cho con Lời nghe về sự lợi hại của việc trông chừng gà.

- Gà hàng xóm nó qua… à hà… vừa bươi trốc gốc gãy đọt… à hà… mấy cây của tao trồng… à hà… vừa giẫm dơ chỗ vại nước. Phải rao cho chủ gà người ta biết để người ta nhốt lại. Chớ sao? Ai lại nuôi gà mà… mà không chịu mua thóc cho nó ăn? (Chỗ này ông bận lên cao giọng để cho hàng xóm nghe nên quên mất tiếng à hà nhật dụng).

Má tôi ở nhà trên bước xuống “suỵt” một tiếng nhỏ:

- Thôi mà ông, nói làm chi chuyện nhỏ.

- Sao? Bà bảo sao?

Đôi mắt của ba tôi tròn xoe lại. Cái miệng hé mở, sắp tròn lại theo con mắt nhưng chưa kịp.

- Chỗ hàng xóm láng giềng với nhau… Nhường nhịn nhau.

Ba tôi đi sấn tới, tay mặt còn cầm cái khăn ướt, vung lên:

- Thì tôi có bảo bà sao đâu?

Trông bộ ba tôi sấn sổ mà không nín cười được. Dù cố gắng hết sức để tạo ra một uy thế hùng hậu, sức vóc của ba tôi cũng chỉ gói gọn ở trong bốn mươi lăm kí-lô là cùng. Tay nhỏ, chân ngắn, cơ thể ông là một sự khiêm tốn, một sự an phận. Giá sinh vào một loài chim hay loài thú thì ông sẽ được an ủi nhiều hơn. Khi nổi giận, khi chuẩn bị chiến đấu, con chim xù lông vũ, con thú xù lông mao và đối phương thấy nó tăng thêm tầm vóc, tăng thêm bề thế có thể sợ hãi mà bỏ chạy. Đằng này ba tôi sinh làm người mà là người văn minh nên những cái gì có liên quan đến sự chiến đấu đều bị mài xóa mai một đi hết. Móng chân móng tay đều cắt ngắn. Râu ria bị cạo hàng ngày. Rốt cuộc dường như chỉ có con Lời là còn chịu nghe lời ông thôi.

Má tôi an ủi:

- Thôi anh lên thay áo đi rồi ăn cơm. Đi làm cả buổi nhọc mệt, còn lo chi chuyện… nhỏ…

Chết! Bà định nói “chuyện nhỏ nhặt”. Ba tôi sẽ nổi điên lên vì bị đánh giá quá hạ như thế. Nhưng may, bà giữ lại chữ “nhặt” và nói chữa:

- … lo chi chuyện ở nhà. Lời ơi, tao cứ phải dặn mày luôn là coi chừng gà cho cậu.

Tiếng “cậu”, má tôi nói thật ngọt ngào. Ở từ môi một người đẹp như má tôi, tiếng “cậu” thật có giá trị. Ba tôi ngoan ngoãn đi lên phòng thay áo cũng phải.

Trong bữa ăn, má tôi nói chuyện êm đềm.

- Tối thứ Bảy cậu định đi xem Đại nhạc hội hay Yến Hương?

- Yến Hương là cái gì?

- Là tên gánh hát chớ gì.

- Gánh hát gì lại tên là Yến Hương

- Ủa? Tên người ta, người ta có quyền tự do đặt mà.

- Tự do cái gì lạ vậy? Gánh hát thì phải Kim Chung, Kim Chưởng, Thanh Minh, Thanh Thinh… chớ ai lại Yến Hương?

Má tôi biết là óc của ba tôi còn bị đầu độc bởi sự bất bình lúc nãy, nên bà gắp thịt bỏ vào bát ba tôi vừa mời:

- Cậu xơi món thịt bò thui nầy xem. Hàng này ngon nhất chợ đấy.

Ba tôi gắp thịt chấm vào tương, nhai chầm chậm nghiêm trang như để nghiệm xem lời khen của má tôi có đúng không. Ông im lặng ăn luôn một thôi ba, bốn miếng. Chắc là đang tìm một tĩnh tự nào thật thích đáng để tặng cho món thịt bò này. Chúng tôi nhẫn nại đợi. Chợt ông đằng hắng to như để vội đánh lui một mảnh tương đi lộn qua thanh quản rồi khề khà nói:

- Mấy con gà hàng xóm…

Tôi trố mắt lên nhìn em tôi. Em tôi đưa mắt nhìn sang má tôi.

- …mình không ném đá cho nó sợ thì nó hay dể ngươi lắm. Cũng như người vậy. Nhưng chẳng lẽ đường đường như tao mà lại đi cầm đá ném gà? Chúng mày, - đến đây ông quay nhìn chầm chập vào mặt anh em tôi, - chúng mày ném đá thì phải phép hơn tao. Bởi chúng mày nhỏ.

Tôi nói:

- Nhưng gà nhà mình cũng hay sang bươi móc bên vườn nhà láng giềng.

- Thì bay phải gọi về. Có ai thích để vườn mình bị bươi chải bởi gà hàng xóm đâu?

- Nhưng súc vật thì chúng nó biết gì? - Má tôi nói.

- Sao lại không biết? Không biết sao khi đang bươi móc mà thấy bóng tôi là con gà nào cũng vội vã bỏ chạy, mồm la quang quác?

- Đó không phải là do những cảm tình tốt chúng dành cho cậu.

- Biết rồi. Nhưng tốt hay xấu tôi không cần, miễn là chúng đừng làm tôi khó chịu.

Tôi thấy không khí giữa ba má tôi đã có phần căng thẳng. Tôi vội can thiệp:

- Sao ba lại không thích gà nhỉ? Tính ba hay yêu chim chóc lắm mà. Con còn nhớ câu chuyện ba kể rằng ngày xưa ba đã lỡ bắn chết một con chim đang tha mồi…

- Tao nói tha rác chớ đâu phải tha mồi.

- Vâng, thì tha rác. Ba nhắm bắn trúng nó…

- Mày kể sai rồi. Tao đâu có nhắm?

- Chớ sao?

- Tao bắn bậy mà trúng.

- A! Tài ghê - em tôi nói chen vào - Ba bắn bậy mà trúng, còn con, nhắm hàng giờ mà bắn vẫn sai. Mà nào phải bắn chim nhỏ đâu, nhắm bắn vịt mà vẫn sai đó.

“Vịt hay gà thì cũng như nhau” tôi nghĩ. Thằng này ngu quá, mình khó khăn lắm mới lái câu chuyện sang một ngõ khác thế mà nó lại kéo đâm sầm trở lại vào sân gà vịt. Đúng y như tôi dự đoán, ba tôi quay sang nó.

- Bắn vịt mà vẫn không trúng thì dở quá. Con vịt chậm chạp đờ đẫn hơn con gà nhiều.

Tôi lại phải ra tay can thiệp:

- Nhưng mà ba này, rồi ba ăn thịt con chim ấy hay ba đem chôn nó?

- Ba ăn thịt. Và đó mới chính là điều làm ba ân hận mãi.

- Ba kể lại câu chuyện cho con nghe đi.

Ba tôi ngần ngừ một lát. Dường như ông tỏ ý nghi ngờ thiện chí của tôi nên cuối cùng ông nói:

- Tụi bay nghe hàng trăm lần câu chuyện ấy rồi. Vả lại, con gà khác xa con chim lắm. Con chim hiền lành ngây thơ, chớ không như con gà thực tế và đôi khi thô lỗ.

- Con gà sao lại thô lỗ? - Em tôi hỏi.

- Chớ sao lại không? Đã lẻn vào ăn vụng trộm ở vại nước nhà người ta vậy mà con gà mẹ vẫn túc con đĩnh đạc đàng hoàng và con cồ vẫn mời mọc ve vãn xung quanh những con mái. Không biết tội của mình, trái lại còn phô trương…


Ba tôi còn đang tìm chữ để tiếp, thì má tôi nói:

- Tính con vật nó tự nhiên.

- Nhưng sao khi thoáng thấy bóng tôi thì nó lại ba chân bốn cẳng mà chạy? Như vậy thì sao gọi là tự nhiên được?

Thế là má tôi bí. Mỗi lần phải cãi lý với ba tôi là thế nào má tôi cũng vội vã chịu bí. Lần này bà liền trả thù bằng cách gắp một miếng thịt bò thật to, chấm đầy tương rồi bỏ vô chén bà, thay vì đặt vào chén ba tôi. Em tôi nói:

- Như vậy nghĩa là nếu con gà hàng xóm vừa lấm lét nhìn vừa mổ thức ăn thì ba sẽ bằng lòng?

- Có lẽ như vậy. Ít nhất nó cũng phải tỏ ra rằng nó biết lỗi.

- Nhưng ba vẫn thích con Lời ném một viên đá thật to vào con gà phải không?

Ba tôi cười liền, không dấu diếm:

- Chính lời mày hợp ý tao. Chỉ cần một viên đá là mọi việc êm thấm hết. Nhưng mà này, sao con Lời nó tiết kiệm những viên đá như vậy hè? Tại sao, tụi bay có biết không? Tao tưởng vào tuổi nó thì ném đá là một cái thích chớ. Tao nhớ hồi nhỏ tao mê ném đá lắm, đụng chỗ nào cũng ném được, ném vào chó vào gà nhà người ta, vào bụi cây, vào mặt sông, vào bờ ao, ném cả lên trời nữa.

- Tại ba là con trai còn Lời nó là con gái.

- Thế dễ thường hai đứa bay cũng là con gái hết? Con trai 10 tuổi, 12 tuổi không phải sinh ra để sợ ma, để đứa ở dẫn đi tiểu.

Chúng tôi rụt cổ lại, ngồi ăn không nói vừa lẻn đưa mắt nhìn nhau cười ngầm. Những con gà thật báo hại. Giá chúng nó chìa mặt ra đúng vào lúc này thì tôi và em tôi sẽ mỗi đứa năm bảy hòn sỏi, ném vung tới, chết thôi.

Trưa hôm sau vẫn theo lệ thường ba tôi ghếch xe đạp lên hiên và cuộc hội thoại thường kỳ bắt đầu:

- Lời ơi, mày có nhớ coi gà không ?

- Dạ thưa có.

- Gà hàng xóm có tới phá không ?

- Dạ thưa không.

Ba tôi bằng lòng, lẳng lặng đứng tháo cái mũ Đài Loan thì chợt có tiếng “kéc ke ke” ở sân sau đưa tới. Thôi nguy rồi. Đúng là con gà cồ nhà thằng Hai vừa chui khe rào qua lúc nãy. Ba tôi thoăn thoắt đi vòng ra sau. Ông bắt gặp con gà sớn sác đứng nhìn ông bỡ ngỡ như nhìn một người khách lạ. Trông bộ nó vừa nghiêm trang oai vệ vừa ngớ ngẩn buồn cười. Cái mào đỏ chóe cắt răng cưa phe phẩy qua lại dịu dàng mỗi khi con gà làm một cử động nhỏ. Mà nó thì cử động không ngừng. Toàn thân là gân, là bắp thịt nên nó không chịu đứng yên. Cặp giò cao hết bới đến rảy. Rồi cái cổ cúi bên này, vục bên kia, cặp mắt láo liên, cái mặt ngẩng qua nghếch lại. Bộ lông màu hung đỏ láng mướt đẹp rực rỡ nhưng lũ thằng Hai vặt hết lông đuôi thành ra đầu đuôi không cân xứng. Nó thiếu thốn, nó ngượng ngập, nó chênh vênh thế nào ấy. Y như một bài luận có cái nhập đề hào hoa (như cái mào của con gà vậy), có cái thân bài vững vàng nhưng thiếu mất phần kết luận. Và trông ngược trông xuôi tôi vẫn có cảm tưởng như đang nhìn một người mặc áo sơ-mi thắt ca-vạt, choàng vét-tông, đội mũ Mossant mà chưa kịp mặc quần.

Con gà thiếu thốn ấy đang nhìn ba tôi. Chừng như trên mặt ông có tỏa ra đằng đằng sát khí nên con gà vụt bỏ chạy. Ba tôi rượt theo. Nó chạy dọc theo ranh rào. Ba tôi ném một viên đá. Hụt! Con gà hoảng bay vụt trở lại. Ba tôi quay lui theo. Thêm một viên đá ném tới. Lại hụt! Con gà gia tăng vận tốc và vừa chạy vừa ném trả lại sau những tiếng cục tác giận dữ. Chạy đến gần cổng, tôi tưởng nó mừng mà thoát ra nào ngờ nó chạy trở lui. Thật ngu dại một cách đáng giận, tôi nghĩ. Có lẽ màu sáng của một khung đất trống làm nó nghi ngờ. Ba tôi lại ì ạch chạy theo. Ý chừng đã thấm mệt nên chân trái hơi khuỳnh ra. Vừa đuổi đến sân sau thì đầu ông bị ngáng vào dây phơi áo. Cái mũ Đài Loan rớt đánh “bộp” xuống nền xi măng. Ông đứng lại cầm nắn cái mũ vừa xuýt xoa tìm xem có bị vết nứt không. Ở góc rào, con gà cũng đứng lại chờ. Cái mào đỏ lắc lư uyển chuyển.

Má tôi ở nhà ngang bước ra, vỗ tay mấy cái và la “ùi ùi”. Con gà nhìn nhớn nhác rồi chui lọt vào khe rào, chạy mất. Bà bước lại cầm cái mũ trên tay ba tôi, xem xét một hồi rồi nói:

- May chưa bể. Thôi, cậu thay áo rồi ra rửa mặt.

Những ngày tiếp theo, gió Bấc thổi ngược, gà bị dịch nhà nào ở nhà nấy, không còn ham phiêu lưu nữa. Chúng đứng cú rũ, thỉnh thoảng ngã chúi xuống như anh chàng ngủ gục. Lông lá xù ra. Cứt trắng dính bê bết ở lông bụng. Có con đi đếm bước ở ven rào, cổ rụt vai nhô và cánh kéo lè phè trông như ông cụ mặc áo tơi lá. Thế là ba tôi đỡ vất vả trong công việc săn đuổi và con Lời cũng yên tâm khi phải trả lời “Dạ thưa có” và “Dạ thưa không”.

Sau đó không biết chừng bao lâu, một buổi trưa kia thay vì vào giường nghỉ sau bữa cơm, ba tôi lúi húi kiếm tìm món gì đó ở chái hiên sau. Má tôi nằm ở ghế bố thiu thiu ngủ, tờ báo hàng ngày trải bên cạnh. Hai anh em tôi nằm ở đi-văng học bài chiều. Buổi trưa nồng nực. Nắng vàng như mật ong.

Chợt có tiếng đá ném đánh “đụi” một cái nặng. Tiếp theo là tiếng gà la “quác”. Rồi một tiếng đá ném “đụi” tiếp nữa. Lại một tiếng “quác” to hơn. Sau đó là tiếng con Lời la lớn:

- Chết rồi, cậu ơi, cậu ném chết con gà của mình rồi.

- Con gà nào của mình? - Giọng ba tôi.

- Con gà của mình chớ của ai? Mợ mới mua hồi sáng. Mợ cột chân nó vào thanh củi để đứng ở bụi chuối.

Anh em tôi nghe có chuyện lạ vội bỏ sách nhảy ra.

Ba tôi trên tay còn cầm một cục gạch - à, ném bằng gạch cẩn thận chớ không phải bằng đá như tôi tưởng - và chắc đang chuẩn bị để ném bồi một phát nữa thì bị con Lời làm cụt hứng. Tôi chạy lại bụi chuối.

Con gà cồ tía nằm dãy đành đạch, cái mỏ ngáp ngáp. Chân nó bị cột bằng một sợi dây vào thanh củi khá lớn. Chắc vì nó đang đứng giữa một đám lá ngải cứu nên ba tôi không phân biệt được một con gà bị tù tội xiềng xích với một con gà tự do. Quả thật vậy, vì liền đó ba tôi giải thích:

- Tao đâu có thấy cái dây cột chân? Tưởng con gà của ai sang bươi phá. Tao vung tay đuổi, nó không thèm chạy còn nghếch cái mặt nhìn. Có gà ai mà lại tự thị như vậy chưa? Hỏi làm sao mà tao nhịn được ?

Tôi lại rờ con gà. Nó đập cánh, quơ chân lia lịa để tránh tôi. Ức nó dính bết máu. Tôi nói:

- Ba ném tài ghê. Trúng ngay cái ức.

Em tôi họa theo liền:

- Không ngờ ba cũng là xạ thủ có hạng, anh nhỉ? Chưa học trường Võ bị Liên quân Đà Lạt mà đã…

- Cú đầu trúng ức, cú sau trúng bụng. Thế là hai bàn trắng không gỡ.

Má tôi lê dép xềnh xệch bước ra. Bà nói:

- Đem con gà lại đây cho má coi nào.

Tôi lật đật bê con gà trên hai tay. Cái cổ nó ngoẹo xuống. Em tôi vội vàng chạy lại bê luôn cái thanh củi đi theo sau. Sợi dây nối liền hai chúng tôi. Trong thâm tâm, chúng tôi cố ý bày vẻ linh đình như vậy để tạo một quang cảnh “bi hài” cốt chế diễu ba tôi. Nhà thiện xạ không may mắn bị chạm tự ái thật. Ông gắt:

- Tao biết tụi bay mà… Sướng lắm.

Chúng tôi lén đưa mắt cho nhau, rồi che miệng vào cánh tay cười khúc khích. Má tôi cất tiếng gọi to:

- Lời ơi! Thôi, bắc nước sôi đi con.


Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 22 Mar 2015 02:12 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47088
Thanks: 321
Thanked: 29094 times
28 . Nói Với Hư Vô


Vượt quá đèo Quán Cau, máy xe bắt đầu trục trặc. Xe hục hặc bò lên tới giữa dốc Tam Giang thì nằm ụ. Tài xế xuống xe hì hục sửa. Để tránh nghe tiếng búa gõ tiếng cờ-lê lắc cắc, tiếng động cơ gầm rú, tôi mở cửa xe bước ra ngoài . Không khí như vụt loãng ra xung quanh thấy nhẹ và mát. Gió thổi từ dưới đồng vun vút. Những bụi cây thấp, những lùm cây cao. Tiếng chim trò chuyện ở bên mặt, ở bên trái, ở sau lưng. Bước đi vài bước bỗng thấy háo hức đôi chân, tôi bảo tài xế:

- Tôi đi bộ xuống lưng dốc. Lát nữa sửa xong, anh lá i xe xuống, sẽ gặp lại.

- Dạ.

Con đường nghiêng vội vàng. Đã lâu lắm tôi mới có dịp nhìn lại những vạt cỏ mọc ven đường, thản nhiên cam phận. những bụi tranh chen lấn với những bụi gai bàn chải đứng vô tư. Một triền đồi mọc đầy lau sậy, hoa lau trắng bị gió thổi rạt nghiêng về một phía.

Con đường xổ dốc. Cánh đồng ruộng Chí Đức nằm trải rộng, màu lá lúa xanh ngắt. Con đường ôtô chạy xuyên qua cánh đồng theo một đường vòng cung mảnh, màu trắng, bị nuốt mất giữa những bức tường vôi trắng của huyện ly Tuy An. Và xa xa ở mạn đông bắc là dãy núi Sơn Chà, nơi làng quê của tôi.

Ghé lại một quán lá bên đường. Bà chủ quán trạc năm mươi, áo vải đen quê mùa. Nhìn khắp quán không thấy có gì có thể mua được để làm vui lòng một người, tôi bảo mở một chai nước cam. Khỏi cần ly, tôi nghiêng chai uống vài ngụm vừa bồi hồi nhìn khung cảnh trước mặt quán. Từ nãy giờ hình ảnh Phấn ẩn hiện loang loáng trong tầm mắt tôi bởi không gian này là nơi Phấn đã sống, đã đi lại, nơi tôi từng đi cạnh Phấn, cầm tay Phấn, nhìn Phấn cười. Bây giờ chỉ còn thấy những sỏi đá những vạt đất mấp mô mọc đầy cỏ may, sục sạc.

ngày xưa, phía kia là ngôi nhà ông Cửu Tám. Trên đầu dốc là vườn ươm thí nghiệm của Sở Canh nông. Bây giờ thì trống trải.Tôi hỏi bà chủ quán:

- Hồi xưa chỗ kia là nền nhà ông Cửu Tám. Bây giờ nhà dọn đi đâu, thím?

- Thằng Điểm con ổng dời nhà đem cất ngoài Chí Thạnh buôn bán.

- ông Cửu Tám cũng theo con ra Chí Thạnh hả?

- Đâu! ổng chết năm kia.

- Còn bà Cửu?

- Bả cũng chết rồi. Chết trước ổng.

- Vợ chồng ông Cửu có người con gái...

- Tới ba đứa.

- ...Cái cô thon mảnh, khuôn mặt xinh. Chỉ màu da hơi ngăm ngăm.

- Đứa nào hè? Con lớn, con Trang lấy chồng ở Sông Cầu, mập trắng chớ đâu có đen?

- Không, cô này ôm ốm, manh mảnh.

- Tôi mới tới ở sau này. Cũng không rõ lắm.

- cô ấy tên Phấn. Ở nhà hay kêu là con Thúi. Một người đàn bà từ nãy giờ ngồi yên lặng ở chiếc chõng tre, mắt hướng ra sân nắng, chợt cất tiếng:

- Chị Năm, có ai hỏi con Thúi vậy?

- Có ông... này. Lạ...

Người đàn bà quay mặt về phía tôi và tôi nhác thấy đôi mắt đục, không hồn, đưa qua đưa lại vu vơ vô định.

Tôi lễ độ cất tiếng:

- Dạ, tôi hồi xưa có quen với gia đình ông Cửu.

Người đàn bà:

- Vậy hả? Vậy chắc ông không phải là người miền này. Chắc ông là người miền Nam ra ở đây thời chín năm?

- Dạ... dạ.

Tôi lúng túng. Im lặng một lát. Chợt người đàn bà:

- Hồi nãy ông hỏi con Thúi. ông có quen nó à ?

- Có biết.

- Nó chết rồi, ông có biết không?

- Có nghe nói.

Lại im lặng. Người đàn bà như dõi đôi mắt tối nhìn về khoảng tối. Thái độ im lặng trang trọng:

- Nó rụt rè ít nói. Không như con chị lanh chanh.

... Phải. Cô chị tên Trang, lanh lợi hoạt bát. Hồi mới quen, tuổi Phấn đâu cỡ mười hai. Hay cầm roi chăn hai con bò cày. Mỗi lần tôi theo cha tôi đi coi gặt đám ruộng nhà ông Cửu là Trang đeo theo trò chuyện. Rồi tất cả những việc thuộc phần mình, Trang chuyển qua cho em hết. Với lối ra lệnh ngắn gọn. Đâu có biết xã giao mơn trớn kiểu thị thành: "Chị nghĩ rằng em có thể giúp chị...", hoặc: "Dẫu không muốn chị cũng đành phải nhờ em...". Phấn không trả lời. Đôi tay làm xong việc của mình thì bắt qua làm giùm thay chị.

- Nó để bụng thương thằng Nhã con ông Học Năm ngoài Quảng Đức.

... Tôi giật mình. Nhã là tôi. Nói rằng Phấn mến tôi thì được. Ngày chị Trang đi lấy chồng Phấn mới mười sáu tuổi. Ở nhà quê, thương có nghĩa là yêu, nhất là bỏ bụng thương. Phần tôi thì, tôi thích ngồi bên cạnh nhìn đôi tay Phấn làm việc vừa nghĩ mông lung. Về sự sống, về tình yêu, về hạnh phúc mà cuộc đời bất công thường từ chối, không dành cho những bàn tay như vậy. Phấn có nước da ngăm ngăm, mái tóc chải sát da đầu với đường rẽ chân phương chạy ở giữa. Lông mày dài thanh tú, lông mi cong và đôi mắt đen dịu dàng. Khuôn mặt thon, mũi nhỏ và thẳng, đôi môi... phải dùng chữ gì để tả đây, chỉ biết đôi môi dễ thương.

Hôm phát hiện sắc đẹp của Phấn là hôm tôi lội qua trổ ruộng, bị một con đỉa trâu bám ngay ống chân. Hoảng quá nhảy lên bờ, chụp luôn Phấn đang đứng gần đó, còn chân thì quẹt túi bụi lên cỏ. Phấn cúi xuống nhẹ nhàng gỡ con đỉa rồi ném ngay xuống ruộng. Xong, đứng dậy chùi tay vô ống quần vừa nhìn tôi. Hơi mỉm cười. Chắc có ý mắc cỡ cũng nên, vì bị tôi chụp nhầm. Tôi bắt gặp nét đẹp của Phấn lúc đó.

- Nó để bụng thương thằng Nhã nhưng nhà thằng này giàu, con chủ ruộng, còn ông Cửu Tám là nhà rẽ.

... Mỗi năm chỉ vài lần tôi ghé nhà Phấn coi gặt. Tôi thấy em dịu dàng làm việc không rảnh tay. Áo quần không ngoài một bộ vải đen và chân không hề mang guốc dép.

Nhớ có hôm ngồi nhìn khoảnh rừng trước nhà Phấn, tôi thấy có cây gì cao vượt trội, tán rộng, điểm rải rác những chùm hoa phơn phớt màu tím lợt. Tôi bảo em dẫn tôi đi vô coi. Bà Cửu nghe trong câu nhờ có rực rỡ những tiếng tàn cây cánh đài phấn hoa... thì nghĩ đây là chuyện nghiên cứu nghiêm trang nên bà giục Phấn đưa chổi cho bà dọn tiếp ngọn rơm để dẫn tôi đi.

Tôi bước cạnh Phấn. Đôi bàn chân em mỏng xỏ vào đôi dép cao su cũng mỏng. Những bụi găng. Những bụi thơm Tàu đứng rải thành hàng dài, giống nhau một vẻ tự phụ. Những bụi móc mèo ranh mãnh.

- Em ít đi vô ngả này. Quơ củi hay hái sim hái ổi, nhổ nấm nhổ bông giờ, em đi ngả phía kia. Cái cây anh nói, đứng ở trại vịt ngó vô cũng thấy. Mùa này nó ra bông. Gió thổi, phấn của bông bay rắc xuống nhè nhẹ.

- Ở đây người ta kêu tên nó là gì?

- Em không nghe. Thiếu cha gì cây. Ai hơi đâu mà đặt tên cho khắp.

- Vậy thì anh đặt: cây bông Phấn.

Phấn nguýt tôi một cái.

Em ngồi cạnh tôi trên một tảng đá. Mùi thơm của nhựa cây và màu xanh mát bao quanh. một cảm giác dễ chịu lâng lâng. Cây cối chằng chịt, mặc ai nấy mọc, phần ai nấy lo, mạnh thì vượt lên, yếu thì nhường lối không che giấu, không ồn ào.

Tay Phấn chợt đưa lại gần tôi:

- anh Hai để em bắt con kiến hù nhọt bò ở cổ.

Tôi quay lại. Bàn tay em kề sát mặt tôi và tôi bỗng muốn cúi gần hôn nhẹ lên ngón tay. Nhưng tôi kịp giữ lại. Tôi hiện đang có người yêu và tôi không được coi thường em.

- Năm 1946 thằng Nhã cưới vợ. Nghe nói con vợ đẹp mà giàu, mà học giỏi. Con Thúi buồn. Nó tâm sự tỉ tê với tui: nó muốn đi tu. Nhưng kháng chiến rồi mà, chùa chiền đâu còn thong thả để xin tu. Nó có theo sõng ông Cửu ra Quãng Đức đăng lúa để coi mặt vợ thằng Nhã. Nó về buồn hung, vì con vợ thằng Nhã quả đẹp thiệt. Đặc biệt nước da trắng hồng. Nó khóc với tui, nói muốn bỏ xứ đi hoang, nhưng đang chiến tranh, đường lộ đào phá, đâu còn xe cộ mà quá giang.

.. Nội dung bi thảm như vậy sao? Quả là có một hôm tôi đi đâu về, nghe vợ tôi kể rằng hồi sáng có cô bé con ông nhà rẽ đứng nhìn mình. Thấy cô bé mặt mũi xinh xắn, vợ tôi lại gần hỏi chuyện. Cô bé chỉ trả lời ngắn. Sẵn hai trái cam để trên bàn, vợ tôi cầm trao tặng nhưng cô lắc đầu, cám ơn.

- Tháng Tư năm đó đói - hình như năm 1 952 - Pháp thả bom Cầu Máng Tuy Hòa: Đồng bào lên núi đào củ mài củ chuối ăn thay cơm. Thúi cũng đi đào. Đi vô rừng đó (người đàn bà hướng mặt về ngôi rừng). Bị chó dại cắn.

- ... Tôi có nghe nói.

- Khi nó sắp chết, nó khóc với tui; bữa đó nó nói dối là đi đào củ mài chớ thiệt ra thì đi đào củ mài đâu phải đi đường đó. Nó đi vô phía mấy bụi thơm tàu rồi tới ngồi dưới gốc cây.

... Tôi giật mình. Như có ngón tay ai bấm nhẹ nơi trái tim tôi. Phấn đã âm thầm yêu tôi, đã đau khổ đã một mình đi lại trên lối cũ để nhớ tôi, và cái chết đã đón em nơi ấy. Trong khi tôi chỉ đơn giản thương em vì nghèo phải đi đào củ mài mà gặp nạn.

- nghe nói có hồi nó tỉnh, nó năn nỉ cha nó đem chôn nó dưới gốc cây bông tím đó. Không nghe ai kể lại vì sao. Chỉ biết là ông Cửu Tám làm theo lời xin. dễ ợt mà. Núi rừng rộng mênh mông đó tha hồ. Chớ có như ở thành phố đâu mà phải nằm nghĩa trang.

... Tôi bàng hoàng. Cảnh vật như đang vun vút chạy trước mắt. Lấy cớ ngồi mỏi, tôi đứng dậy xin đi ra ngoài một chút. Rồi lần theo lối mòn đi về phía rừng cây. Cũng lại những bụi gai móc ó, móc mèo. Cũng lại những...

Mộ của Phấn đây rồi. Chỉ một nấm đất thấp, đất đắp vun lên. Những viên đá xếp xung quanh. Tôi ngồi xuống, tay mân mê những sợi cỏ vàng úa. Ngày xưa mái tóc của em chải sát da đầu. Lông mày em... Lông mi em... Đôi môi em... Chợt nhớ rằng em đã ngồi đây vì tôi và gặp cái chết nơi đây, trong khi... tôi chợt nấc lên tiếng khóc không giữ được, hai tay ôm lấy viên đá dằn ở đầu mộ. Tôi cúi xuống áp mặt lên viên đá và nước mắt rơi ướt mặt đá.

Tiếng xe rồ gọi tôi nơi quán nước. Tôi đứng dậy. ngôi mộ nhỏ nhắn như giáng ngồi của Phấn ngày nào.

Phấn ơi! Thúi ơi! ảnh chưa dám một lần ôm em vậy mà em đã chết, chết cô đơn trong vòng tay và nụ hôn em mới chỉ nhận được trong ước mơ.

Hơn ba thập niên đã lặng lẽ trang trọng trôi qua kể từ hôm tôi ngồi bên mộ Phấn. Những người quen thân lần lượt nằm xuống và vợ tôi cũng đã từ trần. Những hồi cô đơn tâm hồn nhẹ nhàng sống lại những ngày dĩ vãng, tôi nhiều lần nhớ Phấn. Những hồi đau bệnh, tôi êm đềm gợi lên hình ảnh em và tôi bình tâm ít thấy sợ hãi. Mười sáu năm, em bước vào cuộc sống và nhẹ nhàng bước ra, không hề được hưởng một chút êm ái yêu đương. Tôi trân trọng yêu cái hình ảnh trong sạch của em, người bạn đường cuối cùng đã lặng lẽ đi bên tôi, đang ngồi chờ tôi, giúp tôi coi nhẹ mọi hạnh phúc, chấp nhận mọi khổ đau của kiếp sống thường ngày.


Võ Hồng

_________________
Image


Top
 Profile  
 
Display posts from previous:  Sort by  
Post new topic Reply to topic  [ 29 posts ]  Go to page Previous  1, 2, 3


Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest


You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum

Jump to:  
cron
POWERED_BY
Translated by Maël Soucaze © 2009 phpBB.fr

MangTreVN được xây dựng từ 1 nhóm bạn trẻ vào Tháng 2, 2010 và phát triển bởi các Thành Viên.
Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về nội dung mà người dùng đưa lên hoặc download