Welcome to www.MangTreVN.com. Click here to register
It is currently 21 Nov 2017 15:16




Post new topic Reply to topic  [ 18 posts ]  Go to page Previous  1, 2
Author Message
PostPosted: 29 Jan 2016 20:09 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
11 . Giấc Mộng Hèn Sang


Vào năm Thiệu Hưng đời Tống, tại Lâm An, kinh đô hoa lệ của Đông phương, tuy là hào hoa tráng lệ, song những kẻ hành khất rất đông.

Trong bọn hành khất có bầu ra một “Đầu nậu”, có nhiệm vụ cai quản, xét xử lấy họ. Cứ hàng ngày, bọn ăn xin đi xin được bao nhiêu tiền bạc lại phải về trình với Đầu nậu một số ít. Vì vậy mà người Đầu nậu tuy không đi xin vất vả như bọn hành khất, song có rất nhiều tiền bạc.

Bọn hành khất lại kính trọng người Đầu nậu lắm. Người Đầu nậu nói gì chúng cũng phải nghe theo. Cho nên người Đầu nậu qua một thời gian trở nên giàu có vô cùng.

Thuở ấy, một người họ Kim, tên Lão Đại, đã ba đời lĩnh chức Đầu nậu từ tổ tiên truyền lại. ông ta giàu có lắm. Tuy không phải là bậc phú gia địch quốc song cũng đứng vào hạng nhì hạng ba trong thành phố.

Kim Lão Đại già nua, xét mình không thể giữ nhiệm vụ ấy mãi nên truyền lại cho người em họ là Kim Lại Tử.

Gia đình sung túc, Lão Đại lại có một người con gái tên Ngọc Nô. ông ta cưng đứa con gái ông lắm.

Nàng Ngọc Nô tuổi mới trăng tròn, mà nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn. Nàng lại thông minh, học hành rất giỏi.

Lão Đại muốn kén cho con một người chồng xứng đáng, song vì tăm tiếng xưa nay, nên những bậc văn nho, thế phiệt không ai buồn để ý đến.

Lão Đại buồn lắm, ngày đêm ngẫm nghĩ :

- Nếu tổ tiên ta không làm cái nghề Đầu nậu thì chắc với tài năng, nhan sắc đứa con gái ta, ít ra cũng kén được người khoa mục. Tiếc thay !

Một hôm, Lão Đại đem à ấy tỏ với người hàng xóm. ông lão hàng xóm thương tình, tỏ ý:

- Dưới cầu Thái Bình có một anh chàng rất nghèo khổ, họ Mặc tên Tư, đã đậu tú tài, nhưng tuổi mới đôi mươi cha mẹ mất sớm, nếu ngài không chê nghèo khổ thì tôi có thể làm mai cho ái nữ được.

Lão Đại nghe nói rất vui mừng, tỏ à ưng thuận. ông già hàng xóm vội vã đến cầu Thái Bình nói với Mặc Tư.

Mặc Tư lâu nay sống trong cảnh túng thiếu cơ cực, nay được người giàu có để ý đến thì còn gì mừng rỡ hơn.

Thế là cuộc hôn nhân tác thành. Lão Đại chọn ngày lành để làm lễ thành hôn.

Mặc Tư vì nghèo khổ, trăm việc đều nhờ Lão Đại lo liệu cả. Ngày tiệc lễ quan khách đến dự rất đông. Ai nấy thấy Mặc Tư dung nhan tuấn tú, ra vẻ hào hoa, trong lòng rất phục, cho Lão Đại là một kẻ có phúc.

Mặc Tư thấy nàng Ngọc Nô mười phần xinh đẹp, trong lòng rất cảm khoái.

Tuy nhiên, vì sợ mang tiếng với người rể, nên hôm ấy Lão Đai không mời Lại Tử, người chú họ mà hiện đang giữ chức Đầu nậu trong bọn hành khất.

Không được mời, Lại Tử hậm hực trong lòng, thầm trách Lão Đại đã khinh mình, bèn xúi bọn hành khất đến nhà làm nhục để trả đũa.

Vốn kính nể người Đầu nậu, Lại Tử nói gì mà bọn hành khất không nghe. Vì vậy trong lúc quan khách đang ăn uống thì có vài chục người hành khất xông vào, áo quần dơ dáy, mình mẩy hôi thúi, kéo ghế ngồi, rót rượu uống, làm huyên náo cả nhà.

Lại Tử ngồi giữa bàn, lớn tiếng nói :

- Mau gọi cháu rể ra chào chú vợ chớ.

Mặc Tư và cả bạn bè của chàng được mời đến hổ thẹn bỏ đi hết. Lão Đại ngồi chết điếng, nhưng không biết phải làm sao đành năn nỉ người chú họ và bọn “quà khách” thương tình cho.

Người Đầu nậu và bọn hành khất chẳng nói gì cả, cứ ăn uống và chuyện trò mãi. Đến lúc quan khách bỏ đi hết, trong nhà vắng tanh mới chịu ra về.

Tối hôm ấy, Lão Đại buồn bã, ngồi đứng không yên...

Nàng Ngọc Nô trong lòng căm tức, thỉnh thoảng bước ra tìm đủ lời để an ủi cha nàng. Nàng nói :

- Cha đừng buồn làm gì. Dẫu sao số phận của con đã như vậy rồi. Nếu phải duyên nợ thì Mặc Tư sẽ không vì thế mà khinh nhà mình. Còn nếu như chàng khinh bỉ thì con đành cam số phận vậy.

Lão Đại thấy con tha thiết, trong lòng đau đớn vô ngần.

Mặc Tư sau khi bỏ đi, nghĩ mình đang cảnh khốn khổ, nay lại được vợ đẹp, giàu sang, bỏ đi thì tiếc, nên tối hôm ấy chàng trở lại...

Lão Đại mừng rỡ, tiếp đón ân cần.

Nàng Ngọc Nô khuyên chồng cố công đèn sách, ăn học để chuộc lại tiếng tăm cho gia đình. Mặc Tư nghe lời, ở đó học hành.

Thôi thì sách vở, chi phí mỗi mỗi đều sắm sửa cho Mặc Tư, không thiếu một món gì cả. Hễ Mặc Tư muốn gì thì có nấy.

Qua ba năm đèn sách, Mặc Tư thi đỗ giải nguyên, rồi đỗ luôn tiến sĩ.

áo gấm, hốt ngà. Mặc Tư vinh quy trở về nhà nhạc phụ. Khi đám rước về đến nơi, bọn hành khất xúm lại bàn tán :

- Kìa ! Rể người Đầu nậu đỗ tiến sĩ kia !

Câu nói ấy lọt vào tai Mặc Tư làm chàng ta áy náy, hổ thầm. Chàng tự nghĩ :

- Nếu biết số phần ta có ngày vinh hiển như hôm nay thì thiếu gì nơi trâm anh thế phiệt, tội gì lại chui vào cái nơi thô bỉ để suốt đời chịu lây tiếng xấu của người.

Vì nghĩ như vậy, từ khi được đỗ tiến sĩ, chàng về nhà lạt lẽo với nàng Ngọc Nô, và khinh dễ gia đình nhạc phụ.

Một hôm, Mặc Tư được chiếu vua bổ đi nhậm chức Tư bộ trong trại quân Vi Vô. Kim Lão thấy rể mình bước lên đường danh vọng, mừng rỡ làm tiệc đãi đằng để tiễn biệt.

Dự tiệc xong, Mặc Tư đem nàng Ngọc Nô theo và từ giã nhạc phụ. Lão Đại thương con không nỡ rời, song nghĩ đến câu “xuất giá tùng phu” nên phải cam lòng, cắp cho bốn đứa a hoàn và hai tên tùy tùng để theo phò tá Ngọc Nô.

Thuyền của Mặc Tư đi được mấy ngày thì đến ven sông Thái Thạnh. Mặc Tư lòng buồn, nghĩ đến tăm tiếng của mình, nên ra nơi đầu thuyền ngồi ngắm trăng than thở.

Bỗng chàng sanh ra một ác ý, gọi con a hoàn mời nàng Ngọc Nô ra đầu thuyền thưởng nguyệt. Nàng Ngọc Nô bỗng nhiên thấy được chồng lưu luyến, lòng mừng khôn tả, vội sửa soạn xiêm y ra ngồi một bên chồng âu yếm.

Trăng khuya, gió lạnh, chờ cho bọn tùy tùng ngủ hết, Mặc Tư xô nàng Ngọc Nô xuống sông, rồi hô oán rằng nàng đã vô ý rơi xuống nước.

Bọn tùy tùng đâu biết được ác ý ấy, khi thức dậy thì Mặc Tư đã cho thuyền chạy cách đó năm mươi thước rồi cắm lại. Mặc Tư sai người lặn xuống sông tìm kiếm để tránh tiếng. Nhưng làm sao tìm được khi người rơi một nơi mà tìm một ngả.

Nàng Ngọc Nô khi rơi xuống nước tâm thần mê loạn, khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên một chiếc thuyền lạ. Chiếc thuyền này là chiếc thuyền của Hứa Công, quan tổng trấn tại Vi Vô.

Nguyên Hứa Công đi kinh lý, đêm ấy cắm thuyền xem trăng, bỗng thấy xác một người đàn bà trôi tấp bên ven thuyền nên vội vàng rớt lên, và cùng vợ là Hứa phu nhân săn sóc.

Khi nàng Ngọc Nô tỉnh dậy, vợ chồng Hứa Công gạn hỏi, nàng đem đầu đuôi công việc kể lại cho vợ chồng Hứa Công nghe.

Hứa Công nói :

- Con đừng buồn, con cứ ở với ta, làm nghĩa nữ, một ngày nào đó ta sẽ tác thành con một nơi xứng đáng.

Từ đó, nàng Ngọc Nô là con gái của Hứa Công.

Hứa Công lại làm quan Tổng trấn ở Vi Vô, nên chức tư bộ của Mặc Tư vẫn là chức trong thuộc hạ của ông ta.

Một hôm, thấy Mặc Tư, Hứa Công đau đớn thầm trách :

- Đáng tiếc con người thanh niên tuấn tú như vậy mà lòng dạ lại bạc bẽo vô luân.

Rồi cách đó vài tháng, Hứa Công tỏ ý cho mọi người biết là ông đang tìm cho con gái ông một người rể.

Mặc Tư lúc đó mang tiếng là góa vợ, nay thấy quan Tổng trấn có ý kén chọn khách đông sàn, lòng mừng khắp khởi, gắm ghé tỏ ý muốn cầu hôn.

Hứa Công thấy vậy vào hỏi nàng Ngọc Nô :

- Nay cha đã lựa cho con được một người chồng xứng đáng, tuổi trẻ, học giỏi, vậy ý con như thế nào ?

Nàng Ngọc Nô khóc sướt mướt nói :

- Tuy Mặc Tư bạc bẽo, nhưng thân con gái chỉ lấy một lần chồng thôi, con xin nguyện thủ tiết trọn đời, không màn đến chồng con nữa.

Thấy Ngọc Nô có lòng trung nghĩa, Hứa Công thương tình, đem câu chuyện chàng Mặc Tư cầu thân tỏ bày với con gái nuôi mình.

Nàng Ngọc Nô cảm thấy tấm lòng tham của Mặc Tư đáng khinh bỉ, tuy nhiên, muốn được trọn vẹn câu “bất sự nhị phu”, nàng buộc lòng ưng thuận. Ngày lễ thành hôn đến, Mặc Tư trong lòng rất vui đẹp. Chàng nghĩ thầm :

- Nếu trước kia ta không tàn nhẫn như thế thì làm sao hôm nay có được một nơi danh giá như vầy.

Tối hôm ấy cửa phòng hương hé mở, Mặc Tư bước vào làm lễ hoa chúc, vừa bước vào liếc thấy dung nhan của vị hôn thê hoa nhường nguyệt thẹn, trong lòng chàng rộn lên một niềm hoan lạc, nhưng khi bước đến gần, nhìn tận mặt thì bỗng chàng ré lên :

- Ma ! ma !

Mặc Tư kinh ngạc là phải, vì chàng có ngờ đâu trước măt chàng người vợ mới cưới của mình lại là nàng Ngọc Nô thuở nọ.

Nàng Ngọc Nô mỉm cười nói :

- Tôi là người thật, đâu phải là ma. Có gì mà sợ thiếp như thế ! Chàng nỡ đang tâm giết vợ để lấy một người vợ danh giá hơn.

Mặc Tư ấp úng :

- Tại sao nàng lại còn sống được ?

Nàng Ngọc Nô đem đầu đuôi câu chuyện chết đuối của mình kể lại cho Mặc Tư nghe. Mặc Tư cảm động, biết lỗi mình, ân hận vô cùng. Chàng quỳ xuống đất tạ tội, rồi gục đầu vào chiếc gối khóc rả ríc.

Thấy chồng đã hối ngộ, dù có mắng nhiếc đến đâu cũng bằng thừa, nàng Ngọc Nô vội đỡ Mặc Tư dậy.

Từ đó hai vợ chồng rất hòa thuận với nhau, coi Hứa Công như cha nuôi, lại rước Lão Đại về ở chung với mình, phụng thờ như cha đẻ vậy, không bao giờ còn có ý nghĩ sang hèn nữa.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 29 Jan 2016 20:10 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
12 . Những Kẻ Chết Đói


(Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh,

Hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt)

Vào đời nhà Hán Văn Đế, có một người bề tôi tên Đặng Thông, vốn kẻ trung nghĩa. Đối với dân, ông ta là bậc thanh liêm, đối với vua, ông ta là kẻ chính trực, đối với nước, ông ta là kẻ trung thành.

Với những bản tính đó, Đặng Thông được vua Văn Đế yêu dùng và biệt đãi hơn các quan cận thần khác. Vua Văn Đế trao cho Đặng Thông tất cả mọi quyền hành, khi ra xa giá, lúc ở lâu đài, mỗi mỗi đều tỏ ra một người phong lưu thế phiệt.

Tài đức như thế, cao sang như thế, trong đời còn ai dám sánh. Thế mà một hôm, Đặng Thông ra khỏi thành độ vài dặm thì gặp một gã xem tướng số tên Huỳnh Liên, ăn mặt rách rưới, mặt mày bẩn thỉu, trông thấy ông liền ngửa mặt lên trời cười ha hả, rồi chỉ vào mặt nói :

- Kìa, Đặng quan nhân, chớ thấy sang trọng nhất thời mà mừng ! Tôi e ngài chết đói một ngày không xa đấy.

Đoàn quân tùy tùng thấy Huỳnh Liên, gã thầy tướng có cử chỉ vô lễ với đại quan, thất kinh vội xúm lại bắt, và toan giải về triều trị tội. Nhưng Đặng Thông lại không lấy thế làm giận, truyền bộ hạ dẫn Huỳnh Liên đến trước kiệu, hỏi :

- Ta là một bậc đại quan tại triều đình, phú quà có thừa, quyền uy có một, sao ngươi dám bảo ta là kể chết đói ?

Huỳnh Liên lễ mễ nói :

- Thưa đại quan, kẻ hèn này dám vô lễ nói lời ấy, xét ra rất có tội ! Nhưng kẻ hèn này cũng không phải biết nói sao hơn, vì sự thật là thế. Chẳng bao lâu đại quan sẽ là một người chết vì đói khát.

Đặng Thông mỉm cười hỏi lại :

- Chết sống là chuyện thường của người có trách nhiệm với nước với dân. Nhưng ngươi căn cứ vào đâu mà bảo ta sẽ bị chết đói ?

Huỳnh Liên thưa :

- Tiện nhân có nghề xem tướng lưu truyền đã mấy đời, kẻ nào chết đói khi trông thấy đã biết ngay. Kìa nơi miệng đại quan có một đường vạch chạy thẳng từ cầm đến mép, đó là tướng chết đói rồi. Dẫu đại quan có sang trọng đến đâu bạc vàng đầu kho, cũng không thể nào tránh khỏi.

Đặng Thông không tin. Bọn quân hầu khúc khích cười bảo nhau :

- Thật là kẻ điên cuồng ! Một vị quan giàu có nhất triều mà hắn dám bảo là chết đói !

Có kẻ thưa với Đặng Thông :

- Gã này muốn dùng nghề xem tướng xỉ mạ đại quan. Xin đại quan cho phép chúng tôi bắt nó đem về triều đình cho một bữa để nó chừa tính ngông cuồng ấy.

Đặng Thông xưa nay vốn tính nhân từ, không muốn hành hạ ai nên cười lớn, khoác tay bảo bọn thủ hạ :

- Nó bảo ta chết đói nhưng ta không chết đói thì thôi, có hại gì mà phải bắt nó đánh đập làm gì ?

Dứt lời, Đặng Thông truyền quân khiêng kiệu trở về tư dinh, không lưu tâm đến câu nói của gã Huỳnh Liên nữa. Hai hôm sau, có kẻ hay việc ấy vội vào triều tâu với vua Văn Đế.

Vua Văn Đế tức giận phán :

- Chết sống số mạng do trời định, còn giàu sang là do ta. Ai dám làm cho Đặng Thông nghèo khổ mà đến nỗi phải chết đói ?

Dứt lời nhà vua truyền xuất kho cấp cho Đặng Thông mấy xe lụa là châu báu để làm của riêng, lại đặc ân ban cho Đặng Thông cả một hòn núi “Thiết đồng” để đúc tiền tiêu xài nữa.

Đặng Thông thấy nhà vua quá hậu đãi mình, lòng cảm kích vô cùng. Tuy nhiên, ông ta là kẻ không tham lam, nên cố à từ chối không nhận.

Vua Văn Đế nói :

- Ta thuở nay không tin vào tướng số, nay có gã thầy tướng bảo khanh có tướng chết đói, vậy ta cấp cho khanh của tiền châu báu, khanh cứ nhận lấy xem thử làm thế nào chết đói được ?

Đặng Thông tâu :

- Hạ thần đã được Bệ hạ ưu đãi thế này, kể cũng quá lắm rồi ! Tiền của hạ thần dẫu tiêu suốt đời cũng chưa hết, vậy xin Bệ hạ để của ấy cấp phát cho dân nghèo.

Vua Văn Đế không nghe, nhất quyết buộc Đặng Thông phải nhận lụa là châu báu và hòn núi “Thiết đồng” kia ! Do đó, Đặng Thông trở thành một người giàu có nhất trong nước, sang trọng vô cùng.

Trong thời gian đó, mỗi lần vua Văn Đế thấy mặt Đặng Thông vào chầu, mỉm cười bảo:

- Ta ra lệnh cho khanh phải ăn tiêu cho thật sang trọng đấy nhé.

Triều thần ai nấy đều lắc đầu, le lưỡi thầm bảo nhau :

- Gã thầy tướng đã làm giàu cho Đặng Thông như thế thì làm sao Đặng Thông chết đói được ?

Thời gian chẳng bao lâu, vua Văn Đế bị bệnh nặng, thổ huyết, máu luôn đầy miệng, nghẹt thở nằm xỉu trên long sàng. Đặng Thông cảm nghĩa, xem thân vua như thân mình, vội cúi xuống ghé mồm hút huyết tiếp hơi, cứu nhà vua tỉnh lại.

Ngay lúc đó, Thái tử vào thăm, thấy máu ra ràn rụa, và cử chỉ của Đặng Thông trông rất ghớm ghiết, làm cho Thái tử trở về cung không ăn uống được, nhất là các món ăn tươi có máu, Thái tử thấy rợn cả người.

Và từ đấy, Thái tử cũng ít lui tới, viếng thăm vua cha.

Văn Đế biết được việc ấy, tức giận than :

- Bây giờ ta mới rõ, chỉ có Đặng Thông là bầy tôi trung thành mà thôi ! Rất đỗi Thái tử còn gớm ghiếc ta, tình nghĩa cha con thực không bằng người ngoài vậy.

Câu nói ấy tuy Văn Đế chỉ nói riêng với Đặng Thông, nhưng về sau cũng lọt vào tai Thái tử, làm cho Thái tử bất bình, đem lòng căm tức Đặng Thông vô cùng.

Đối với Đặng Thông là kẻ tôi trung, hành động của ông ta là hành động đền đáp ơn vua. Tuy nhiên, Thái tử lại cho đó là hành động dua nịnh, để vua cha ghét mình, thế mới rắc rối.

Rủi thay, bịnh tình Văn Đế mỗi lúc một nặng thêm, rồi chẳng bao lâu nhà vua phải băng hà, để lại một mối cừu thù sâu sắc trong lòng vị Thải tử non trẻ kia.

Thái tử lên ngôi kế vị, lấy hiệu là Cảnh Đế.

Lòng đã sẵn thâm thù, Cảnh Đế liền hạ lệnh bắt Đặng Thông trị tội, sung công hết tài sản, giam Đặng Thông vào ngục, và cấm không cho đem cơm nước.

Thế là Đặng Thông phải chịu chết đói trong ngục, không có một lời thán oán.

Lời tiên đoán của gã Huỳnh Liên đến lúc ấy mới thấy là đúng. Các quan trong triều lớn bé đều kinh khủng, cho rằng tướng mạo con người đã hình ra không thể nào tránh khỏi được.

Bấy giờ, tại triều Cảnh Đế có quan Thái sư tên Châu á Phú vốn là kẻ tham giàu sang, thấy mình đang trọng chức, sợ ngày sau có điều gì rủi ro chăng nên lẻn ra ngoại thành đến nhà gã Huỳnh Liên hỏi thăm tướng mạo.

Huỳnh Liên xem qua thấy quan Thái sư họ Châu lại cũng có một vằn chỉ chạy xéo vào miệng, nên vỗ tay cười lớn, nói :

- çi thôi ! Quan Thái sư lại cũng có tướng chết đói rồi ! Đường chỉ “chết đói” đã hiện rồi thì ngày chết đói cũng chẳng bao lâu nữa.

Quan Thái sư buồn bã vô cùng, trở về dinh lo thu xếp bạc vàng gởi đến một nhà người thân cách kinh đô trăm dặm, để phòng khi có xảy ra tai nạn thì trốn đến đó dung thân. Việc làm của quan Thái sư tuy kín đáo, nhưng không thoát khỏi tai mắt của các cận thần.

Các quan cho là quan Thái sư sanh dị tâm nên mậu tâu với vua Cảnh Đế.

Vua Cảnh Đế lập tức cho ngự lâm quân vây phục tư dinh quan Thái sư họ Châu, bắt quan Thái sư hạ ngục và tịch thâu tài sản.

Chẳng bao lâu Châu á Phú cũng bị chết đói như Đặng Thông trước kia.

Lúc này, chẳng những quan quân trong triều, mà khắp cả kinh đô, ai cũng ca tụng Huỳnh Liên là một nhà tướng số giỏi vào bậc nhất.

Đặc biệt hơn nữa, thời bấy giờ, trên mặt người nào có đường vạch chạy xéo vào miệng, thì dân chúng hoặc phỉ nhổ, hoặc thương hại, cho là kẻ “chết đói” vậy.

Trong lúc dân chúng đang sợ những người có tướng chết đói, thì nơi một làng kia có gã Bùi Độ, tuổi trẻ nhà nghèo, đi bán dầu lang thang khắp đó đây, lại xuất hiện nơi miệng một đường chỉ “chết đói”.

Một hôm, Bùi Độ đi qua kinh thành. Huỳnh Liên đứng ở đầu chợ trông thấy lấy tay vẫy gọi chàng lại, và nói :

- Kìa, ông bạn ! çng bạn đã nghèo khổ mà lại bị đường chỉ vạch xéo trên miệng thế kia tránh sao khỏi bị chết đói.

Bùi Độ thản nhiên nói :

- Tôi nghèo khổ, buôn bán độ nhật thì việc chết đói là chuyện thường, có gì lạ ?

Dứt lời, chàng gánh dầu đi vào thôn quê bán, không lấy thế làm buồn bã.

Ngày kia Bùi Độ đi ngang qua một khu đồng vắng, trời mới tinh sương bỗng thấy một cô gái tuổi độ đôi mươi, nhan sắc diễm lệ, đang ngồi trên bờ giếng lạnh, khóc nỉ non.

Lấy làm lạ, Bùi Độ bước đến hỏi :

- Cô nương từ đâu đến, có việc gì đau buồn ?

Thiếu nữ ngẩng mặt lên, thấy Bùi Độ anh chàng bán dầu, quần áo tươm tả, mồ hôi nhễ nhại, tuy nghèo nàn nhưng khuôn mặt có vẻ hiền từ, nàng lau nước mắt đáp :

- Tôi quả đang có việc buồn, nhưng nói với anh cũng chẳng ích gì, xin đừng hỏi đến làm chi !

Bùi Độ trông thấy nàng con gái nét hoa ủ rũ, thương tình hỏi :

- Xin quà nương chớ ngại ! Tôi tuy là kẻ nghèo khó, hèn hạ, song nếu được quà nương cần tôi việc gì, tôi xin nguyện hết lòng. Chẳng hay quà nương từ đâu đến. Tại sao phải ngồi nơi đây khóc than ?

Thiếu nữ thở dài nói :

- Tôi là con gái của quan huyện Lạc Châu, nhà ở cách đây mười dặm. Cha tôi đã già, làm quan thuở nay rất thanh liêm chính trực. Vừa rồi, chẳng may cha tôi bị gian thần sàm tấu, bươi móc những lỗi nhỏ nhen, khiến cho Hoàng đế nổi giận, truyền bắt cha tôi hạ ngục tại triều. Tôi đã đến đó thăm viếng và kêu oan nhiều lần, nhưng tên gian thần đó đã không xét đơn, còn hạ lệnh tịch thu hết tài sản của cha tôi nữa !

Thiếu nữ nói đến đấy khóc òa.

Bùi Độ cũng thở dài, để gánh dầu xuống đất nói :

- Vì mất hết cả nhà cửa, tài sản mà quà nương buồn đi lang thang đây đó chăng ?

Thiếu nữ lắc đầu :

- Không ! Tên gian thần buộc tôi phải chạy đủ ba nén vàng mới chịu dâng sớ xin tha cho cha tôi. Vì vậy đã sáu tháng nay, tôi đem cả tư trang bán hết, và đi xin xỏ các người trong thân tộc, góp nhóp đủ ba lượng vàng, định sáng mai đem vềkinh lo việc cho cha tôi. Chẳng ngờ vừa rồi tôi đi lễ chùa vô à đánh rơi ba lượng vàng ấy dưới giếng lạng này...

Nói đến đó, thiếu nữ khóc nức nở, không sao nói được nữa.

Bùi Độ biết nàng đang đau lòng vì cha nàng, nên không dám hỏi, rón rén bước tới nhìn xuống giếng lạng.

Giếng không sâu lắm, nhưng vì bỏ hoang lâu ngày lá khô rụng đầy, không ai còn rõ được bề sâu bao nhiêu nữa. Nhất là mùi hôi tanh xông lên nồng nực.

Bùi Độ thở dài, bảo thầm :

- Ba nén vàng mà đánh rơi xuống đáy giếng này thì còn biết làm sao vớt lên được ! Khốn thay !

Nhưng chàng lại nghĩ :

- Ba nén vàng ấy là sinh mạng của cha nàng ! Nàng đã góp nhóp, cực khổ sáu tháng trường mới tìm ra. Nếu mất đi tức là mất mạng cha nàng rồi ! Thế thì nàng đau đớn khóc than cũng là lẽ phải.

Nhìn thấy vẻ mặt thất vọng, đầy nước mắt của thiếu nữ, Bùi Độ động lòng nhân, nói :

- Xin quà nương cứ an lòng, tôi xin vì quà nương lặn xuống giếng nầy tìm thử, may ra có hy vọng !

Thiếu nữ khoa tay bảo :

- Không được ! Anh có lòng tốt như vậy tôi rất đội ơn ! Nhưng dưới giếng này có con trăn rất dữ. Từ hôm qua tôi đã tìm người trong thôn xóm thuê vớt, nhưng ai cũng sợ trăn không dám mạo hiểm.

Bùi Độ nhìn xuống giếng, thấy lá khô nổi lềnh bềnh, bất giác thở dài, than :

- Nếu vậy thì biết làm sao giải thoát được hoàn cảnh rủi ro đau đớn của quà nương ?

Thiếu nữ nói :

- Tôi đành chịu chết mà thôi ! Trời đã muốn hại mạng cha tôi tức như đã cắt đứt tình máu mủ. Tôi còn sống trên đời nầy làm gì nữa !

Bùi Độ biết nàng đã có à định nhảy xuống giếng quyên sinh, nên không nỡ bỏ đi, cứ đứng nhìn mặt giếng thở ngắn than dài mãi.

Bỗng chàng nhớ đến lời gã thầy tướng Huỳnh Liên, và đường gạch “chết đói” nơi miệng, thầm bảo :

- Ta đã có tướng chết đói thì trước sau cũng chết. Vậy cứ hy sinh để cứu nàng còn hơn.

Chàng nhìn thiếu nữ bảo :

- Thưa quà nương, tôi thật đau đớn trước hoàn cảnh của quà nương, muốn được quà nương cho phép tôi hy sinh giúp đỡ.

Vừa nói, Bùi Độ vừa xăm xuối bước tới bờ giếng lạng.

Thiếu nữ thất kinh hét lên :

- Trời ơi ! Xin chớ vì tôi mà chết như vậy thực chẳng ích gì !

Nàng nhào đến, nắm vạt áo Bùi Độ kéo lại.

Bùi Độ thật tình bảo :

- Thưa quà nương, tôi vốn chẳng may sinh vào cảnh nghèo khổ, lại có tướng chết đói. Nếu ham sống sợ ngày gần đây chẳng tránh khỏi cảnh chết thảm. Vậy quà nương cứ để tôi xuống giếng tìm vàng. May ra lấy được vàng tôi có thể giúp ích quà nương, bằng không nếu rủi ro chết vào bụng trăn thì tôi cũng chẳng ân hận gì !

Thiếu nữ không hiểu tướng chết đói là gì, còn đang ngơ ngác thì Bùi Độ đã co chân nhảy ùm xuống giếng.

Nhờ có sức mạnh, và nhờ biết bơi giỏi, Bùi Độ lặn xuống, chẳng mấy chốc đã mò được khăn gói vàng trồi lên mặt nước.

Chàng mừng quá, bấu vào các rễ cây lần lần leo lên.

Thiếu nữ vừa mừng vừa sợ, trố mắt nhìn, nói hổn hển :

- Người ta bảo dưới giếng này có con trăn lớn lắm, anh có thấy nó không ?

Bùi Độ lắc đầu đáp :

- Không ! Đáy giếng đầy cả bùn, mà không thấy có trăn. Chắc họ đồn ngoa đó.

Chàng trao gói vàng lại cho thiếu nữ với niềm hoan hỉ vô biên.

Thiếu nữ tiếp lấy gói vàng, rũ xiêm sụp lạy đền ơn.

Bùi Độ cản lại :

- Thưa quà nương, công tôi một chút chẳng có là bao. Miễn sao quà nương cứu được đại quan là tốt lắm rồi, xin chớ bảo là ân huệ.

Thiếu nữ nhoẻn cười, nụ cười như đóa hoa xuân :

- Thưa ân nhân, xin ân nhân cho tiện nữ biết họ tên, để còn có ngày đền đáp.

Bùi Độ nói :

- Tôi chỉ là một kẻ nghèo hèn, bán dầu khắp đó đây, không gia cư, sự nghiệp. Xin quà nương chớ bận lòng. Từ trước đến nay dân chúng trong vùng vẫn quen gọi là Bùi Độ.

Thiếu nữ cuối đầu tạ Ơn rồi mang vàng vào kinh đô lo việc chuộc tội cho cha. Trong lúc đó, Bùi Độ vẫn gánh dầu lang thang đây đó, khắp làng mạc.

Một hôm, Bùi Độ gánh dầu đi ngang qua đầu chợ, gặp gã Huỳnh Liên. Nhưng làn này Huỳnh Liên không nhìn Bùi Độ với đôi mắt khinh khi nữa, mà với vẻ kính trọng.

Lấy làm lạ, Bùi Độ toan hỏi thì Huỳnh Liên đã nói :

- à ! Anh thật tốt phước ! Tướng chết đói của anh biến mất rồi, mà thay vào đấy tướng mạo của kẻ công khanh, giàu sang tuyệt đỉnh. Tôi chúc cho anh sớm được vinh hoa.

Bùi Độ cười hề hề :

- Thôi, xin ông chớ nhạo báng tôi. Kẻ nghèo khổ này không đủ cơm ăn, lại có tướng chết đói, chẳng biết chết vào lúc nào, xin chớ đùa nhau.

Huỳnh Liên chấp tay xá dài, nói :

- Đã mấy đời làm nghề tướng số, tôi chẳng hề đoán sai. Chẳng bao lâu nữa anh trở nên một kẻ công hầu phú quà đó.

Bùi Độ hỏi lại :

- Thế tại sao thời gian trước đây ông bảo là tôi sắp chết đói ?

Huỳnh Liên giảng giải :

- Đúng vậy ! Thời gian gần đây tôi đã thấy anh có tướng chết đói, chẳng biết vì sao nay lại có tướng quan sang ! Chắc có lẽ anh đã ra công thi ân bố đức nhiều lắm ?

Bùi Độ nói :

- Tôi chỉ vừa mới cứu một thiếu nữ trong lúc hoạn nạn mà thôi.

Huỳnh Liên nở một nụ cười :

- à ! Thế chỉ vì việc ấy mà anh đã đổi tướng mạo. Sách có nói : “Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt”.

Bùi Độ không tin, chỉ cười hề hề rồi gánh dầu đi bán như cũ.

Ngày kia, vì mỏi mệt, chàng nằm ngủ quên nơi một quán vắng. Khi thức dậy, thấy gánh dầu biến đi đâu mất.

Chàng thất kinh, chạy đi tìm khắp nơi nhưng không thấy đâu cả. Thật là nguy khốn ! một kẻ nghèo khổ thế kia, chỉ biết gánh dầu đi bán kiếm lời độ nhựt, mà nay mất cả gánh gióng thì biết tiền đâu đem về trả cho chủ, tiền đâu nuôi sống trong ngày.

Bùi Độ chạy như ma đuổi, mặt mày tái nhợt, miệng lẩm bẩm chửi gã thầy tướng Huỳnh Liên :

- Cái thằng râu quặp, mày cố nhạo tao ! Hôm nay tao mất cả gánh dầu thế là ngày chết đói đã đến rồi, mày lại bảo tao sắp được vinh hoa phú quà ! çi, khổ quá !

Chạy một lúc đã mệt, Bùi Độ đến một mé rừng, thấy có một tảng đá bằng, chàng bèn trèo lên đó nghỉ, và tự bảo :

- Thôi ! Số ta là số chết đói ! Ta cứ nằm đây mà chết cho xong.

Chàng nhắm mắt để chờ chết. Bỗng trong rừng có hai người xông ra, nắm chân Bùi Độ lay gọi :

- Này này ! Gã bán dầu ! Hãy bán dầu cho chúng ta rồi sẽ ngủ.

Bùi Độ mở mắt, nhìn thấy hai người ấy mặt mày sáng sủa, ăn mặc sang trọng, lại có vẻ đùa cợt, nên tức giận đáp :

- Thôi thôi ! Để cho ta chết ! Gánh dầu của ta đã bị quân gian lấy mất còn đâu nữa.

Hai người nhìn nhau cười ngặt nghẽo, nói :

- Gánh dầu của anh đã có người mua rồi, giờ đây anh theo chúng tôi đến đó lấy tiền.

Bùi Độ ngơ ngác hỏi :

- Sao lại có chuyện lạ vậy ?

Một người đáp :

- Có gì mà lạ ! Anh bán dầu thì người ta mua. Mà đã mua thì trả tiền. Anh có bằng lòng theo chúng tôi để nhận tiền hay không thì nói.

Bùi Độ nửa mừng nửa ngại, lủi thủi theo hai người lạ xuyên rừng đi thẳng.

Chẳng bao lâu, hai người dẫn Bùi Độ đến trước một cửa cổng lớn, có đề bốn chữ “Lạc Châu huyện đường”, và dắt Bùi Độ vào đấy.

Bùi Độ sợ hãi hỏi :

- Sao các người lại dẫn tôi vào đây ?

Một người nói :

- Vì đây là khách mua hàng của anh.

Hai người dẫn Bùi Độ đi vòng quanh một lúc, vào hậu đường. Chàng thấy trước cửa một ngôi nhà mát có để hai thùng dầu của chàng, nên chàng mừng quá, chạy xổ đến, nói lớn:

- Gánh dầu của tôi đây rồi !

Chợt sau vườn hoa có bóng xiêm y phất phới, lả lướt tiến dần đến. Một thiếu nữ cực kỳ diễm lệ, mặt hoa da phấn, vóc ngọc mày ngài, vừa trông thấy Bùi Độ đã nhoẻn miệng cười, cất tiếng oanh thỏ thẻ :

- Ân nhân vẫn mạnh giỏi đấy chứ ?

Bùi Độ ngơ ngác, nhìn thấy thiếu nữ ấy chính là cô gái mà chàng đã lặn xuống giếng tìm vàng để giúp nàng chuộc cha hôm nọ.

Tuy nhiên, khác với hôm ấy, ở đây nàng đẹp như một tiên nga, tươi như một đóa trà mi buổi sáng.

Gặp lại người cũ, Bùi Độ vui mừng, vồn vã hỏi :

- Qùa nương đã chuộc được tội cho đại quan rồi chớ ?

Thiếu nữ mỉm cười nói :

- Nhờ anh mà cha con tôi đã đoàn tụ. Cha tôi lại được phục chức huyện quan, nên nhớ ơn anh cho người đến thỉnh, tìm mãi mới gặp, lại sợ anh không đến, nên tôi lập kế cho người mạo muội gánh hai thùng dầu về đây trước, xin anh chớ trách.

Dứt lời, thiếu nữ ra hiệu cho mấy tên quân hầu đưa Bùi Độ vào một căn phòng trang bày lộng lẫy, đồ đạc sang trọng.

Bùi Độ thấy chỗ nào cũng sạch sẽ uy nghi, chưa biết ngồi vào đâu, thì bọn lính hầu đã bưng lên một mâm rượu thịt ê hề, món ăn toàn là những món cao quà.

Đang đói bụng lại gặp cảnh này, Bùi Độ không còn biết ngại ngùng gì nữa, ngồi lại ăn uống no say.

Én xong, thấy buồn ngủ, chàng trèo lên bộ ván đánh một giấc, mơ màng theo men rượu. Đến lúc tỉnh giấc, Bùi Độ thấy trời đã tối, trong phòng leo lét ánh đèn dầu, cái mùi dầu quen thuộc của chàng thường ngày.

Ngoài cửa có tên quân hầu bước vào bảo chàng :

- Xin mời quà nhân qua phòng hương dùng cơm tối.

Bùi Độ vội bước theo tên quân hầu, rẽ qua đến một căn phòng rất mỹ lệ, ánh đèn le lói, các cửa đều có treo màn thêu nhiều hoa bướm.

Tên quân hầu đưa chàng đến cửa lập tức lui gót. Tức thì bên trong có một tỳ nữ, phất tay áo bước ra cung kính rước Bùi Độ vào.

Qua khỏi bức màn, một mùi thơm ngào ngạt. Giữa phòng có một chiếc bàn xinh xắn, hai bên có hai chiếc ghế thêu. Trên bàn sắp sẵn thức ăn và rượu.

Tỳ nữ đưa Bùi Độ vào ngồi đấy chưa bao lâu thì phòng bên cạnh bức màn nhung lay động, tỳ nữ chấp tay thưa với Bùi Độ :

- Cô nương tôi đến.

Bùi Độ vừa quay mặt lại đã thấy thiếu nữ khuê các mà chàng cứu nạn trước kia ung dung trong bộ y phục màu hồng từ từ bước đến, nhoẻn cười nói :

- Thưa ân nhân chớ lấy làm lạ. Tiện nữ xin tạm bỏ chút lễ nghi để đền ơn ân nhân thuở nọ.

Bùi Độ đứng dậy đáp lễ, nói :

- Qùa nương là con chí hiếu, trên đời này thật ít có. Phận tôi là kẻ hèn mọn dám đâu chịu lấy ân huệ của cô nương. Chẳng hay cô nưrơng danh hiệu là gì ?

Thiếu nữ đáp :

- Em là Ngọc Hà, từ thuở bé đến giờ theo cha trấn nhậm nơi đây, mẹ mất sớm, cố noi theo nề nếp gia phong. Nhưng vì đối với chàng ơn sâu, không thể vì phận gái mà không báo đáp.

Dứt lời, Ngọc Hà cầm lấy chung rượu, rót đầy dâng tận tay Bùi Độ.

Trước cảnh người đẹp, rượu ngon, Bùi Độ ngây ngất cả lòng. Chàng uống mãi. Càng uống càng thấy ngon.

Cho đến khuya, rượu say lúy túy, ngọn huyền đăng chập chờn ánh sáng, lung linh tỏa khắp phòng một màu huyền ảo, Bùi Độ thần trí mơ màng như lạc đến cõi tiên bồng, không cầm được dục vọng, không còn nghĩ đến phận hèn mọn của mình, liền cầm tay Ngọc Hà thở hổn hển, nói :

- Qùa nương !

Ngọc Hà nghiêm nét mặt, bảo :

- Em tiếp đãi ân nhân là để đáp đền lòng hiếu đạo, đâu phải kẻ trên bộc trong dâu, xin ân nhân chớ làm thế.

Bùi Độ sợ hãi buông tay Ngọc Hà, nói run rẩy :

- Kẻ hèn nầy biết phận, không được quà nương chiếu cố, vậy thì kẻ hèn này xin từ giả, chẳng còn dám lưu lại đây để nhìn mặt quà nương nữa.

Thấy vẻ mặt thật thà của Bùi Độ, Ngọc Hà thương hại, nói :

- Qùa nhân thành thật muốn cùng tiện thiếp xe duyên sao ? Điều đó không khó gì. Tiện thiếp đã mang ơn quà nhân, đâu còn kể đến chuyện sang hèn, chỉ sợ quà nhân hiểu lầm, xem tiện thiếp là kẻ không đứng đắn mà thôi.

Bùi Độ như cởi mở, chớp chớp đôi mi, nhìn thẳng vào mặt Ngọc Hà nói :

- Nếu được cùng quà nương gầy duyên can lệ thì phận hèn này suốt đời xin ở bên gối để phụng sự quà nương !

Ngọc Hà cầm tay Bùi Độ nói :

- Em chỉ sợ không làm tròn phận sự nâng khăn sửa trắp cho chàng ! Chàng là người ân của em, dẫu em có đem thân thờ chàng trọn đời cũng là lẽ phải ! Nhưng việc đó còn phải đợi lệnh nghiêm đường, chúng ta sẽ tính sau.

Bùi Độ lửa lòng phừng cháy, không cầm được yêu đương trước sắc đẹp diễm kiều, và giọng nói trong như suối ngọc của Ngọc Hà. Chàng ôm Ngọc Hà vào lòng, và không còn biết gì đến trời đất nữa.

Thế rồi từ đấy, Bùi Độ Ở luôn trong một phòng riêng, cách phòng hương của Ngọc Hà không xa lắm. Đêm đêm yến tiệc vui vầy. Đôi trai gái vì nghĩa mà kết nên tình cầm sắc.

Nàng Ngọc Hà vốn là gái trăm anh, từ nhỏ đã theo đòi nghiêng bút, nên các môn đờn ca thi họa đều xuất quền. Bùi Độ được nàng đem hết khả năng con nhà khuê các ra phụng sự, làm cho chàng chẳng bao lâu cũng nhuốm mùi phong lưu, không còn có cử chỉ như một gã bán dầu ngày nào ở thôn xóm nữa.

Trong thời gian đó, Ngọc Hà giấu cha nàng, không nói. Vì nàng thấy cha nàng là kể môn phong quà tộc, chẳng lẽ kén rể dốt nát quê mùa. Do đó, Ngọc Hà cố tâm rèn luyện cho Bùi Độ nên người trang nhả trước khi tỏ à với phụ thân.

Do đó, hàng ngày Ngọc Hà gần gũi Bùi Độ, đem sách vở, chữ nghĩa ra giảng dạy, khuyên Bùi Độ cố gắng học hành để tìm đường tiến thân về sau.

Được Ngọc Hà yêu mến, Bùi Độ như cởi mở tâm hồn, mỗi mỗi đều nghe lời nàng, học hành tiến bộ vượt bực.

Mối tình đôi bạn vì thế mà thấm thiết, mỗi ngày một chặc chẽ thêm. Thời gian qua mau như bóng ngựa, thấm thoát đã ba năm, Bùi Độ trở thành một khách phong lưu, văn chương thông suốt, tướng mạo đoan trang, hào hoa đến mực.

Và cũng trong thời gian đó, Ngọc Hà đã hiến trọn chữ trinh cho Bùi Độ, đến lúc thành tài thì đóa trà mi không còn giữ được mùi thanh khiết nữa.

Giữa lúc hương lửa đang nồng, Ngọc Hà nghĩ đến tương lai của Bùi Độ, quyết không để chàng ở mãi địa vị thấp hèn, nên một hôm, nàng đem câu chuyện ân nghĩa ấy thuật lại với cha nàng, xin cha nàng dung tha cho tội bất hiếu.

Cha nàng Ngọc Nữ vốn đã già, lại thương con. Hơn nữa từ nhỏ đến lớn, Ngọc Nữ thờ cha chíhiếu, nên ông không nỡ trái à, liền cho dời Bùi Độ đến yết kiến.

Bùi Độ sợ sệt vào hầu. Ngọc Lão thấy Bùi Độ đoan trang, ăn nói nhã nhặn, văn chương thông suốt nên có à mừng thầm, bèn tính việc xe duyên.

Ngọc Hà thưa :

- Thưa cha, việc lương duyên tuy quan hệ, nhưng chẳng muộn gì. Con muốn cho chồng con trước khi thành gia thất phải có một địa vị nào trong xã hội đã. Xin cha nghĩ đến đường tiến thân trước.

Ngọc Lão gật đầu nói :

- Con tính như thế cũng phải. Song cha chức phận nhỏ nhen, không đủ tư cách để tiến cử hiền tế. Vậy cha có một người bạn thân hiện giữ chức Đô úy ở Thiểm Tây, nếu Bùi hiền tế chịu hạ mình đến đó, nhờ quan Đô úy tiến cử thì mới nên danh phận. Ngặt vì từ đây đến Thiểm Tây đường xa diệu vợi, chẳng biết à con thế nào ?

Ngọc Nữ thưa :

- Việc đó không hề gì, miễn chồng con được thành danh, sau này đoàn tụ, hạnh phúc lâu dài.

Ngọc Lão rất hài lòng, liền viết bức tâm thư trao cho Bùi Độ, để sáng hôm sau Bùi Độ đến Thiểm Tây.

Bùi Độ lạy tạ Ngọc Lão, rồi lãnh thư trở về phòng riêng, mà lòng nghĩ đến việc phải xa cách Ngọc Hà, áy náy không an.

Đêm đó, Ngọc Nữ bày tiệc rượu, thết đãi Bùi Độ trọng thể chẳng khác nào buổi ban đầu. Bùi Độ gạt nước mắt nói :

- Anh muốn trọn đời ở mãi gần em, không muốn có địa vị cao sang làm chi.

Ngọc Nữ buồn bã nói :

- Làm người phải trọng đến thân danh. Nếu cứ say mê ân ái mà không nghĩ đến tương lai thì còn gì thân trai bảy thước ? Xa anh em cũng đau buồn lắm, chỉ mong sao ngày thành danh, lòng anh cũng như ngày nay không đổi khác là được. Từ đây, em đóng cửa phòng khuê, ấp mình trong chăn đơn gối lẽ, để chờ ngày anh thành đạt trở về.

Bùi Độ khóc sướt mướt.

- à em đã muốn, anh không dám trái lời ! Nhưng lòng anh luôn luôn hướng về đất Lạc Châu này để tưởng nhớ đến em, chẳng phút nào quên.

Đêm đó, đôi trai gái tâm sự cho đến sáng, nước mắt vơi đầy, không một cái gì còn giấu giếm, bao nhiêu yêu đương được cởi mở cạn nguồn, mà coi như chưa đủ.

Mờ sáng hôm sau, Bùi Độ từ giã lên đường, thẳng tới Thiểm Tây, lòng đau như cắt.

Quan Đô úy Thiểm Tây họ Đõ tên Tâm Giao, vốn là kẻ quen thân với Ngọc Lão từ thuở còn bé. Mối tình tri âm thống thiết ! Do đó, khi được thư Ngọc Lão gởi đến, Đỗ Lão quà trọng Bùi Độ chẳng khác nào một vị tân khách.

Bùi Độ được Đỗ trưởng lão cho ở một phòng riêng, cấp cho hai kẻ hầu hạ, rồi chọn ngày về triều để vận động cho Bùi Độ được bổ dụng quan chức.

Trong thời gian vắng mặt ở Thiểm Tây, Đỗ trưởng lão giao cả công việc cho người con gái là Tiểu Oanh xử là.

Tiểu Oanh là đứa con gái duy nhất của Đỗ Đô úy, từ nhỏ đến lớn theo cha trấn nhậm khắp nơi, nên công việc văn từ đã thông thạo. Gia dĩ nàng là người thông minh đỉnh ngộ, mới mười tám tuổi đầu tài kiêm văn võ, bậc râu mày cũng ít ai sánh kịp.

Từ khi Đỗ Đô úy về triều, nàng Tiểu Oanh sớm tối thường lui tới thính đường để giải quyết các công văn, giấy má.

Một đêm kia nhằm tiết trung thu, trăng vàng rực rỡ, hoa viên trăm màu sắc phô diễn dưới bầu trời sao, Bùi Độ chợt nhớ đến Ngọc Hà, mới độ nào đây, cũng cùng chàng dạo gót dưới trăng, trăm lời tâm sự. Nay chàng tấm thân vò võ một mình, thấy trăng mà nhớ đến tình xưa nghĩa cũ, bồi hồi không sau ngủ được.

Chàng thả gót ra huê viên, dạo một vòng, mặt buồn vời vợi.

Bỗng phía tây có một ánh đèn le lói, chiếu qua khe cửa sổ. Chàng lẩm bẩm :

- Nơi đây là thính đường, mà Đỗ Đô úy đã lai kinh, còn ai ở đó ? Tại sao đêm khuya vẫn còn có ánh đèn ?

Chàng tò mò bước đến, ghé mắt nhìn vào trong. Một hình ảnh quen thuộc tự ngày nào lại diễn ra trước mắt.

Trong phòng đó, một thiếu nữ diễm kiều, vẻ đẹp như tiên nga, mắt phụng mày ngài, đang ngồi trước án thư bóc từng công văn ra xem. Thỉnh thoảng môi hồng chóm nở, vẻ uy nghi không thể tả.

Hai bên lại có hai viên lại thuộc đứng hầu. Mỗi lần xem xong một công văn, nàng cầm bút phê vào đấy, rồi trao cho hai tên thuộc hạ.

Bùi Độ say sưa, ngây ngất cả người. Chẳng những chàng say sưa vì vẻ đẹp của thiếu nữ, mà chàng còn thâm phục cái uy nghi của con người khuê tú đó.

Chàng thở dài lẩm bẩm :

- Ta những tưởng chỉ có nàng Ngọc Hà của ta là đẹp hơn cả, ngờ đâu trong thế gian này có nhiều người đẹp gấp bội. çi ! Trong khuê môn là cả một vũ trụ huyền bí, là cả một bầu trời thiên thai, ước gì ta được làm thân gái, để được lui tới nơi khuê môn của các quan chức, chiêm ngưỡng những nét diễm kiều của các cô tiểu thơ cho thoa? thích.

Chàng đứng đó ngắm mải, say sưa như đang chìm sâu trong men rượu tình.

Thời gian chẳng biết là bao lâu, mãi cho đến lúc nàng Tiểu Oanh xem hết các công văn, giải quyết hết mọi việc, truyền cho thuộc lại tắt đèn, và nàng trở gót về phòng, Bùi Độ mới giật mình sực tỉnh.

Bấy giờ nàng Tiểu Oanh đã tung xiêm bước ra cửa thính đường. Bùi Độ ngượng ngịu, muốn lánh mặt, nhưng chân chàng không sao bước nổi, chỉ kịp lê vài bước ra khỏi chỗ núp mà thôi.

Nàng Tiểu Oanh trông thấy bóng chàng, vội cất tiếng hỏi :

- Người là ai ? Sao đêm đã khuya còn làm gì nơi đây ?

Bùi Độ lễ mễ thưa :

- Kính tiểu thư, kẻ hèn này có tên là Bùi Độ, được quan Đô úy thương tình lưu lại tư dinh đã hơn nửa tháng nay. Vì đêm khuya chạnh lòng nhớ quê hương nên lén ra đây nhìn trăng giải muộn, chẳng may bị tiểu thư đến bất ngờ, không kịp lánh mặt.

Nàng Tiểu Oanh thấy Bùi Độ ăn nói trang nhã, tướng mạo có vẻ đoan trang, đoán chàng là con nhà thế phiệt. Vả lại lúc cha nàng lai kinh có nói cho nàng biết việc Bùi Độ, và mục đích cha nàng về triều cũng chỉ để vận động xin cho Bùi Độ được bổ dụng.

Nghe Bùi Độ nói thế, Tiểu Oanh mỉm cười bảo :

- Tôi đã được nghe công tử vốn là người ở Lạc Châu, văn tài có một. Nay đến đâychờ ngày tiến thân. Làm trai đứng ở trong đời công danh là trọng, cớ sao lại còn mang nặng tình quê hương ?

Bùi Độ nói :

- Tiện nhân từ thuở bé đến giờ chưa quen đi xa, nên trước cảnh xứ lạ quê người lòng không tự chủ được, xin tiểu thư tha lỗi cho.

Tiểu Oanh nói :

- Nếu thấy buồn xin công tử lấy việc văn chương thi phú giải khuây, việc đó còn ích lợi hơn là cứ vò võ trông tin nhà.

Nói đến đó, Tiểu Oanh nhoẻn miệng cười rồi tung xiêm bước về phòng hương, thân hình uyển chuyển chẳng khác một cánh bướm vờn hoa.

Dưới bầu trăng sáng, Bùi Độ ngây ngất nhìn theo, hình ảnh của nàng Ngọc Hà ngày nào như hiện lên trước mắt chàng, nỗi nhớ nhung tràn ngập cõi lòng người lử thứ.

Chàng không sao chịu nỗi, và cũng không thể để cho hình bóng của người khuê tú kia khuất mắt chàng. Chàng vội bước theo, đôi mắt đăm đăm nhìn vào tấm lưng ong uyển chuyển, vòng ngực nở tròn của mỹ nhân, đang vạch hoa lã lướt. Chàng thấy như muôn ngàn cánh ong bướm đang tung tăng trước mắt.

Nhưng khổ thay, cửa phong hương cách hoa viên chẳng bao xa, chỉ phút chốc mỹ nhân đã bước vào phòng, rồi cánh cửa đóng sầm lại, hình bóng mỹ nhân đâu còn nữa.

Bùi Độ thở dài, ngồi dưới gốc cây hòe than thở, những lời nói của Ngọc Hà lúc biệt ly như còn văng vẳng bên tai. Chàng khóc ! Khóc vì nhớ nhung, vì không còn thưởng thức được cái cảnh đầm ấm tự thuở nào nữa.

Đêm khuya, bốn bề lặng ngắt, ngoài tiếng dế tỉ tê, tiếng xào xạc của gió khóc hoa rơi, thì hình như chỉ còn có tiếng thở dài của Bùi Độ mà thôi.

Chàng ngồi mãi cho đến trời hừng sáng, ánh trăng đổi màu, chàng mới lê gót về phòng, áo quần ướt đẫm.

Rồi đêm nào cũng thế, cứ mỗi tối là chàng lại lén ra vườn hoa để âm thầm nhìn bóng dáng Tiểu Oanh, nhớ đến Ngọc Hà, ôm vào lòng một niềm nhớ nhung mỗi lúc một tha thiết thêm.

Tâm tư chàng trai si tình không thể nào tả hết. Lúc khóc, lúc cười, một mình trong đêm vắng. Chàng trai đó đêm nào cũng nhuốm sương, mượn hình bóng của Tiểu Oanh để tưởng tượng đến Ngọc Hà, người vợ tương lai của chàng.

Có nhiều lúc chàng đem Ngọc Hà so sánh với Tiểu Oanh thì thấy mặc dầu Ngọc Hà đượm tình nghĩa sâu, nhưng cái đẹp lộng lẫy còn kém Tiểu Oanh mấy bực.

Thế là Bùi Độ, chàng trai bán dầu học đòi phong lưu kia, chẳng biết vì nhớ Ngọc Hà hay vì say nhan sắc Tiểu Oanh mà đêm nào cũng lén ra vườn hoa, thật khó lòng biết được.

Mãi mấy đêm trường, lòng Bùi Độ nóng nung như đốt, còn Tiểu Oanh đêm nào cũng thấy vẽ mặt âu sầu của Bùi Độ nơi hoa viên, áy náy không yên. Nàng muốn tìm cách giúp cho Bùi Độ giải khuây nên một hôm bảo chàng :

- Mỗi đêm công tử ra huê viên nhìn trăng than thở chỉ thêm buồn và hại sức khỏe. Thôi thì từ nay, mỗi tối công tử nên đến thính đường, xem tôi giải quyết công việc, đọc giúp cho tôi các công văn còn ích lợi hơn. Một là để công tử quên sầu bớt nhớ, hai là để cho công tử quen dần việc quan, mai sau nhậm chức khỏi qua một thời gian bỡ ngỡ.

Bùi Độ đang mong ước được dịp gần mỹ nữ, nay nghe Tiểu Oanh nói như vậy có khác nào kẻ sắp chết đói được bữa ăn, chàng vui vẽ nhận lời :

- Được tiểu thư chiếu cố, kẻ hèn này nguyện đổi buồn làm vui để theo hầu hạ tiểu thư.

Thế là từ đấy, hàng đêm Bùi Độ quần áo chỉnh tề, dung nghi chải chuốt đến thỉnh đường ngồi song song với Tiểu Oanh để xem các văn án.

Việc đó quả đã làm cho Bùi Độ vơi sầu. Lòng nhớ nhung Ngọc Hà mỗi ngày một dịu đi. Tuy nhiên, lòng chàng lại tràn ngập lòng yêu mến Tiểu Oan. Vắng Tiểu Oan, chàng không chịu nỗi.

Qua một thời gian, Bùi Độ lại được phong thư của Đỗ Đô úy từ Kinh đô gởi về, tin cho biết chàng sắp được triều đình bổ dụng vào chức huyện quan, một ngày gần đây phải lên đường đi trấn nhậm. Công việc của chàng đã lo xong, nhưng quan Đô úy còn ở nán lại kinh đô thù tiếp mấy người bạn thân chưa về ngay được.

Tin ấy làm cho Tiểu Oanh mừng vô hạn, nói với Bùi Độ :

- Đường công danh công tử đã may mắn đạt được. Ngày gần đây công tử phải nhậm chức rồi.

Bùi Độ nghĩ đến ngày ra làm quan phải xa cách Tiểu Oanh, lòng không vui. Nhưng nhớ đến lời nói của Huỳnh Liên, gã thầy tướng thuở nọ, chàng khâm phục vô cùng, và thầm nghĩ :

- Ta đã có địa vị giàu sang trong xã hội như thế này thì việc gần gũi người đẹp không khó nữa. Vả lại trong trời đất, gái nữ lưu khuê tú đâu đâu chẳng có. Biết đâu, sau này ta còn gặp được người đẹp hơn Tiểu Oanh nữa.

Thế là mộng quan sang đã chiếm cả cõi lòng Bùi Độ, làm cho Bùi Độ nhìn thấy trước mắt chàng một bầu trời thăm thẳm, trong đó là một cõi thiên đàng, và những gì dĩ vãng chàng đều quên mất hết.

Một ngày kia, Bùi Độ giã từ Tiểu Oanh, trở về làng cũ để thăm viếng Huỳnh Liên, đồng thời cũng để tạ Ơn Huỳnh Liên đã cho chàng biệt được tướng quan sang ấy.

Tiểu Oanh nói :

- Xin công tử hãy mau mau trở lại đây để tiếp nhận chỉ dụ của Thánh Thượng, kẻo thân phụ tôi về đây mà không thấy công tử ắt quở trách.

Bùi Độ nói :

- Tiểu thư chớ lo ! Tôi chỉ đi một thời gian ngắn sẽ trở về ngay.

Với khăn gói đầy vàng bạc, với mộng cao sang tràn ngập cõi lòng, nét mặt Bùi Độ tươi vui trẩy bước về làng cũ.

Chẳng mấy hôm, chàng đã đến đầu chợ tìm gặp Huỳnh Liên.

Gã Huỳnh Liên râu quặp vẫn còn làm nghề tướng số như thuở nào. Vừa thấy mặt, Bùi Độ đã vồn vã nói :

- Này thánh nhân ! Tôi sắp được bổ dụng quan chức rồi đấy. Lời nói của thánh nhân ngày nào thật đúng lắm.

Huỳnh Liên nhìn nét mặt Bùi Độ rồi âu sầu bảo :

- Anh phải là người bán dầu thuở xưa không ?

Bùi Độ nói :

- Đúng vậy ! Và là một quan chức trong tương lai đó.

Huỳnh Liên lắc đầu nói :

- Không không ! Tướng chết đói của anh ngày nào lại xuất hiện như cũ. Kìa, đường vạch chạy xéo nơi miệng kia thì dầu giàu có đến đâu cũng không tránh khỏi.

Bùi Độ trợn mắt hét :

- Lão chớ nói bậy ! Ta hiện được triều đình bổ dụng làm quan ! Trước kia ta nghèo khổ có thể chết đói, còn ngày nay ta đang vinh hiển kia mà !

Huỳnh Liên chỉ mỉm cười khinh bỉ. Bùi Độ không vui, bỏ đi và nghĩ :

- Được ! Lão này chỉ nói bậy. Đợi lúc ta có đủ quyền hành trong tay sẽ bắt lão trị tội, nhốt vào ngục không cho ăn xem ai chết đói cho biết.

Chàng hậm hực trở về Thiểm Tây, đến dinh quan Đô úy họ Đỗ.

Bấy giờ quan Đô úy đã trở về mang sắc dụ của nhà vua bổ dụng Bùi Độ làm quan huyện ở Hà Lạc.

Bùi Độ liền sửa soạn hành trang, từ giả cha con Đô úy Thiểm Tây đến đó trấn nhậm, với mộng là sẽ tìm cho mình một tuyệt thế giai nhân, để tận hưởng trong ngày xuân xanh bù lại những ngày nhớ nhung khao khát.

Lòng dục đã khiến anh chàng bán dầu lang thang trước kia đổi tánh.

Chỉ một thời gian ngắn, Bùi Độ đã dùng quyền hành mình lục lạo khắp nơi trong huyện, tìm đến những danh gia phú hộ để kiếm giai nhân.

Khổ thay, các mỹ nữ khuê môn trông thấy tư cách của Bùi Độ là kẻ si tình đốn mạt đều khinh bỉ, chẳng ai chịu hòa thân.

Bùi Độ uất quá, nghĩ mình địa vị cao sang, giàu có rất mực, thế mà nữ nhi không phục tùng, chàng dùng quyền hành ép buộc, cưỡng bức.

Trong lúc đó, thì nàng Ngọc Hà ở tại huyện nhà, ngong ngóng tin chồng, những mong đến ngày vinh thân chàng sẽ về thăm để tỏ tình chỉ thắm.

Nào ngờ, mỗi ngày mỗi bặt tin. Đến lúc sau, nàng được biết Bùi Độ đã đến trấn nhậm Hà Lạc, giữ chức huyện quan. Nàng muốn tìm đến. Nhưng than ôi ! bấy giờ tiếng đồn đã rộn bên tai, Bùi Độ đã trở thành người bất liêm bất chính, cậy thế cậy quyền, hiếp đáp dân lành.

Nàng Ngọc Hà quá đau lòng tủi phận, cố lòng đến đó một phen để dò xét cho tận mắt. Nhưng Ngọc Lão còn ngờ chưa dám cho nàng đi, chỉ sai người đến dọ thám trước xem sao đã.

Thời gian chưa bao lâu, đã có tin về báo :

- Quan huyện Hà Lạc vì hiếp đáp gái lành, nên bị dân chúng kiện thưa, quan trên cách chức, và triệu về kinh để trị tội rồi !

Thật vậy, tin ấy chẳng lầm ! Hành động cuồng si của Bùi Độ đã làm chấn động khắp nơi, do đó chàng bị cất chức.

Bùi Độ tự biết mình không thoát khỏi tội nên chẳng dám về triều, trốn vào rừng núi.

Rồi một ngày kia, không có cơm ăn, đói khát, hơn nữa đã thất bại trên đường đời, Bùi Độ không còn muốn sống nữa, chàng nằm trên mặt tảng đả, chết giữa một cánh rừng hoang vu.

Nàng Ngọc Hà đau lòng quá, không biết tin tức của chồng ra sao, vội lén cha về kinh để được gặp tận mặt Bùi Độ.

Nhưng khổ thay, nàng về kinh tìm hỏi suốt tháng trời, vẫn không biết được. Sau đó, nàng mới được tin : “Quan huyện Hà Lạc đã sợ tội bỏ trốn rồi, không dám về kinh trần tố”.

Nàng thất thểu ra đi, hết nơi này đến nơi nọ, hỏi thăm mãi vẫn chẳng thấy bóng chồng. Sáu tháng trời trôi qua, Ngọc Hà đi từ huyện này sang huyện khác, mỏi gối chồn chân, quần áo rách nát, tấm thân tiều tụy tưởng không còn bút nào tả nổi. Nàng khóc đã cạn nước mắt mà nỗi buồn chưa vơi.

Một hôm, nàng đi qua khu rừng vắng, thấy có một bộ xương khô của ai đã chết rũ tự bao giờ. Nàng ngờ đó là bộ xương chồng, nên ngồi đó khóc mãi. Bao nhiêu giọt lệ thừa nhỏ xuống rưới trên đống xương tàn quyết trả nghĩa cho chồng.

Đau đớn thay ! Một người đàn bà có nghĩa như vậy lại vướng phải kẻ vô tình như Bùi Độ, quả đã uổng đời hồng nhan.

Chẳng biết nắm xương khô của Bùi Độ có vì giòng nước mắt chân thành kia mà ân hận nơi chốn suối vàng chăng.

Ngọc Hà khóc đến mấy ngày đêm, sau đó vì quá đau đớn, buồn duyên tủi phận, nàng đã ngất xỉu trên đống xương khô kia, và chết tại đấy.

Ôi ! Hồng nhan bạc mệnh thay !


Phan Hồng Trung

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 04 Feb 2016 08:07 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
13 . Bùi Tấn Công Vì Nghĩa Trả Nàng Hầu


Đời Đường Hiến Tông niên hiệu Ngươn Hòa thứ 13 có bọn giặc Ngô Tế Quang làm phản ở Hoài Tây. Vua phái Bùi Tấn Công đi đánh dẹp. Khi Bùi Tấn Công bình định xong đất Hoài Tây trở về, được vua phong Tể tướng và thăng trật Tấn Quốc Công.

ở trong xứ, các vùng hẻo lánh còn nhiều bọn cướp dữ, nghe danh tiếng Bùi Tấn Công cũng lần lần dâng đất chuộc tội.

Nhờ vậy mà trong nước được thái bình thịnh trị...

Vua Hiến Tông thấy trong nước được mưa hòa gió thuận, dân sự yên ổn làm ăn, nên muốn bắt chước người xưa, xua quân đi tìm thuốc “Sống đời” mà Hiến Đế định là do cỏ cây, đất đá hòa hợp mới chế thành vị thuốc trường sinh.

Bùi Tấn Công và các trung thần dâng sớ cực lực phản đối và xin từ quan. Hiến Đế không chấp thuận và quở rằng :

- Bùi Công và các ông muốn lập phe đảng chi đó.

Từ đấy Bùi Tấn Công ngao ngán cho tham vọng con người và không đoái tưởng đến sự giàu sang nữa. Nhưng Bùi Tấn Công sợ từ chức sẽ có hại cho mình, nên miễn cưỡng đi chầu hầu việc. Về các vấn đề ở triều đình, dù một lời nói Bùi Tấn Công cũng không muốn bàn đến nữa.

Và cũng kể từ đấy Tấn Công giả bộ thơ thẩn vui say bên giọng đàn tiếng hát và Phủ Tấn Công chỉ thâu nạp ca nhi vũ nữ chớ không nhận lễ vật bạc vàng.

Bấy giờ tại phủ Tấn Châu, huyện Vạn Tuyến có một người tên Đường Bích hiệu Quốc Bửu thi đỗ cử võ Hiếu Liệm, được bổ cai trị xứ Hoát Châu, huyện Long Tuyền với chức vụ huyện uà. Rồi đổi sang làm huyện ùa huyện Việt Châu.

Khi chưa làm quan, Đường Bích có đi hỏi con gái ông Huỳnh Thái Học làm vợ, tên là Huỳnh Tiểu Nga. Nhưng Tiểu Nga còn quá nhỏ nên Thái Học chưa giao về cho chàng.

Thắm thoát Đường Bích đổi đi trấn nhậm hai nơi mà vẫn cô thân chích bóng.

Về nàng Tiểu Nga thì nhan sắc hoa nhường, nguyệt thẹn, má phấn môi hồng, rành rọt về âm ba nhạc điệu, đàn hay hát giỏi nổi tiếng nhất đất Tấn Châu.

Tại dinh Thứ sử Tấn Châu, quan Thứ sử muốn thành lập một ban nữ nhạc để tiến dâng Tấn Công, nhưng chỉ tìm được năm cô gái đẹp mà không xuất sắc lắm về âm nhạc. Nghe đồn nàng Tiểu Nga con ông Huỳnh Thái Học, nhưng Thứ sử ngại lão Thái Học dễ gì chịu cho con gái gia nhập đoàn hát của ông, nên ông trích ra 30 muôn bạc gởi đến quan huyện Vạn Tuyến nhờ huyện đường giúp sức.

Huyện quan được chỉ thị cấp trên nên cấp tốc đến nhà Huỳnh lão để thảo thuận. Gặp Huỳnh lão huyện quan hết sức biện minh và tỏ à Thứ sử Tấn Châu nhờ mình giúp và cũng là lệnh thượng cấp nữa.

Huỳnh Thái Học từ chối ngay :

- Tôi đã nhận lễ hỏi gả cháu rồi, cảm phiền huyện quan tìm nơi khác, tôi không dám vưng lời !!!

Lão huyện thất bại trở về, thầm tính bắt cóc Tiểu Nga, và cho người dò la ở nhà Huỳnh Thái Học.

Nhân tiết thanh minh, gia đình Huỳnh Thái Học đi đốt mả cúng vong chỉ để một mình Tiểu Nga trông nom nhà cửa. Quan huyện được tin này, tức tốc trang bị một chiếc kiệu và mang theo 30 muôn bạc đến nhà Thái Học, dùng lời khéo léo gạt nàng Tiểu Nga lên kiệu và cho chở thẳng đến phủ Tấn Châu, giao cho vệ môn của quan Thứ sử, đồng thời niêm phong cẩn mật 30 muôn bạc một trác văn để lại tại Huỳnh gia.

Khi Thái Học trở về gia đình mới hay tự sự, thì huyện quan cho biết đã đưa nàng về cho quan Thứ sử rồi.

çng bèn thẳng đến Tấn Châu lấy sự tình đau khổ của mình, mà kêu nài quan Thứ sử, và mang theo 30 muôn bạc;

Thứ sử Tấn Châu tiếp ông tử tế và mời ngồi đoạn nói :

- Huỳnh lão bá khéo sanh một gái tài sắc song toàn, nay mai sẽ được Tấn công lưu à là một điều vinh hạnh nhứt trần đời, ít có ai may mắn và tốt phúc hơn lão bá. Thí dụ lão bá có nhận 60 muôn lượng mà gả con thật cũng không bằng nữa !

Cá mắc câu, chồn mắc rọ, rồi thì người ta muốn làm thế nào lại không được, lão Thái Học biết thế, nhưng cố gắng năn nỉ, van xin cả buổi trời, làm cho Thứ sử quan nổi cáu hét lên :

- Tôi đã hết lời nói với ông mà ông không nghe, cứ khóc lóc kêu ca mãi, tôi có làm tội lệ gì con ông đâu ?

Giờ ông có ức lòng cứ thẳng đến phủ Tấn Công mà khiếu nại.

Huỳnh Thái Học thấy quan Thứ sử quá giận biết rằng có nói nữa cũng vô ích, bèn mang số bạc 30 muôn lượng ra về. Khi Huỳnh Thái Học về rồi, Thứ sử Tấn Châu lo sửa soạn ban nữ nhạc, mang quần áo, sắm nữ trang, tô son trát phấn, chỉnh bị nhạc cụ, cho kịp ngày lễ Khánh chúc sanh nhựt của Tấn Công, để dâng vào trước Tấn Công.

Biết bao nhiêu là châu huyện các xứ các nơi đem về hàng ngàn gái đẹp để dâng hiến cho Tấn Công, và sáu cô nữ nhạc Tấn Châu cũng được trình qua tể tướng...

Bấy giờ Đường Bích vừa mãn nhiệm vụ, lại được thăng cấp lãnh trát văn về kinh để nhận việc mới. Chàng thầm tính giờ đây Tiểu Nga đã trưởng thành, nên sửa sang hành là nhắm quê nhà trở về.

Về đến huyện Vạn Tuyuến, đặng vài ngày, chàng liền tìm đến nhà cha vợ để thăm. Huỳnh Thái Học thấy chàng, giọt lệ tuôn trào, lòng già quặn thắc, bèn kể lể công việc nhà cho Đường Bích nghe.

Đường Bích nghe xong nghiến răng và than :

- Người con trai đứng trong cõi đời thân phiêu bạt nổi trôi, đến nỗi người vợ cũng bảo đảm không nổi, huống gì đời sống của mình ?

Dứt lời chàng khóc òa lên.

Huỳnh Thái Học ân cần khuyên giải :

- Hiền tế là kẻ anh tài lương đống, ắt còn nhiều mối duyên may phận đẹp, lão chỉ tủi thân con gái lão, số phận mỏng manh gặp điều ngang trái nên không giữ được lời ước hẹn xưa.

Đường Bích nóng giận :

- Tôi quyết gặp huyện quan và Thứ sử để tranh luận.

Huỳnh Thái Học khuyên giải :

- Không nên đâu hiền tế ạ ! Hiền tế có tranh luận chỉ vô ích mà thôi, vả chăng việc này vướng líu đến Bùi Tấn Công, e hiền tế mắc tội, và bất lợi cho bước đường công danh của hiền tế. Hiện nay huyện quan và Thứ sử còn giữ lại nhà 30 muôn bạc, còn tang chứng “lễ hỏi” là chiếc vòng bích ngọc Tiểu Nga đã mang theo khi bị đòi hầu ! Mọi việc lão nghĩ khó quá hiền tế ạ !

Đường Bích ngồi nghe mắt mờ đẫm lệ và tức tửi :

- Tôi đã gần 30 tuổi rồi, nếu mất Tiểu Nga, sắt cầm gẫy đổ, loạn phụng chia lìa, chung thân thể ở vậy cho trọn lời nguyền với Tiểu Nga. Còn đường công danh tôi không muốn vướng bận nữa.

Huỳnh Thái Học nghẹn ngào đầy lệ.

Đường Bích không lấy tiền và lũi thũi ra về. Qua ngày sau Huỳnh Thái Học đích thân đến nhà Đường Bích.

Sau ba lần khuyên giải, Đường Bích đáp :

- Để tôi đến kinh đô nghe ngóng tình hình, chớ ngồi nhà bực bội và chẳng ích gì. May ra gặp đặng tin tức Tiểu Nga.

Đường Bích thuê thuyền để đến kinh. Huỳnh Thái Học mang số bạc 30 muôn lượng xuống giấu dưới thuyền và tiễn đưa chàng rể.

Đường Bích ra đi chỉ có một mình.

Qua hôm sau mới trông thấy gói bạc, chàng quá xúc động nên chê trách lão Thái Học bán con như bán đồ, và chàng không sờ mó vào đống tiền vô nghĩa này.

Đến Trường An chàng mướn phòng ngủ kế bên Bùi Tướng phủ. Qua ngày sau chàng đến sứ bộ ghi tên, trình giấy tờ và nhiệm vụ mình để chờ sự bổ nhiệm nơi mới.

Chàng đi ăn sáng tại một quán ăn kế cửa Bùi Tướng phủ để nghe ngóng tình hình nhưng không đặng tin tức gì cả.

Thật là : Cửa thế quyền còn sâu hơn biển !

Một ngày kia chàng đến sứ bộ, thấy bảng văn ở sứ bộ yết rằng : “Đường Bích vinh thăng Lục sự tham quân Hồ Châu, phải lo sửa soạn hành là và đến lấy trát văn lên đường trấn nhậm Hồ Châu”.

Đường Bích vào lãnh giấy tờ để trở về. Vì bận mang 30 muôn bạc lên bờ, xuống thuyền, vào phủ, ra nha, thành thử bọn cướp đường sông lưu à. Chúng toa rập với chủ thuyền để cướp của Đường Bích.

Khi thuyền tách bến qua khúc rạch vắng, bọn cướp dữ xông vào tính giết chết Đường Bích để đoạt của vào khoảng nửa đêm. May thay, Đường Bích đã khổ lại sầu nên chưa chớp mắt, nghe ồn ào và thấy bọn cướp xông vào, Đường Bích nhảy phóc lên bờ, chạy trối chết. Chừng tỉnh hồn thì cả cướp lẫn thuyền đà mất dạng.

Ngồi dựa lề đường giữa đêm khuya khoắt chàng ôm đầu khổ sở và nghĩ suy :

- Giờ đây tiền cũng mất, vợ cũng mất, hành là cũng mất. Những thứ ấy không quan hệ bằng trát văn ấn tín vua ban. Mất ấn tín có thể bị tử tội ! Giờ thì biết về đâu ? làm sao ?

Cùng phương hết kế, chàng rất tủi nhục, khổ sở, nên ngồi tại lề đường chờ sáng và khóc lóc rất thảm hại !

Chàng ủ ê buồn khổ nên sáng lúc nào cũng không hay. Bỗng nghe giọng một ông lão gọi :

- Này ông bạn ! Vì sao mà khóc lóc đau buồn như vậy.

Đường Bích nghẹn ngào không trả lời được. Lão già hỏi :

- Thôi, ông bạn bớt ưu phiền, hãy vào nhà lão nghỉ đỡ rồi liệu toan. Chuyện đâu còn có đó mà !

Đường Bích theo ông lão vào nhà, sau khi phân ngôi chủ khách xong, Đường Bích bèn kể rõ sự tình cho ông lão nghe... çng lão lễ phép nói :

- Tôi tên là Tô Khuyển tự Phụng Hoa, giữ chức võ huyện ùa ở Hồ Châu, vừa nghe ông, đến kinh để gặp ông, không ngờ ông lại lạc ở đây.

Nói đoạn ông lão mời Đường Bích vào phòng thay áo, đổi giày và gởi biếu Đường Bích 20 lượng bạc. Đường Bích cáo từ và trở lại kinh sư, đến tại khách sạn mà chàng thuê ở hôm trước, và cấp tốc đến sứ bộ khai việc mất cướp để nài nỉ xin một trát văn mới đi trấn nhậm.

Sứ bộ quan mỉm cười nói :

- Giấy tờ đã mất vô cớ, vậy phiền ông ít hôm trở lại, đợi tôi phúc trình cấp trên đã.

Đường Bích ngày qua ngày, đứng trước cửa hầu môn chầu chực, hết năn nỉ van xin, đến khóc lóc khẩn cầu. Đã năm ngày qua số bạc 20 lượng của Tô lão cho, chỉ còn có 2 lượng mà thôi. Đường Bích rầu rĩ về khách sạn, đau khổ dập dồn, tâm hồn thổn thức.

Đang lúc rầu rĩ thấy một ông lão tuổi trạc 50, da hồng râu điểm bạc, đầu bịt khăn tiêu diêu, mặc áo rộng tím, thắt lưng lụa vàng, tướng mạo phi phàm, có vẻ phú hào viên ngoại, xâm xâm đi vào khách sạn ngay chỗ Đường Bích, rồi kéo ghế ngồi ngang Đường Bích.

Qua một lúc, ông lão áo tím hỏi :

- Này ông bạn, ông bạn quê quán ở đâu, vì sao mà có vẻ buồn quá vậy.

Đường Bích che mặt không đáp.

çng áo tím lại hỏi :

- çng bạn ! Có chuyện gì đau khổ, có thể cho lão biết phần nào, may lão có thể giúp ích ông bạn được ?

Đường Bích tức tưởi đáp :

- Tôi tên Đường Bích quê ở Tấn Châu, giữ chức Lục sự tham quân Hồ Châu, giấy tờ trác văn vừa nhận ở Thứ sử quan, trên đường đi trấn nhậm bị cướp bóc, mất cả hành là và tiền bạc, cho nên tôi vô phương tính rồi !

çng áo tím hỏi :

- Thế sao ông bạn không đến dinh quan Thứ sử xin họ cấp giấy tờ khác có được không?

Đường Bích đáp :

- Tôi đã làm rồi nhưng không kết quả ! Cửa quyền môn còn sâu hơn biển, thời suy tàn cũng khó lạy cầu ! Tôi đã hết lời biện luận mà Thứ sử không cho.

çng áo tím hỏi :

- Lão ở đây đã lâu, thường nghe Bùi Tấn Công là người nhân hậu giúp đỡ khốn khó, sao ông bạn không đến đó một lần xem ra sao.

Đường Bích khoát tay lia lịa đáp :

- Tôi xin bác ! Bác có thương tôi thì đừng nói đến ba chữ Bùi... Tấn... Công... nữa !

çng áo tím ngạc nhiên hỏi :

- Tại sao có chuyện lạ vậy ông bạn ?

Đường Bích bèn kể lể :

- Để tôi nói rõ bác nghe : Thuở tôi còn nhỏ, tôi có đi hỏi một cô gái đẹp ở cùng làng. Nhân lúc tôi đi làm việc nơi xa vắng, và nàng còn nhỏ chưa tiện đem theo, thì bị lão huyện ùa Tri Châu đến cướp mất, sung vào ban nữ nhạc để hiến Tấn Công. Việc này, tôi cũng rõ không phải do à của Tấn Công mà do sự dua nịnh của các quan nha, châu huyện. Nhưng xét về là thì chính là Tấn Công đã chia rẽ vợ chồng tôi. Tôi còn hy vọng gì gia đình tôi được vui vầy sum họp nữa.

çng áo tím lại nói :

- çng bạn à quyết sum họp gia đình lắm sao ? Thế nàng tên họ gì mà tốt phước vậy ? Vả chăng, lễ hỏi của ông bạn có nạp sính lễ gì cho nhà gái không ? Phải có bằng cớ gì chớ ?

Đường Bích đáp nhanh :

- Nàng họ Huỳnh, tên Tiểu Nga. Lễ hỏi tôi có nạp chiếc vòng bằng ngọc bích làm sính lễ, hiện nàng đang đeo giữ !

çng áo tím ra vẻ ngẫm nghĩ giây lâu nói :

- Thú thật với ông bạn, tôi có bà con với Tấn Công nên ra vào phủ tự do. çng bạn muốn hỏi gì thêm, hay nhắn với Tiểu Nga, tôi sẽ nói lại giúp ông bạn ?

Đường Bích than :

- Cửa quyền thế sâu như biển đã vào ắt khó gặp. Nếu bác có lòng tốt nghĩ đến thân hèn này, thì bác vui lòng giúp đỡ thế nào cho cháu gặp Tiểu Nga nói vài lời tâm sự, dầu chết cháu cũng mát dạ yên lòng.

çng áo tím bảo :

- Ngày mai giờ này ắt có tin vui đến ông bạn. Giờ thì xin cáo từ.

Dứt lời, ông lão đứng dậy ra về. Đường Bích lúc bấy giờ đã tỉnh trí lắm rồi, nhớ những lời nói vừa qua với ông áo tím, chàng hoảng hồn và quá hối hận, bèn kéo ông áo tím lại xá dài thưa :

- Mong đội ơn bác có lòng đoái nghĩ đến cháu. Phận cháu là kẻ hèn mọn đâu dám phê bình chuyện làm của Tấn Công. Thoảng như bác có vào phủ xin che chở giùm, đừng nói những lời vừa qua ắt cháu có tội với Tấn phủ, xin bác nhé !

çng áo tím mỉm cười và cáo biệt. Đường Bích ngồi lại một mình suốt đêm không ngủ được, đến lúc trời sáng Bích sửa soạn ra đường, thẳng đến phủ Tướng công để nghe ngóng. Vừa đi chàng vừa nhủ thầm :

- çng áo tím hứa với ta chiều nay, nhưng ta cũng nên là cà hỏi thăm xem sao ?

Và chàng nghe người ta nói :

- Hôm nay Tướng công không tiếp khách, mà sao trong phủ nhộn nhịp khác thường ?

Chàng đi suốt buổi sáng, chiều, mà không gặp, không nghe tin tức gì của ông áo tím cả. Buồn bã trở về khách sạn thì nhà trọ đã lên đèn rồi. Chàng bèn ngồi thừ ra đó. Bỗng có hai người hấp tấp chạy vào khách điếm hỏi lớn :

- Qùa ông ở đây có vị nào là Đường Bích tham quân ở Hồ Châu không ?

Đường Bích ngại quá không dám lên tiếng, thì hai người nọ đã đến hỏi chủ khách điếm:

- Tôi là tùy viên ở Bùi Tướng phủ, vâng lệnh đến đây mời ông Đường Bích tham quân đến cho Tướng công trò chuyện, vậy chủ quán vui lòng cho biết xem ông nào ?

Chủ khách sạn hướng về chỗ Đường Bích ngồi và nói :

- çng Đường tham quân ! Có người tìm ông đây.

Đường Bích nói :

- Tôi và Tướng công là chỗ không quen thì đâu có chuyện mời thỉnh đó ? Có lẽ quà ông lầm rồi. Hơn nữa kẻ quần bô áo vải đâu dám vào tướng phủ hầu tiếp Tấn Công ?

Hai tùy viên Tấn phủ đáp :

- çng đừng ngại gì cả, Bùi Công lòng rộng như biển, giao tiếp đủ hạng người. Hơn nữa, lúc ra đi ông còn dặn đôi ba phen “Hãy đến mời Đường tướng quân, bảo ta ngồi phòng khách đợi ông ấy !”

Túng thế Đường Bích phải theo hai tùy viên vào Tấn phủ... Vào đến phủ đường... Hai bên đèn đuốc sáng choang, quang cảnh trang nghiêm tráng lệ.

Hai tùy viên dắt chàng vào một căn phòng họp của Tấn phủ thì thấy Bùi Tấn Công đã ngồi ở đấy đợi chàng.

Tấn Công đầu bịt khăn the mặc áo rộng trắng, thắt lưng hường, chòm râu điểm bạc.

Đường Bích nhìn tỏ tường hoảng sợ quỳ phục sát đất làm lễ. Tấn Công cho người đỡ dậy và mời ngồi. Đường Bích từ chối ba phen mới dám ngồi một ghế thấp hơn, mà mồ hôi ướt áo, run rẩy kinh sợ khác thường. Bởi vì Tấn Công là người áo tím mà Bích hội ngộ Ở khách sạn tối qua ! Nguyên Tấn Công hay giả dạng thường dân để di hành khắp chỗ.

Hôm qua may phước cho Đường Bích gặp được Bùi Công và tỏ tâm sự. Khi về tới phủ, Tấn Công cho soát lại tên họ các nhóm mỹ nữ. Quả nhiên thấy có tên Huỳnh Tiểu Nga, Vạn Tuyến huyện. Tấn Công liền cho đòi nàng đến yết kiến, thì nàng quả là một trang mỹ mạo hoàn toàn. Tấn Công bèn hỏi lai lịch, nàng nhứt nhứt kể ra giống y lời Đường Bích. Khi hỏi đến chiếc vòng ngọc làm sính lễ, thì nàng bèn trình ra cho tướng công xem.

Biết rõ các điều bí ẩn của hai người, Tấn Công bèn giả bộ hỏi nàng :

- Tiểu Nga, hiện giờ chồng của nàng ở đâu ? Và nàng có muốn gặp mặt không ?

Tiểu Nga ứa lệ trả lời :

- Thưa tướng công, vì nỗi má hồng thường bạc phận, từ nay ắt thiếp không còn gặp chàng nữa. Còn việc tìm chàng là quyền do tướng công, chớ thiếp đâu dám tự chuyên.

Tấn Công nghe qua, xoa đầu nàng và bảo theo thế nữ vào trong. Đoạn Tấn Công ra lệnh cấp cho nàng một ngàn quan tiền mua sắm trang sức áo quần và sửa soạn hành là cho nàng, để Tấn Công trả nàng lại cho Đường Bích. Một mặt Tấn Công sai gia nhân cấm thiếp lại sử bộ bảo sửa soạn cho xong nộ nhựt “Văn kiện giấy chứng trát văn đáo nhậm của tên Đường Bích tham quân quận Hồ Châu”, và đem lại Tấn phủ. Một mặt bí mật nhờ khách sạn tổ chức cuộc hôn lễ phòng hoa, rồi mới sai mời Đường Bích. Đường Bích tâm hồn xáo trộn, à tưởng hoang mang chỉ biết ngồi thừ ra, mặt cúi xuống đất mà thôi.

Chợt nghe Tấn Công bảo :

- Này ông bạn ! Hôm qua lão phu được tiếp chuyện với ông bạn và rõ cớ sự. Nay lão lấy tấm lòng thành thật mà đáp lại ông bạn nhé. Vì lão phu ham vui, làm chia rẽ phượng loan của bạn, với lỗi ấy, hôm nay lão cho mời ông bạn đến để xin lỗi !

Đường Bích hoảng kinh quỳ mọp xuống đất, lòng suy nghĩ.

Dưới nhà quan có gươm có thép, “không biết sự lành sự dữ thế nào”. Chàng quỳ lạy như tế sao.

Bùi Tấn Công nghiêm trang bảo :

- çng bạn hãy đứng dậy và ngồi nghe lão phu nói hết lời đã ?

Đường Bích cúi đầu thưa :

- Thưa tướng công, kẻ hèn này vô phước rủi gặp tai ương nên tâm thần điên đảo, hôm qua lỡ lời mạo phạm đến tướng công, đáng muôn thác.

Tấn Công khoát tay bảo ngồi và tươi cười bảo :

- Lão phu đâu dám chấp nhứt chuyện hôm qua ! Lão đã mời ông bạn đến để xin lỗi mà! Vậy hôm nay là ngày lành tháng tốt, lão muốn thay quyền cha mẹ của ông bạn, đứng làm chủ hôn, trả Tiểu Nga về cho ông bạn, và lão đã biếu cho Tiểu Nga một ngàn quan trang phục cho hai họ, để tượng trưng sự chuộc tội của lão phu ? Vậy ông bạn nghĩ thế nào cho lão biết ?

Đường Bích nghe qua như từ trên trời rơi xuống, ngỡ là chiêm bao. Vì ông áo tím vẫn ngồi rõ ràng kia mà.

Chàng không biết nói sao, chỉ biết cúi đầu lạy tạ Ơn Bùi Tấn Công ân đức.

Nhạc thiều trổi dậy đèn đuốc sáng choang, có hai thế nữ phò Tiểu Nga đến gặp Đường Bích. Bích Nga vui mừng vô kể. Tấn Công ra lệnh cho tùy nhơn đưa Đường Bích vào phòng thay đồ để ra làm lễ trước bàn thờ tơ hồng.

Hai người sửa soạn xong ra trước mặt Tướng công quỳ lạy bốn lạy đền ơn. Tướng công vui vẻ thấy đôi trẻ hoan hỉ, bèn chúc rằng :

- Đường, Huỳnh hai họ sớm được con hiền cháu thảo, sau được phước lộc vinh hoa.

Tấn Công ra tiễn Đường Bích, Tiểu Nga khỏi cổng, người người hoan hỉ. Bích, Nga cúi lạy tạ Ơn lần nữa, bỗng nghe sứ giả Bùi phủ trổi nhạc lên đường và hướng dẫn Bích, Nga về khách sạn.

Đường Bích ngước lên, thấy cửa khách sạn đã gắn sẵn hai chữ “Đường Huỳnh” bằng hoa kết treo ở cửa khách sạn. Nhạc phủ tưng bừng.

Đứng tại cửa khách sạn, hai tùy viên Tấn phủ lễ phục nghiêm trang dâng lên chàng một cái hộp nhỏ, trên có đề chữ “Bùi Tấn Công thân tặng Đường tham quân”.

Chàng mở ra xem thì đủ cả giấy tờ ấn tín.

Đường Bích vui mừng vô hạn, thầm kính phục và cảm ơn Bùi Tấn Công đã lo giúp mình vô cùng chu đáo.

Kế đến lễ quan mời Đường Bích, Tiểu Nga vào tiệc và làm lễ động phòng...

Thế mới biết :

Lúc lên, gió đẩy đến lầu vua

Thời mạt, sấm tàn bia tiến phúc

Hôm nay Nga, Bích được hòa âm

Bù lại những ngày đầy khổ cực.

Hôm sau Bích, Nga qua tướng phủ bái tạ. Tấn Công cho người đáp lễ mà không tiếp kiến. Hai người bèn nhắm ngay trung đường lạy bốn lạy đền ơn, rồi trở về khách sạn gom góp hành là, mướn thuyền về quê, rồi đi tái nhậm.

Về đến nhà Huỳnh Thái Học trông thấy mừng tủi, nói ríu rít :

- Bĩ cực có hồi thái lai ! Lão không dè còn có ngày nay.

Huỳnh Thái Học tổ chức một tiệc mừng ngày đoàn tụ và làm lễ tạ Ơn trời Phật.

Vài ngày sau vợ chồng Đường Bích lại lên đường trấn nhậm đến Hồ Châu. Đường Bích cảm công ơn Bùi Tấn Công, bèn thuê thợ chạm một cái tượng bằng trầm hương để ngày đêm thờ phụng.

Về phần Tấn Công sống được 80 tuổi, con cháu đều được sang cả vinh xương.

Về đời sau người đời có đề thơ rằng :

Vô thất, vô quan, khả mạc luân

Châu hoàn hảo sự, lãi hồng ân

Nhơn năng bộ bộ tầm âm đức

Phước lộc miên miên cập tử tôn

Dịch :

Nói chi ? không phận với không nhà

Chắc gì ? chuyện tốt đến cùng ta !

Nếu ai mỗi bước tìm âm đức

Con cháu ngày sau phước thuận hòa


Phan Hồng Trung

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 07 Feb 2016 16:59 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
14 . Thôi Hộ


Thôi Hộ là một nho sĩ tài danh, nổi tiếng một nhà thơ hay. Một năm kia, Thôi Hộ lều chõng lên đường ra kinh kỳ thi, nhằm tiết thanh minh.

Thôi Hộ vừa đi vừa ngắm cảnh dọc đường dẫn ra chốn kinh kỳ kẻ chợ. Vào buổi xế chiều chàng Thôi đến một ngôi nhà có một vườn đào tuyệt đẹp hoa đào đang đua nở. Thôi Hộ nhìn vào trong vườn thấy một giai nhân tuyệt sắc đứng trong cửa. Thôi Hộ ghé vào trong trại xin nước uống. Giai nhân vồn vã mời chàng uống nước trà Vũ Di. Vừa uống nước, Thôi Hộ vừa nói chuyện với giai nhân.

Đôi bên tâm đầu à hiệp, hai người đều tỏ lòng quyến luyến nên lúc tiễn chàng Thôi ra, người đẹp và chàng Thôi còn đứng dưới gốc đào chuyện vãn hồi lâu mới chia tay.

Qua năm sau, Thôi Hộ đi qua chốn ấy vào buổi đầu xuân. Nhìn vào trong nhà thấy vắng bóng gia nhân, Thôi Hộ buồn rầu nhìn cảnh cũ hoa đào vẫn nở hoa, cội đào còn đó mà nhà ai cửa đóng then cài.

Thôi Hộ dạo qua trong vườn một lát rồi lấy bút mực ra đề bài thơ nơi cánh cửa chỗ người đẹp đứng năm xưa :

Khứ niên kim nhựt thử môn Trung
Nhơn diện đào hoa tương ánh hồng
Nhơn diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong !

Dịch :

Hôm nay năm ngoái cửa cài,
Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi
Mặt người chẳng biết đâu rồi
Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông

Viết xong bài thơ trên vách cửa, Thôi Hộ buồn rầu ra đi khỏi đào gia trang, quay về quê cũ.

Ngày tháng trôi qua như bóng câu qua cửa sổ. Xuân về trong hơi gió heo may, mưa bụi giăng tím cả bầu trời. Tiếng pháo mừng xuân nổ vang khắp thôn xóm, Thôi Hộ lại nhớ đến người đẹp ở vườn đào. Chàng lên đường sang thăm nơi vườn cũ.

Hoa đào trong vườn khoe sắc thắm dưới bầu trời xuân ấm áp. Thôi Hộ lần bước vào vường, bỗng nghe tiếng khóc thảm thiết. Thôi Hộ giật mình vì tiếng khóc não nuột đớn đau. Chàng gõ cửa hỏi thăm. Một vị lão trượng da mồi tóc bạc, chống gậy trúc đi ra mở cửa mời chàng vào. Thôi Hộ cung kính hỏi thăm mới biết vị lão trượng chống gậy trúc là thân phụ của người đẹp đứng trong cửa sổ mà chàng Thôi đã gặp năm xưa.

Vị lão trượng kể lại cho chàng Thôi nghe :

- Lão là Đào Bạch Phụng, năm nay đã ngoài 60 tuổi, chỉ có một con gái là Đào Phụng Trinh năm nay vừa độ trăng tròn. Cha con lão ở trong vườn đào này từ thuở Phụng Trinh mới chào đời và thân mẫu của Phụng Trinh cũng mất ở đây.

Cách đây hai năm, Phụng Trinh kể lại khi lão đi vắng, có một chàng nho sĩ đi qua đây vào xin uống nước. Rồi một năm qua, nhân ngày xuân mới, lão và Phụng Trinh ra chùa dâng hương thì chàng nho sĩ ấy lại đến thăm không gặp ai ở nhà. Nho sĩ viết một bài thơ trên vách cửa.

Đến lúc về, đọc bài thơ trên vách Phụng Trinh tưởng tượng nhớ đến chàng nho sĩ tài hoa kia mà thành đau tương tư. Con gái lão đau luôn trong một năm nay và vừa thở hơi cuối cùng trước lúc ông đến đây độ một khắc.

Thôi Hộ nghe lão trượng, thân phụ nàng Phụng Trinh kể lại, liền ôm mặt khóc. Chàng không ngờ bài thơ của chàng đã gieo cho Phụng Trinh một nỗi buồn đau, ôm một mối tình tuyệt vọng. Thôi Hộ mới thú thực với vị lão trượng rằng chính chàng là chàng nho sõ đã đề thơ trên vách năm xưa.

Thôi Hộ đến nơi Phụng Trinh nằm, vật mình lăn khóc chàng ôm lấy Phụng Trinh mà gọi lớn rằng :

- Phụng Trinh nàng ơi ! Thôi Hộ đã về đây !

Chàng Thôi gọi ba tiếng liền thì Phụng Trinh từ từ mở mắt, cất tiếng thở dài, miệng mỉm cười sung sướng. Phụng Trinh đã sống lại. Đào Bạch Phụng lão trượng thấy con sống lại, lòng già mừng rỡ.

Thôi Hộ thấy Đào Phụng Trinh sống lại vội đỡ nàng ngồi dậy. Lão trượng Đào Bạch Phụng bằng lòng cho Phụng Trinh gá duyên cầm sắt với Thôi Hộ.


Phan Hồng Trung

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 07 Feb 2016 17:00 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
15 . Kiết Phụ


Thu Hồ Tử là một chàng nho sĩ tài tuấn, thông minh, văn chương thi phú rất giỏi, chỉ hiềm một nỗi chàng Thu thường có tánh gió trăng hay trêu ghẹo người đẹp.

Thu Hồ Tử thi đỗ chờ ngày bổ đi làm quan Đại đăng khoa, vinh quy bái tổ, về quê nhà, Thu Hồ Tử lại Tiểu đăng khoa.

Lấy vợ được năm ngày, Thu Hồ Tử nhận được chiếu vua ban xuống cử chàng Thu đi làm quan ở nước Trần.

Từ giã mẹ già, vợ dại, Thu Hồ Tử thu xếp hành trang lên đường sang Trần quốc nhận việc. Làm quan ở nước Trần được năm năm, Thu Hồ Tử được phép trở về quê thăm mẹ già. Rong ruổi trên đường thiên là ngót ba tháng trời, từ nước Trần, Thu Hồ Tử về đến cố hương. Nhìn ruộng dâu xanh ngát một màu, con sông uốn khúc quanh co như một giải lụa trắng quấn quanh thân áo xanh của nàng thôn nữ tuyệt sắc nơi đồng nội, Thu Hồ Tử vui mừng nhìn thấy quê hương sau bao năm xa cách.

Thu Hồ Tử đang mãi ngắm phong cảnh cũ, bỗng chàng liếc thấy một thôn nữ tuyệt sắc, tuổi vừa đôi chín, má ửng hồng, đôi mày lá liễu, cặp mắt nhung huyền, bàn tay búp măng thoăn thoắt hái những lá dâu xanh bên đường đê thẳng tắp.

Thấy người đẹp, Thu Hồ Tử xuống ngựa bước tới gần buông lời trêu ghẹo. Người đẹp hái dâu không trả lời Thu Hồ Tử. Nàng vẫn lặng lẽ hái dâu non.

Thu Hồ Tử định dùng hư danh cám dỗ nàng thôn nữ diễm kiều. Chàng bảo nàng rằng :

- Nương tử đẹp như hằng nga giáng thế. Hình dáng nàng phải xứng với bậc phu nhân. Bây giờ nàng dùng hết sức để làm ruộng cũng không bằng một năm trúng mùa. Nàng nhọc sức hái dâu nuôi tằm, cũng chẳng bằng gặp một ông chồng làm quan trong nước. Ta đây sẵn có vàng bạc, châu báu, ngọc ngà. Nếu nàng thuận cùng ta gá nghĩa đá vàng thì có thiếu gì thứ nàng muốn, có hơn cặm cụi hái dâu, chăn tầm không ,

Nàng thôn nữ không ưng thuận, mắng Thu Hồ Tử một hồi rồi bỏ ra về không hái dâu nữa. Thu Hồ Tử bị mắng mà vẫn trơ trơ lên ngựa thẳng về nhà thăm mẹ.

Thu Hồ Tử lạy chào mẹ rồi tới chừng vợ chàng ra chào mới hay nàng thôn nữ hái dâu mà chàng chọc ghẹo hồi nãy là vợ chàng. Thu Hồ Tử giật mình tự hổ.

Lúc ấy, vợ chàng, nàng Vạn Quốc Trinh mới nói với chồng rằng :

- Chàng đi làm quan năm năm mới về xứ, lẽ thì phải hối hả về nhà thăm mẹ già cho phải đạo hiếu tử. Chàng đọc sách đã nhiều, thi đỗ ra làm quan để dắt dẫn dân lành, là đâu chàng không hiểu điều lễ nghĩa nhỏ mọn ấy ? Nào ngờ về đã gần tới nhà, mà gặp đàn bà ngoài đường liền xuống ngựa để trêu ghẹo, quên cả mẹ Ở nhà năm năm trời ngong ngóng trông con, và cũng không cần biết người đàn bà ấy có chồng hay không nữa.

Quên mẹ là đại tội bất hiếu, ưa sắc thì lòng dâm, hạnh nhơ thì bất nghĩa. Làm quan mà bất nghĩa thì trị chúng bất minh. Người như vậy không đáng là chồng thiếp nữa.

Thiếp chẳng may lầm chàng là người đọc sách, tưởng đem thân bồ liễu gởi được vào bóng tùng quân, à thuyền quyên tưởng nhờ được người sĩ quân tử. Bây giờ mới được biết rõ chí của chàng. çi thôi ! nhục nhã !

Nói rồi Vạn Quốc Trinh nhảy xuống giếng sâu mà chết.

Người đời sau cho nàng Vạn Quốc Trinh vợ của Thu Hồ Tử là Kiết Phụ.

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Feb 2016 16:20 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
16 . Thôi Giao


Vào đời Khai Nguyên, có chàng Thôi giao đã đỗ tú tài, nhưng buồn thay lại là con nhà nghèo. Và cũng chỉ vì gia cảnh túng thiếu, nên tuy chàng đã nặng tình với một thiếu nữ kiều diễm, và được nàng yêu lại, mà hai người vẫn không lấy được nhau.

Thiếu nữ ấy vốn là một mỹ nhân ở Hán Nam, giỏi cả thi phú và ca hát, hiện đang làm thị tỳ cho người cô của Thôi Giao.

Và người cô ấy cũng nghèo không kém Thôi Giao, nên tới một thời kỳ, vì trong nhà quá túng bấn, bà đã phải bán nàng thị tỳ cho một vị Liên Súy tên là Vũ Địch, để lấy bốn mươi vạn đồng tiền.

Khi về hầu hạ Vũ Liên Súy, nàng thị tỳ đã được Liên Sùa hết mực yêu thương, và tặng thưởng nàng rất hậu hỹ.

Về phần chàng Thôi Giao, thì khi người yêu đã về phủ đường Liên Sùa mất rồi, chàng nhớ tiếc nàng ngày quên ăn, đêm quên ngủ, rồi lâu dần chỉ vì quá tương tư mà lâm bệnh. Sức đã yếu mòn, nhưng chàng vẫn gắng gượng lần ra đứng trước cửa phủ đường Liên Suà, hy vọng được trông thấy dung nhan con người mà chàng đang mong nhớ.

Và công phu của chàng chờ đợi rốt cuộc đã không uổng phí. Một bữa kia vào tiết hàn thực, quả nhiên người đẹp đã cỡi ngựa dạo chơi ra tận ngoài dinh.

Gặp chàng đang ủ rũ đứng ngóng nàng dưới một bóng cây dương liễu, người thị tỳ của Vũ Liên Sùa quá cảm xúc, ngồi trên ngựa khóc nức nở.

Chàng và nàng đứng bên nhau kể lể bao nhiêu nghĩa cũ, tình xưa. Nay nàng lại một phen thề sẽ sống chết với chàng. Khi hai người từ giã nhau, Thôi Giao có tặng biết nàng một bài thơ nguyên tác như sau :

Công tử Vương tôn trục hậu trần
Lục châu thủy lệ thấp la câu
Hàu môn nhất nhập thâm như hải
Tùng thử Tiêu lang thị lộ nhân

Nhà văn Ngô Tất Tố đã dịch bài thơ như sau :

Theo chân bao kẻ ngớp mùi hương
Tầm tã khăn the lệ mấy hàng
Một tới cửa hầu sâu tợ bê?
Chàng Tiêu từ đó khách qua đường...

Trong bài thơ của Thôi Giao chàng không gọi rõ tên nàng, có lẽ là vì nàng đang ở nơi quyền quà mà đã mượn tên Lục Châu để chỉ nàng.

Lục Châu cũng là một nàng hầu, nàng hầu mến yêu của Thạch Sùng và cũng là một trang giai nhân tuyệt thế.

Còn về phần chàng, thì Thôi Giao tự gọi mình là Tiêu Lang, tức là chàng Tiêu, à là một con người tầm thường không chức tước, vì có tài thổi sáo rất hay.

Bài thơ của Thôi Giao tặng nàng hầu của Vũ Liên Suà, bị một người thù ghét chàng, mang ra viết lại nguyên văn trên vách tường của phủ đường Liên Suỳ, cố để hãm hại chàng.

Tới khi Vũ Liên Sùa đi qua, liếc trông thấy bài thơ, liền đứng lại ngâm đọc vài lượt, rồi sai lính triệu Thôi Giao tới phủ đường ngay, làm ai cũng lo cho số phận của chàng.

Vì chính ngay Thôi Giao cũng lo sợ hơn ai hết. Nhưng biết lẫn trốn đi đâu bây giờ, chàng tú tài si tình đành phải vào hầu Vũ Liên Suà, và cúi đầu quỳ xuống để chịu tội.

Không ngờ, Vũ Liên Sùa lại cầm tay Thôi Giao đỡ lên, hỏi :

- “Một tới cửa hầu sâu tựa bể. Chàng Tiêu từ đó khách qua đường...” Những câu thơ đó của chàng, thầy làm phải không ?

Trời, bốn mươi vạn đồng tiêu có là bao, sao thầy tiếc gì một lá thơ mà không chịu viết cho tôi, để tôi biết chuyện ?

Nói xong, Vũ Liên Sùa liền cho mời người yêu của Thôi Giao ra, tặng nàng thêm tiền bạc và nữ trang, rồi dạy nàng trang sức xiêm y rất lộng lẫy để về với người tình cũ.

Nhờ lòng quân tử của Liên Sùa, Thôi Giao từ ngày đó không những đã chiếm lại được người yêu, mà còn trở nên giàu có nữa.


Phan Hồng Trung

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Feb 2016 16:21 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
17 . Cắt Nửa Mảnh Tình


Vào đời nhà Minh, tại huyện Nhơn An thuộc xã Thọ Nhơn, có nhà họ Phan vốn giòng danh gia quà tộc, mấy đời khoa mục, nổi tiếng một gia đình hay chữ nhất đương thời.

Thừa kế nhà họ Phan ấy có chàng Phan Trung, lúc tuổi mười bốn đã nổi tiếng văn hay, chữ tốt, được mọi người ca tụng là “thức giả”.

Phan Trung tánh tình hào phóng, không thích bó thân trong chốn ruộng vườn, phiêu lưu đây đó, tìm cảnh đẹp núi non để làm thơ, vịnh nguyệt.

Thời ấy, có quan Thứ sử họ Huỳnh, biết chàng là kẻ tài ba, liền gọi về kinh bổ dụng quan chức.

Phan Trung mỉm cười nói :

- Tôi tuy nhỏ tuổi, nhưng tánh phóng đãng đã quen, bê tha biếng nhác, e không làm tròn nhiệm vụ của triều đình giao phó chăng ?

Huỳnh Thứ sử nói :

- Bậc tài ba không cứ gì lớn tuổi mới làm được việc. Vả lại, trong lúc nước nhà đang loạn, giặc cướp quấy nhiễu mọi nơi, thân trai cần phải ra gánh vác, hiền đệ cứ mãi làm thơ, uống rượu phỏng có lợi gì cho dân ?

Tuy không thích ra làm quan, nhưng cũng không dám chối từ lời của quan Thứ sử, Phan Trung gật đầu nói :

- Thưa ngài, ngài đã dạy kẻ hèn này đâu dám chẳng tuân. Nhưng kẻ này ước nguyện được làm một việc gì hợp với à thích và nhẹ nhàng một chút.

Huỳnh Thứ sử mỉm cười nói :

- Được, ta sẽ chọn cho hiền đệ một nhiệm vu hợp với khả năng. Vậy hiền đệ thích gì ?

Không cần suy nghĩ, Phan Trung đáp ngay :

- Tôi thích ngao du đây đó, ngắm cảnh đẹp quê người, không muốn ở yên một chỗ. Quan Thứ sử có việc gì hợp với à muốn tôi chăng ?

Huỳnh Thứ sử mỉm cười nói :

- Được lắm, hiện nay nơi vùng biên ải quân giặc nhiễu nhương, các vụ kiện không đòi được nhân chứng đến thẩm vấn nên đình đốn rất nhiều. Vừa rồi quan Thái sư có dâng sớ xin vua chọn một người thay mặt triều đình đến đó đòi các nhân chứng xét hỏi và quyết đoán. Việc này nếu làm được sẽ giúp ích cho dân khỏi bị hàm oan. Nhân đây ta bổ dụng hiền đệ làm chức ấy.

Phan Trung hỏi :

- Thế thì các quan phủ, huyện nơi biên ải không làm được việc ấy sao ?

Thứ sử đáp :

- Họ vẫn làm, nhưng quyền quyết đoán là nơi triều đình, họ không đủ thẩm quyền.

Phan Trung gật đầu ưng thuận.

Thế là hai hôm sau, Phan Trung cùng với tùy tùng xếp đặt hành trang, nhậm chức Phán quan đặc biệt, đi vào vùng Giang Cầu trấn đóng để làm cái việc xét xử tội nhân.

Bấy giờ vào tiết mùa thu, gió vàng heo hắc, miền rừng núi khói bụi phủ mờ, thầy trò Phan Trung phải mải miết lê chân suốt tháng trường mới đến vùng biên ải.

Tuy khổ cực, song Phan Trung không lấy làm buồn, vì tánh chàng ưa ngao du nơi đất lạ xứ người. Khi đã đến Giang Cầu, Phan Trung vào dịch xá nghỉ nơi đợi sáng hôm sau xuống thuyền đến nha huyện, vì nơi đây đường bộ bị quân giặc đón, phải đi bằng đường thủy.

Dân cư nơi đây trải mấy năm loạn lạc, khổ cực trăm bề, nhà cửa xiêu vẹo, chợ búa thưa người. Nhìn thấy cảnh điêu linh, Phan Trung không khỏi động lòng thương xót.

Cảnh đẹp trước kia đã làm cho Phan Trung cảm xúc lai láng nguồn thơ, thì nay cảnh điêu tàn ấy cũng làm cho Phan Trung bùi ngùi không kém. Nhà thơ đất Nhơn An lại phải đổ lệ dệt thơ, khóc cho cảnh đau buồn của thời loạn.

Thuyền rời bến độ nửa ngày, qua các đô thị bị cướp phá ở ven sông, không thấy bóng một người, dù là một kẻ nông phu nghèo khó. Họ sợ giặc cướp, trốn mãi vào tận làng mạc xa xăm.

Trưa hôm ấy thuyền đến chợ Cầu, nơi đây có một quán xá xiêu vẹo, đó đây vài cô hàng nước, liếc mắt nhìn đám người của Phan Trung đi trấn nhiệm, mà mặt lơ láo tưởng như trông thấy người xứ lạ nước ngoài.

Họ không mấy thiện cảm với triều đình nhà Minh, vì các quan lại nhà Minh thuở ấy phần nhiều là những tham quan lợi dụng tình thế nhiễu nhương hiếp đáp dân lành. Cuộc sống của họ hầu như xa ánh nắng mặt trời, gần với lạnh lùng hoang dại.

Những kẻ nghèo khổ không đủ sống, ăn mặc lam lũ đã đành, những kẻ giàu sang, hoặc có chút ít của tiền cũng không dám tỏ ra sang trọng. Vì sang trọng là nguy hại, không bị giặc cướp lấy của thì cũng bị quan tham sạch hách làm tiền.

Cảnh sống như thế biến người dân dù thật thà chất phát đến đâu cũng không khỏi đem lòng thán oán.

Chợ cầu lưa thưa vài túp lều xiêu vẹo làm chỗ che mưa, đụt nắng cho khách bán hàng. Người mua rải rác khắp vùng, đến đó với bộ áo vải quần nâu. Nhìn vào họ, người ta thấy ngay cảnh sống khổ cực trăm bề.

Phan Trung cho đậu thuyến sát mé, dắt vài tên tùy tùng tản bộ vào chợ để tìm thức ăn, đồng thời xem khách hàng buôn bán.

Vừa bước lên bờ, Phan Trung thoáng thấy trong đám người lam lũ, da nám nắng, quần áo ướt đẩm mồ hôi, cát bụi bám đầy kia lại có xen hai thiếu nữ vóc ngọc da ngà, cốt cách đoan trang, đứng đi kiều diễm.

Hai thiếu nữ ấy có lẽ nhà ở gần đâu đây đến mua thức ăn là phải ? Với khổ người yểu điệu, mặt trắng như ngà, môi đỏ như son, Phan Trung đoán ngay họ là gái phòng khuê, con nhà quà tộc.

Có điều lạ là, mặc dầu có được sắp đẹp khuynh thành ấy, hai thiếu nữ vẫn ăn mặc như thường dân, quần sô áo vải, giấu hẳn cái phong lưu kiều diễm bên trong.

Chàng chăm chú nhìn, theo dõi từng cử chỉ của hai thiếu nữ kia, lòng thấy như có điều gì ngờ vực.

Hai thiếu nữ vẫn thản nhiên, không biết có kẻ đang để à đến mình.

...

Phan Trung bảo :

- Ngươi ra mời bà lão ấy vào đây.

Tên lính lệ ra đi một lúc rồi trở vào thưa :

- Bà lão đi đâu mất dạng, chúng tôi tìm khắp nơi chẳng thấy đâu cả.

Phan Trung buồn bã nghĩ thầm :

- Theo lời trong thơ thì người này có à khuyên ta việc gì đây, nhưng không nói rõ. Tiếc rằng không gặp được người.

Lòng lâng lâng buồn ! Chiều hôm ấy, Phan Trung thả gót ra ngoài phố. Phố xá nơi đây tiêu điều, hàng hóa lưa thưa các món thổ sản. Các dãy nhà lầu bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn trơ lại những đống gạch vụn. Người mua kẻ bán đi lại thưa thớt.

Chàng lướt qua vài con đường, đến một quán nước kia, bỗng thấy bên trong có bóng một thiếu nữ đang ngồi ủ rũ, tóc mây buông lả, đôi mắt lệ tràn mi.

Nhìn qua một lúc, Phan Trung giật mình, vì đó là một trong hai thiếu nữ mà chàng đã trông thấy nơi chợ Cầu hôm nọ.

Nàng cũng với áo vải quần thô, nhưng dung nghi kiều diễm. Cái đẹp tìm tàng gói kín trong nếp áo quần phong trần trông rất đau thương.

Nhưng tại sao nàng khóc ? Một thắc mắc nổi lên ở cõi lòng, Phan Trung không thể nào làm lơ cất bước. Chàng quay gót bước vào quán nước gọi bà chủ quán :

- Xin bà cho tôi một bát nước trà tươi.

Gọi là uống nước, nhưng mục đích Phan Trung chỉ để dò xét thiếu nữ kia xem nàng có đau buồn gì.

Chàng nhớ lại lời tên tùy tùng bữa nọ, và biết đích nàng này tên Mỹ Dung, liền cất tiếng hỏi :

- Nếu tôi không lầm thì cô là khách hàng của quán này, tại sao có việc đau buồn ?

Mỹ Dung thở dài, lể mể quay mặt lau nước mắt, chưa kịp đáp, thì bà chủ đã đỡ lời :

- Bẩm đại quan, cha nàng bị hàm oan, quan huyện bắt giữ ở huyện đường, nên đã một tuần nay nàng đến đây tìm cách thăm viếng, nhưng huyện quan không cho vào.

Thật vậy, nàng đó chính là Mỹ Dung, con gái lớn của Trần Lão. Vừa rồi, huyện quan sai người đến bách sách, bảo phải đem nạp ba lượng vàng. Trần Lão không có đủ nên bị huyện quan ghép vào tội thông mưu với giặc, bắt giam tại huyện.

Tội nghiệm, Trần Lão già cả, gặp tiết trời đông rét mướt mà phải hảm mình nơi lao xá thật đáng thương. Thấy cha già mắc nạn, Mỹ Dung ăn ngủ không an, để đứa em gái nàng là Kim Thanh ở lại trông nom gia trang, còn nàng mang gói lần đến huyện đường thăm viếng, và tìm cách gỡ tội cho cha.

Nhưng ác thay, quan huyện Giang Cầu là kẻ tham lam độc ác, trước muốn bách sách tiền bạc, sau thấy nhan sắc diễm kiều của Mỹ Dung lại tính chuyện bẻ hoa, vì vậy ông ta giam giữ Trần Lão rất cẩn thận.

Mỹ Dung không còn biết làm sao được, vả lại không dám đến huyện đường, sợ huyện quan giở trò đê tiện. Nàng lẫn mặt ngoài phố đã quá bảy ngày, tiền bạc đã cạn mà không sao dò la được tin tức của cha già.

Đau lòng quá, nàng khóc mãi, đêm ngày bỏ ăn bỏ ngủ. May sao, vừa rồig ặp được bà lão hàng nước, khuyên nàng nên trú lại nơi quán đó.

Bà lão lại được nghe các lính huyện vào quán chuyện trò, nên biết được triều đình vừa sai một vị Phán quan đến đóng nơi đây để xét xử các việc oan ức trong vùng, bà khuyên Mỹ Dung nên nhẫn nại, để làm đơn đệ nạp vào cấp trên minh oan.

Mỹ Dung chán nãn nói :

- Các quan tại triều đình phần đông đều là kẻ không liêm chính, chỉ biết bạc vàng, xem mạng dân như cỏ rác, dẫu có kêu oan cũng chẳng ích gì.

Bà hàng nước vốn được nghe mọi người bàn tán rằng vị Phán quan của triều đình là một nhà thơ trẻ tuổi, chỉ thích thơ phú không ham bạc vàng địa vị, nên bà đặt hy vọng vào đấy, nghe ngóng, trông chờ việc làm minh chính của Phan Trung.

Nhưng đợi mãi, không thấy vị quan trẻ tuổi kia ngao du đây đó, mà cũng không hề xét xử một việc nào.

Cực chẳng đã, bà lão mới sanh ra à nghĩ, bảo Mỹ Dung viết mấy hàng chữ, để bà tự tay đem đến cho Phan Trung, giục Phan Trung làm việc.

Đó cũng là cử chỉ liều lĩnh, nếu Phan Trung là kẻ nhỏ nhen nóng giận thì bà sẽ đắc tội. Tuy nhiên, Phan Trung lại thản nhiên trước lời nói có à như dạy đời đó.

Khi Phan Trung vào quán nước, được bà lão gọi mình là đại quan, lại nói cha của Mỹ Dung bị hàm oan nhốt vào huyện đường, chàng sững sốt nói :

- Tiện chức mới đến, chưa rõ ràng việc thế nào, vả lại việc ấy còn đang tra cứu ở huyện đường, lúc nào quan huyện đệ trình sự việc lên, tiện chức sẽ xét lại.

Bà lão nói :

- Mong ơn đại quan đến đây ra ơn trời biển cho dân chúng được nhờ. Dân chúng nơi đây phần thì khổ vì giặc giã, phần bị Oan uổng vì tù đày.

Phan Trung nghe nói se lòng, liếc nhìn thiếu nữ với vẻ thương hại :

- Kẻ hèn này sẽ vì dân chúng mà tận tụy với việc làm của mình.

Dứt lời chàng từ giã bà hàng nước rồi quay chào Mỹ Dung, bước ra ngoài. Hôm sau, Phan Trung thân hành đến huyện đường, vào lao xá thăm các tù nhân. Huyện quan tiếp đón trọng lễ, và đưa Phan Trung đi dạo khắp mấy trại giam.

Trời chiều, miền núi không khí lành lạnh như trộn vào một mùi mằn mặn. Khung trời tím ngắt, cảnh đìu hiu gợi vào lòng người một mối buồn sâu xa vô tận. Trong các trại giam, tội nhân ngồi nằm la liệt, cát bụi tẩm vào áo quần dày mấy lớp, đầu này chiếu rách, đầu nọ chăn bùn, già có trẻ có, đôi mắt sâu húp chứa đầy sầu hận xa xôi.

Họ nhìn huyện quan, nhìn Phan Trung với cái gì u uất. Cảnh đó không khỏi gợi vào lòng Phan Trung mối cảm hoài.

Thật vậy, nét mặt thi sĩ họ Phan sầm lại, u buồn hơn màu tím của không gian. Chàng thở một hơi dài, lặng thinh triền miên trong à nghĩ. Giữa lúc đó, huyện quan hết mấy tên lính canh cầm roi đứng trước cổng, bảo :

- Chúng bay phải canh phòng cẩn mật, vùng này gần quân giặc, nếu để đứa nào sẩy ra, đi theo giặc, chúng bay phải thế mạng đấy.

Bọn quân canh tỏ ra đắc lực trước mắt quan trên, đứa nào cũng lăm le ngọn roi, trừng mắt nhìn vào số tù nhân như muốn ăn tươi nuốt sống họ.

Huyện quan quay lại nói với Phan Trung :

- Dân chúng vùng này ươn ngạnh lắm, nếu không trừng trị cho gắt gao, chúng theo giặc hết.

Phan Trung thở dài nói :

- Họ đã khổ mấy năm về giặc giã, triều đình bất lực không đem lại được an ninh, để họ sống trong lầm than. Nếu các quan còn không thương họ thì họ biết nương cậy vào đâu.

Lời nói ấy như một gáo nước lạnh xối vào mặt huyện quan. Huyện quan đứng lặng người đi một lúc, mặt không vui, tiễn chân Phan Trung trở lại thính đường, hối quân đem trà nước đến khoảng đãi.

Phan Trung buồn bã cáo từ trở về, và nói :

- Thôi được ! Chúng ta còn nhiều ngày gặp nhau ! Phiền huyện quan tra cứu gấp các can phạm hiện bị giam giữ nơi đây, và gởi hồ sơ sang nha tôi để tôi kịp xét lại.

Huyện quan thấy mặt Phan Trung không vui, có à sợ hãi không dám trả lời, vội tiễn đưa chàng ra đến cổng. Về đến nha sở, Phan Trung ngày đêm nghĩ đến số người lầm than, sống trong ngục thất ăn ngủ không yên. Chàng thức suốt mấy đêm, đọc kỹ các hồ sơ và ra lệnh cho huyện quan phóng thích lần hồi hết. Không một kẻ nào Phan Trung nỡ kết tội.

Qua mấy ngày, hồ sơ đã hết, Phan Trung liền viết công văn, gởi xuống các phủ, huyện trong vùng, bảo đệ nạp gấp hồ sơ cho chàng để chàng xét việc.

Thế là qua một thời gian ngắn, các nhà lao các phủ, huyện trong vùng đều trống rỗng. Chỉ vụ nào huyện đường chưa cứu xét xong thì còn lưu giam, mà vụ nào đệ lên Phan Trung thì can cứu được phóng thích ngay lập tức, bất kỳ có tội hay không.

Việc làm của Phan Trung không đứng trên pháp luật, mà đứng trên lương tri.

Các huyện quan lấy làm ngạc nhiên, thầm bảo nhau :

- Viên Phán quan này không giữ pháp luật thì làm sao trị được dân ? Nếu vậy e luật pháp triều đình bị mất hiệu lực !

Trong lúc các quan phủ, huyện thì thầm trách cứ Phan Trung thì các can phạm được tha tội thả về rất hoan hỉ, rao truyền ra ngoài dân chúng mọi sự công bình chính trực của triều đình.

Và cũng vì thế mà niềm vui trong dân gian rộn rịp, cuộc sống trở nên tươi đẹp bội phần. Họ đã mến triều đình tất ra công chống lại giặc cướp, nên giặc cướp không còn lợi dụng được lòng dân càn quét thôn quê như thuở trước nữa.

Càng yêu mến Phan Trung bao nhiêu thì dân chúng lại càng ghét bỏ các quan phủ, huyện bấy nhiêu. Thỉnh thoảng họ kéo nhau từng đoàn đến yết kiến Phan Trung và dâng tặng lễ vật.

Phan Trung tiếp đãi họ rất ân cần, nhưng tuyệt đối không nhận lễ vật một ai.

Cử chỉ của các dân chúng không khỏi làm cho các quan phủ, huyện ganh ghét Phan Trung. Tuy nhiên, vì Phan Trung là đại diện cho triều đình, chức phận cao, nên các quan phủ, huyện mặc dầu bất bình, ghen ghét cũng không dám đá động đến.

Thời gian này, Phan Trung bận lo công việc nên không bước ra khỏi nha sở. Một hôm chàng vừa cứu xong tập hồ sơ thì bỗng trước cổng có bóng người thiếu nữ đi qua lại khóc sụt sùi.

Chàng bảo quân hầu gọi vào thì đó là nàng Mỹ Dung, con gái của Trần Lão ở chợ Cầu.

Phan Trung ngạc nhiên hỏi :

- Qùa nương có việc gì buồn khổ ? Thân phụ của quà nương chưa được tha về sao ?

Mỹ Dung ấm ức đáp :

- Quan nhân đã cứu xét và tha cho nhiều người được hồi hương, nhưng thân phụ tôi vẫn còn bị hàm oan, chưa được xét đến.

Phan Trung mới nhớ ra, lục lại hồ sơ, thì thấy việc Trần Lão còn ở huyện Giang Cầu chưa đệ đến.

Chàng thở dài nói :

- Việc Trần Lão công hiện quan huyện còn cứu xét, xin quà nương nán đợi ít ngày, chừng nào huyện đường đệ nạp hồ sơ ấy, tiện chức sẽ tha cho lão trượng về.

Thiếu nữ cúi đầu, sụt sùi tạ Ơn, rồi lui ra quán nước.

Mấy hôm sau, hồ sơ Trần Lão cũng không thấy đệ nạp. Mỹ Dung nóng lòng cha già cứ thơ thẩn mãi trước cổng mà không dám vào. Phan Trung trông thấy vội viết công văn, cho người đem đến huyện Giang Cầu hỏi việc đó, thì được huyện quan trả lời là tra cứu chưa xong.

Công việc cứ đong đưa mãi, chiều nào Phan Trung cũng thấy bóng Mỹ Dung thấp thoáng trước cổng đường với dáng người buồn bã ủ ê. Chàng nóng lòng quá, đã mấy lần thảo công văn đến hỏi quan huyện cũng trả lời như thế cả, nên không biết làm sao.

Một hôm, chàng cho người đón Mỹ Dung mời vào, nói :

- Tiện chức rất lo lắng đến lão trượng nhưng vì viên tri huyện cứ giữ can nhân ở ngục thất vào ậm ự mãi nên không biết làm sao.

Mỹ Dung, đôi dòng nước mắt đọng tràn trên đôi má, nàng khóc đã hai tháng trường mà vẫn chưa vơi. Lòng thương cha già đối với nàng thật thống thiết.

Nàng nói :

- Quan huyện muốn giữ thân phụ tôi ở huyện để hạch sách tiền bạc, và tính chuyện dâm ô ! Xin quan nhân thương tình gia đình cha con tôi mà liệu giúp.

Phan Trung thở dài nói :

- Tại sao quà nương biết ,

Mỹ Dung nói :

- Thường ngày quan huyện cứ cho người đến nói với thân phụ tôi về việc kén tôi làm ái thiếp, nhưng thân phụ tôi biết quan huyện là kẻ dâm ô, một tay đã bẻ gãy chẳng biết mấy

đóa phù dung rồi, vì vậy thân phụ tôi nhất quyết không khứng. Cũng vì thế mà trước đây quan huyện đã buộc tội cho người anh tôi, bị lưu đày ra xứ khác, đến nỗi gia đình tôi phải điêu đứng suy vi. Nay chỉ còn một cha già và hai thân gái;

Phan Trung thở dài hỏi :

- Thân mẫu quà nương không còn tại thế ư ?

Mỹ Dung khóc òa :

- Mấy năm loạn lạc, mẹ tôi bị quân cướp giết mất rồi !

Cái khóc của nàng đượm vẻ héo hon, chua xót, làm cho Phan Trung chột dạ, biết bên trong có việc gì đau khổ hơn.

Phan Trung đoán như thế quả thực không lầm.

Cách đây bốn năm, tuy Mỹ Dung còn trong tuổi thiếu thời, nhưng vì nhan sắc nàng kiều diễm, chữ nghĩa tinh thông, các thanh niên trong vùng đều mê mẩn. Nhưng Trần gia là nhà danh gia vọng tộc, dễ gì những tay bất lương mong được bắn sẻ, bẻ hoa.

Phòng khuê đóng kín, gió đông không để lọt mành, nàng quyết không chịu với kẻ thấp hèn làm tri kỷ. Vì vậy, trong thôn có một chàng thừa cơ quân cướp dấy loạn, theo giặc, dùng vũ lực uy hiếp gia đình họ Trần, buộc gả Mỹ Dung cho hắn.

Thân mẫu Mỹ Dung vì ra thân chống lại giặc, bị tên giặc cướp ấy giết chết. May thay ! Tên giặc cướp ấy chẳng bao lâu đi phá phách trong vùng, bị dân chúng giết đi, nên nàng Mỹ Dung mới được an thân.

Mất mẹ là điều đau khổ đối với đứa con chí hiếu, Mỹ Dung đóng cửa cư tang, than khóc suốt ba năm trời, không lúc nào có một nụ cười trên môi. Cơn đau buồn chưa nguôi ngoai trong lòng người con gái son trẻ, thì tiếp đến quan huyện Giang Cầu trong thấy dung nhan nàng lại tìm cách bẻ hoa ghẹo nguyệt, làm khó dễ gia đình nàng.

Từ khi người anh nàng bị quan huyện biếm đày đi khỏi xứ thì gia đình nàng chỉ còn lại một cha già và hai thân gái, nàng phải đem thân phụng sự cha già. Tiền của mỗi ngày một vơi đi cho đến lúc nghèo hèn cơ cực.

Thật ra, chỉ vì tài năng và nhan sắc của Mỹ Dung đã làm cho gia đình Trần Lão khốn đốn. Nào mẹ chết, nào anh bị đày, nào cha bị tù, cũng chỉ tại nàng cả;

Nhưng nàng là một kẻ chí hiếu và đoan trang. Trời đã bắt nàng có cái sắc đẹp và tài năng để cho khuynh gia bại sản thì còn biết làm sao ?

Mỹ Dung nhiều lúc cũng nghĩ đến thân nàng, chỉ tại nàng mới gây nên cớ sự. Nàng muốn chết đi, nhưng cha già còn đó lấy ai phụng dưỡng. Bổn phận một người con chí hiếu không cho phép nàng trốn nợ đời như vậy được.

Thế là nàng đành phải sống, mà sống với những chuỗi ngày đầy thảm họa của gia đình. Nàng không còn kể gì đến sắc đẹp của nàng nữa. Đã bốn năm nay, từ khi mất mẹ, Mỹ Dung mặc toàn là quần sô áo vải, chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện lược giắt trâm cài, mặc dầu nàng là con nhà quà phiệc, đang tuổi hoa niên.

ác hại thay ! Cái đẹp con người không phải ở quần áo. Với tư cách đoan trang, nết na kiều diễm, vóc ngọc da ngà kia dẫu nàng có mặc quần sô áo vải cũng là hòn ngọc quà của thiên nhiên.

Sau khi tìm hiểu được gia cảnh của nàng, Phan Trung, chàng thi nhân đa cảm kia cũng phải động lòng thương xót. Chàng bảo :

- Xin quà nương tạm lưu lại ngoài phố, chờ ít hôm tôi đến huyện đường xem hồ sơ rồi sẽ ra lệnh miễn tố cho lão công. Chừng ấy quà nương sẽ đưa lão công trở về luôn cho tiện.

Mỹ Dung cảm tạ lui ra, tạm trú nơi quán nước như cũ. Và thấy Phan Trung có cảm tình với gia đành nàng, nàng cũng vui vui. Vì vậy một nụ cười tươi đã nở trên đôi môi đỏ mọng của nàng trước khi giã biệt.

Từ hôm đó, Phan Trung ngày nào cũng sai người sang huyện để hỏi việc Trần lão, nhưng huyện quan vẫn cứ một mặt từ chối không chịu đệ nạp hồ sơ.

Một tuần trôi qua, lòng Phan Trung buồn rười rượi. Còn Mỹ Dung thấy mình đã làm phiền Phan Trung nhiều quá, e ngại không dám đến thúc hối, và cũng chẳng dám đi ngang qua trước cổng nha nữa.

Không phải nàng e thẹn với chàng thi sĩ họ Phan, mà nàng sợ Phan Trung thấy nàng sẽ thẹn thùng vì không làm tròn được lời hứa. Về phần Phan Trung, lúc Mỹ Dung thường lui tới khóc lóc thì chàng thấy khổ tâm đã đành, mà lúc Mỹ Dung vắng bóng, chàng lại đau khổ hơn.

Chàng cho người ra phố dọ xét, vẫn không thấy bóng Mỹ Dung đâu. Té ra trong thời gian đó, Mỹ Dung nằm liệt trong quán nước, đau buồn không dậy nổi.

Thật thảm hại ! Bà hàng nước phải thường ngày cháo lao, săn sóc nàng như tình mẹ con. Không tìm được Mỹ Dung, Phan Trung đoán rằng Mỹ Dung vì quá đau buồn, không tin ở thiện à của chàng, nên đã bỏ về chợ Cầu chăng ?

Chàng thấy đau xót quá, không ăn ngủ được nữa.

Một tuần nữa trôi qua, hồ sơ huyện đường vẫn chưa đệ đến, Phan Trung lơ láo, không còn thiết đến công việc gì nữa, ngày nào cũng nằm mộp trên giường, không dậy.

Thế là cả hai người đều buồn quá đến nỗi lâm bệnh.

Một hôm gió bấc thổi về, mưa phùn lả lướt, Phan Trung nghĩ đến thân phận mình, một kẻ thay mặt triều đình đến đây cứu xét các việc của can nhân, mà không giải nổi một việc hàm oan, để cho tên quan huyện kia thao túng thì còn mặt mũi nào đứng trong thiên hạ.

Chàng hậm hực dẫn vài tên tùy tùng thẳng đến huyện đường. Trong lúc trà nước với huyện quan, chàng nói :

- Tôi nay thay mặt cho triều đình đến đây cứu xét mọi việc oan ức của dân. Tôi xét thấy vụ Trần lão bên trong có nhiều uẩn khúc, dính líu đến bản thân quà chức. Nếu quà chức không kết thúc hồ sơ gởi sang tôi xét lại, thì tôi sẽ lập tờ trình gởi về triều đình lập tức.

Cử chỉ hằn học của Phan Trung làm cho huyện quan sợ hãi, tuy lòng căm hận vô cùng.

Huyện quan đáp :

- Trần lão là kẻ tiếp tay với giặc, việc đã rõ ràng. Nếu ngài cần xét, ngày mai tôi sẽ đưa hồ sơ và can nhân đến.

Phan Trung mừng rỡ, từ tạ ra về.

Hôm sau, quả nhiên huyện quan đưa hồ sơ và Trần lão đến.

Chàng tiếp đón Trần lão rất hậu, khiến quân mua gà về làm tiệc đãi đằng Trần lão, và cho Trần lão trú tại hậu đường, đợi làm đủ giấy tờ sẽ ra về. Trần lão ở đó hai đêm, được Phan Trung đối đãi rất hậu tình không một chút gì quan khách cả.

Do đó, Trần lão rất có cảm tình đối với chàng, và thân mật như tình gia đình.

Lựa lúc vui trong câu chuyện, Trần lão hỏi đến việc gia đình :

- Quan nhân tuổi còn trẻ, đi trấn nhậm phương xa sao chẳng đem phu nhân theo ?

Phan Trung mỉm cười, tỏ thật với Trần lão :

- Cháu chỉ là kẻ bê tha phóng đãng, có chút ít học thức, thuở nay chỉ thích ngao du thi vịnh. Triều đình lầm tưởng cháu là kẻ có tài, bổ vào chức Phán quan thật hư vị.

Trần lão ôn tồn nói :

- Quan nhân là kẻ minh chánh, ở đời này ai ai cũng mến đức. Tài năng như thế còn ai dám bì, xin quan nhân chớ khiêm tốn.

Phan Trung nói :

- Cháu tuổi còn trẻ, chưa có vợ con, tuy giữ trọng trách triều đình song với tuổi nhỏ, dám đâu tự cho mình là kẻ đức hạnh.

Trần lão ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói :

- Lão nay tuổi già, có đứa con gái tuy không tài năng, xinh đẹp lắm, song cũng nên người. Nếu quan nhân không chê hèn mọn, kết duyên cùng tiện nữ, thì thật quà hóa.

Phan Trung ngẩn người ! Một niềm vui lâng lâng trong tâm hồn, chàng cảm thấy như mình sắp được một hạnh phúc vô biên.

Chàng cúi đầu bái Trần lão và nói :

- Lão công thương tình dạy như thế, cháu thật cảm nghĩa. Nhưng việc đó xin gác lại về sau. Hiện nay lão công mới được tha về, nếu có bề nào e thiên hạ dị nghị.

Trần lão nói :

- Một lời đã hứa bốn ngựa khó theo. Thời gian đâu có nghĩa gì.

Hôm sau, Trần lão lên đường hồi hương. Phan Trung cho người tìm khắp phố vẫn không gặp Mỹ Dung, nên chàng đành để Trần lão về một mình.

Từ hôm đó, lòng Phan Trung như cởi mở dưới bầu trời xuân.

Tuy nhiên, đêm ngày chàng không khỏi đem lòng nhung nhớ Mỹ Dung. Hình bóng khuê các của cô gái đoan trang kia như đã in sâu vào đáy lòng chàng một niềm ân ái, mặc dù chưa cùng Mỹ Dung trao đổi một lời nào ái ân.

Thời gian trôi trong buồn mơ, mộng ảo...

Một hôm, Phan Trung áy náy trong lòng, không biết Mỹ Dung cô gái đẹp chợ Cầu, đã trở về nhà chưa, hay đi đâu mất tích, hoặc bị tai nạn gì chăng ?

Chàng liền thu xếp một chiếc thuyền con, mướn hai tay chèo rất giỏi, vượt sóng tìm đến chợ Cầu. Hỏi thăm ra thì nhà Trần lão cách chợ Cầu không xa, dựa bên ven sông, núp sau một rừng thùy liễu rậm.

Phan Trung cho hai người chèo thuyền ở lại giữ thuyền, một mình vạch liễu tiến vào trong. Bấy giờ đã cuối đông, sắp sang xuân nên khí trờ dịu mát, không lạnh lẽo lắm. ánh hoàng hôn lần lần buông xuống, mọi vật như chìm đắm trong mộng ảo;

Nhà Trần lão là một trang viên nguy nga, trước có tường bao quanh, có cổng vào, cũng hồ sen ao cá, cũng khóm trúc chậu hoa, đượm vẻ phong quang.

Chàng lướt qua khỏi cổng, vào bên trong thì than ôi ! Những mái ngói đồ sộ kia đã rách nát, tường vôi rêu phủ, cỏ mọc đầy sân, chỉ còn lại cái mã bên ngoài, mà bên trong thì thật hoang vắng.

Qúa e ngại, chàng lần bước rẽ hoa bước vòng ra đàng sau, thì thấy nơi một ngôi nhà nhỏ trước kia làm phòng ngủ, nay được đổi lại phòng khách, có trang bày đôi chút mỹ thuật.

Một làng khói lam quyện trên mái ngói, Phan Trung đoán biết nhà có người ở, bèn lần vào gõ cửa.

Một tràng ho từ bên trong dội ra, rồi cánh cửa hé mở.

Vừa thoáng vào, Phan Trung đã tươi cười ngay, vì chính là Trần lão.

Trần lão trong thấy Phan Trung, người ân của mình, mừng quá rú lên :

- Quan nhân ! çi chao ! Ngài có dịp quá bộ đến tệ xá thật quà hóa !

Nỗi mừng vui tràn ngập trên nét mặt nhăn nheo của Trần lão khiến Phan Trung cảm động không ít.

Đoạn ông tay quay xuống dưới nhà gọi :

- Các con, hãy lên đây yết kiết ân nhân của nhà ta.

Chẳng bao lâu, từ dưới nhà có bóng xiêm y lả lướt, rồi hai thiếu nữ đẹp như hai nàng tiên bước đến. Qua ánh đèn dầu, không sáng lắm, nhưng Phan Trung đã nhận ra ngay là hai chị em Mỹ Dung !

Nhưng Mỹ Dung lúc này không ăn mặc quần sô áo vải, mà lả lướt trong bộ xiêm y màu hồng rực mùi quà phái. Vẻ đẹp không sao tả xiết.

Chẳng những chỉ có cái đẹp bên ngoài mà cái đẹp còn len lỏi vào cả tâm hồn nàng.

Kìa, khuôn mặt nõn nà, đôi mắt lóng lánh như nước suối mùa thu, đôi môi tươi như hoa nở, đã làm cho Phan Trung thấy được niềm hân hoan ấy.

Nhưng nàng hơi thẹn, vì hai gò má hơi ửng hồng.

Trần lão mở lời :

- Đây là hai tiện nữ, xin phép được gác bỏ chút ít lễ giáo để được ra chào người ân.

Phan Trung tuy là một chàng trai, song trước tình cảnh nồng nàn ấy, không biết nói lời nào.

Mỹ Dung dắt em đến trước mặt Phan Trung làm lễ, rồi hớn hở lui gót.

Nàng không còn khóc nữa. Nét hoa ủ dột trước kia đã làm Phan Trung đau lòng lâm bệnh, thì nay nét tươi vui kia cũng đã làm cho chàng lơ láo như kẻ mất hồn.

Sung sướng quá, Phan Trung nhìn cảnh đoàn tụ của cha con Trần lão mà vui lây. Chàng tự xem mình như người trong gia đình, và nói những lời tâm tình mật thiết.

Câu chuyện nồng nàn thì Mỹ Dung đã pha trà bưng lên, tự tay rót cho chàng một chén. Trần lão nâng chung đón mời. Phan Trung cùng Trần lão đối ẩm.

Bên ngoài vầng trăng bắt đầu lên khỏi núi, tỏa ánh sáng dịu hiền xuống các chậu hoa trước cửa, làm cho lòng người càng đượm tâm tình.

Chàng xin bút mực, viết một bài thơ tâm tình, rồi cất vào túi áo.

Nguyệt bán ngô đồng nhật vi ti
Độ thành huề cổ dị nan qui
Tâm tình ước cân thiên trương chi?
Đối diện phanh trà thị ngã thê

Dịch :

Trăng nửa cành ngô bóng xế tà
Đô thành tiếng trống vọng còn xa
Tình mơ khép kín ngàn trang giấy
Đối diện pha trà ấy vợ ta

Đêm ấy, bên ngoài trăng sáng, bên trong chủ khách trò chuyện mãi đến canh khuya mà câu chuyện vẫn đượm tình.

Mỹ Dung lo bày tiệc ăn uống trà rượu ngát hương. Cặp trai tài gái sắc tuy không được nói với nhau câu nào mà bốn mắt hình như đã nói lên tất cả nỗi lòng mình.

Sáng hôm sau, trước giờ giã biệt, Phan Trung nhận được bài thơ tống biệt của Mỹ Dung do Kim Thanh đưa đến như sau :

Nhứt họp xuân giao vạn là tình
Đoạn trường phương thảo đoạn trường oanh
Nguyên tương song lệ hoàn vi vũ
Minh nhựt lưu quan xuất bất hành

Dịch :

Muôn dặm tình xuân khéo để dành
Nhìn hoa đau ruột khóc cùng oanh
úớc thành mưa lệ tràn đôi mắt
Đón bạn ngày mai bước trở hành

Bài thơ này, Phan Trung biết Mỹ Dung đã viết ra trong đêm vừa rồi. Chàng nhận thơ, và trao cho Mỹ Dung một bài thơ hứa hẹn, rồi giã biệt.

Tình yêu chan chứa, Phan Trung mỗi bước một ngừng, ra đi mến tiếc như mất một vật gì trong tâm khảm.

Về đến nha sở, Phan Trung buồn bã không còn muốn làm việc gì nữa, định thu xếp về kinh, tiện đường ghé về nhà để lo tìm người mối lái đến chợ Cầu cầu hôn.

Nhưng công việc chưa xếp đặt xong, một tin đến với chàng như xét đánh.

Nguyên các quan phủ, huyện trong vùng, từ khi chàng đến trấn nhậm, mọi việc đều bị chàng cứù xét rành mạch, không còn dùng quyền riêng áp bức dân lành để bách sách tiền bạc nữa, do đó họ ngấm ngầm trong lòng tìm mưu ám hại.

Họ góp nhóp vàng bạc, lễ vật gởi về kinh, nhờ tay quan Thái sư là kẻ dua mị, biếm chức Phan Trung. Quan Thái sư được vàng bạc quá nhiều còn kể gì nghĩa nhân, liền ra lệnh cách chức Phan Trung, đòi về triều trị tội lấy cớ là Phan Trung đã ăn hối lộ của dân, thả nhiều can phạm.

Phan Trung còn trẻ tuổi, đâu có ngờ những tai vạ có thể đến cho mình trong khi xã hội bị thối nát đó.

Thế là Phan Trung bị triều đình vấn tội, đày ra chốn rừng sâu nước độc. Mộng tình tan vỡ theo khói mây ! Chàng ấp ủ tình thương nỗi nhớ trong lòng mà không biết nói cùng ai.

Từ khi Phan Trung bị biếm chức đày đi, thì giặc giã lúc một lan tràn, lửa binh chấn động khắp vùng, dân gian sống trong cảnh điêu linh khổ sở.

Chàng thi sĩ nằm bốn năm trong ngục thất, bệnh hoạn, khổ cực đủ bề, lòng ấp ủ mộng tình không lúc nào nguôi, thân xác gầy gò như một con ma đói.

Cũng may, bấy giờ có một thiếu phụ, trước kia ở trong vùng giặc cướp, gia đình bị hàm oan được Phan Trung cứu xét tha cho, nay tản cư đến ở gần vùng lao xá. Nghe tin Phan Trung bị nạn, lưu đày đến đó, nàng nhớ ân xưa, liền bỏ tiền mua chuộc tên chủ ngục để được phép vào thăm và đem đến thuốc men cơm áo.

Thiếu phụ ấy là Hồng Nương, vốn một kẻ giàu lòng từ thiện hay thương người nghèo kó. Đối với Phan Trung là người ân, lâm hoạn nạn, nàng một mặt giúp đỡ không nại khó khăn. Phan Trung nhờ đó mà qua khỏi những ngày bệnh tật trong cảnh lưu đày khổ hận.

Thời gian trôi qua, những chuổi ngày đau buồn thống thiết của chàng thi sĩ họ Phan, chẳng biết Mỹ dung có biết hay không.

Nhưng còn làm sao rõ được tin tức nữa. Trong loạn lạc, mỗi gia đình phải tản cư đi mỗi nơi lo sinh sống. Chính trong thời gian đó, cha con Trần lão phải khổ cực vô cùng. Còn nàng Mỹ Dung cũng đang mãi ôm ấp một mối tình riêng, đau buồn vô hạn.

Thời gian, không gian, hoàn cảnh đã bẻ gãy mối tình tươi đẹp của đôi trai gái Phan, Trần mà hận lòng dẫu chết cũng khó nguôi được.

Hồng Nương mấy năm trôi nổi, vẫn với nghề buôn gánh bán bưng, thỉnh thoảng vào lao xá thăm Phan Trung, và giúp đỡ thuốc men, lương thực.

Cảm nghĩa ấy, Phan Trung coi Hồng Nương như một người ân độc nhất trên đời.

May thay, qua năm năm, triều đình dẹp yên giặc cướp, có lệnh đại xá tội nhân. Phan Trung cũng ở trong số người được may mắn ấy.

Ra khỏi ngục, cuộc đời xuân xanh của Phan Trung như đã héo tàn. Trải năm năm tù tội, cha mẹ chàng vì buồn bực, lâm bệnh qua đời, gia đình chỉ còn lại anh chị em mà thôi.

Nghĩ mình là đấng nam nhi, không lập được thân, bước công danh đã lỡ, lại không được phụng dưỡng song thân tuổi già, chàng cho là bất hiếu, nên buồn bã bỏ gia đình ra đi phiêu bạt nữa.

Cũng có nhiều bạn bè biết chàng là kẻ sĩ thất thời, đem lòng thương muốn giúp đỡ để phục hồi quan chức, nhưng chàng một mặt chối từ :

- Đã lâu nay tôi sống biếng nhát quen thân, nay ra làm quan phải ngồi ở công đường đúng giờ đúng khắc, thật tôi không chịu nổi.

Thật ra Phan Trung đã chán đời quan hoạn, không muốn bước vào con đường mà bùn lầy đã nhuộm cả cuộc đời chàng.

Phan Trung tìm đến một thành phố thuê một túp lều tranh, dạy năm ba đứa học trò và viết mướn để độ nhật. Nhưng không đủ sống ! Hồng Nương được tin lại phải đến thăm viếng và đem tiền bạc đến giúp.

Ba năm trôi qua trong đau ốm, Hồng Nương phải chạy chữa săn sóc chàng. Sau đó, Hồng Nương thấy Phan Trung cô độc lại đem đứa cháu mình đến ở chung với Phan Trung. Và mỗi tháng, nàng đến thăm, có lúc ở với chàng mười bữa, nửa tháng rồi mới ra đi.

Dân chúng trong vùng thấy cảnh ấy, gọi Hồng Nương là vợ chàng, và Phan Trung cũng chẳng thèm cải chính.

May thay, nghề viết mướn của Phan Trung mỗi lúc một phát đạt, được thiên hạ ca tụng nhiều, do đó chàng đắt mối, kiếm được tiền bạc cũng khá, chàng tậu được ngôi nhà xấu xấu, và sống cuộc sống cũng đỡ cơ cực như thuở hàn vi.

Bỗng một hôm, chàng được người bạn quen thuở nhỏ đến thăm, cho biết cha con Trần lão hiện nay trở nên giàu có, hiện đang sống phong lưu, và nàng Mỹ Dung vẫn sống độc thân, chưa hề xe duyên tơ tóc.

Nghe tin ấy, Phan Trung nghĩ đến tình xưa, động lòng thở dài :

- Ôi ! Đã mười năm mà nàng vẫn chịu cảnh phòng the chích bóng sao ! Nàng vì tôi mà sống như thế ư ?

Người bạn của Phan Trung là Đà Lê, vốn kẻ chân thành, biết mối duyên tình của chàng thuở trước, nên ái ngại nhìn chàng nói :

- Nếu không vì quà huynh thì nàng đã thành gia thất lâu rồi, vì nàng là gái khuê môn, nết na đứng đắn, gần đây lại cao sang, thiếu gì kẻ gắm ghé trương cung bắn sẻ.

Phan Trung mơ màng nói :

- Trải mười năm... Đến nay nàng cũng đã lớn tuổi rồi nhỉ.

Đà Lê mỉm cười :

- Đúng vậy ! Nàng đã lớn tuổi nhưng sắc đẹp vẫn chưa phai, nét diễm kiều vẫn như thuở nào.

Phan Trung buồn bã hỏi :

- Lê huynh, anh có biết cuộc sống của gia đình nàng qua mười năm như thế nào không?

Đà Lê đáp :

- Trước kia thì gia đình nàng khổ cực lắm, nhưng ba năm nay, Trần Tự Thiên, anh của nàng, được phục hồi quan chức, gia đình nàng sống rất mực phong phú.

Phan Trung gật đầu :

- Tôi có nghe Trần Tự Thiên là một người văn học, lược thao gồm tài, được triều đình tái bổ cũng phải. Nhưng hiện thời gia đình nàng ở đâu ?

- Đang ở nơi đô thị này;

Phan Trung trố mắt nhìn bạn :

- Thật thế sao ? Còn nhà ở chợ Cầu ?

Đà Lê giảng giải :

- Tự Thiên vừa bổ nhậm đến đây nên đem cả gia đình đến nha đở. Riêng Trần lão và Mỹ Dung thì vừa đến đây để thăm Tự Thiên.

Phan Trung gật đầu :

- Lê huynh biết rõ như thế à ?

Đà Lê đáp :

- Tôi vừa đến thăm Tự Thiên hôm qua, có gặp Trần lão, và cả nàng Mỹ Dung ở đấy nữa.

Phan Trung ngắt lời bạn :

- Lê huynh có nói là hiện tôi sinh sống nơi đây chăng ?

- Có ! Nhưng không chỉ nhà ! Trần lão ước mong được gặp mặt Phan huynh để thăm viếng.

Phan Trung thở dài :

- Mình đang trong lúc nghèo khổ quá !

Đà Lê ngắt lời bạn :

- Phan huynh đừng nghĩ thế. Trần lão vẫn nhớ ân Phan huynh và tình nghĩa thuở nào vẫn không phai !

Phan Trung bùi ngùi nói :

- Lê huynh, anh biết chắc Mỹ Dung vẫn chưa xe duyên với ai chớ ?

Đà Lê thở dài :

- Chắc chắn như vậy ! Nhưng... Phan huynh hình như... đã có vợ !

Phan Trung nghẹn ngào, không biết phải nói sao, nhìn bạn nói vu vơ :

- à, tôi... có vợ...

Lời nói chàng như ngất nghẹn ! Mặc dù là bạn thân, Phan Trung không đủ can đảm bày tỏ hoàn cảnh riêng của mình.

Qua một phút yên lặng, Đà Lê nói :

- Anh cũng nên đến thăm Trần lão một bữa.

Phan Trung như sực tỉnh hỏi lại :

- Tôi có nên đến thăm không, Lê huynh ?

- Nên lắm, vì Trần lão là kẻ ân hậu kia mà !

Ấp úng một lúc, Phan Trung như nói một mình :

- Nhưng nàng tưởng tôi có vợ...

Đôi bạn nhìn nhau không ai nói gì thêm, Đà Lê từ giã bạn.

Cách mấy hôm sau, Phan Trung đến thăm Trần lão. Tình nhớ nhung nồng nàn vẫn thắm thiết như xưa, nhưng việc hôn nhân hình như không ai dám nhắc đến.

Tuy nhiên, Phan Trung không khỏi khâm phục Trần lão là người chung thủy, thâm hậu.

Cuộc thăm viếng chỉ mang lại cho Phan Trung những đau buồn. Nhất là đối với Mỹ Dung, nàng làm sao hiểu nổi tâm trạng của chàng được.

Tâm hồn của Phan Trung đang trầm lặng bỗng nhiên gợi sóng. Rồi bỗng một hôm, vào tiết đầu xuân, Mỹ Dung tìm đến thăm chàng.

Thật vậy, như lời Đà Lê đã nói, tuy nàng lớn tuổi, nét diễm kiều không phai nhạt trong gió bụi của thời gian.

Bàn tay thon ngón nhỏ này xưa, nàng đã rót trà đưa mời Phan Trung uống, thì nay vẫn còn dịu dàng óng chuốc. Nàng bưng chung trà nhìn Phan Trung hỏi :

- Anh đã có vợ rồi sao ?

Phan Trung luống cuống một lúc, rồi ú ớ :

- Vâng, tôi đã có vợ... nhưng...

Mỹ Dung nhoẻn một nụ cười làm cho Phan Trung nóng cháy cả mặt mày.

Nàng xin giã biệt !

Phan Trung tiễn nàng ra cổng lòng thấy bồi hồi, nhìn bầu trời tím ngắt.

Đợi cho mỹ nhân khuất bóng chàng mới bước vào, cầm bút viết mấy vần thơ !

Hữu duyên thiên là năng tương ngô.
Vô duyên đối diện bất tương phùng
ẩm ngã trà hề hoàn ngã trảng
Đô thành huề cổ dĩ chinh đông

Dịch :

Có duyên ngàn dặm xa càng gặp
Vô duyên tận mặt vẫn cách lòng
Uống trà xin trả ly không
Đô thành trống đã thì thùng về trưa


Phan Hồng Trung

_________________
Image


Top
 Profile  
 
PostPosted: 09 Feb 2016 16:23 
Offline
User avatar
Moderator
Moderator

Joined: 16 Oct 2013
Posts: 47270
Thanks: 321
Thanked: 29167 times
18 . Người Bán Dầu Chiếm Trọn Nàng Hoa


Vào triều Đại Tống, cách kinh đô Hạ Lương vài dặm, có vợ chồng lão Tân Thiện, thôn An Lạc, năm bốn mươi tuổi sanh đặng một gái nhỏ đặt tên Tân Diên Cầm.

Diên Cầm vốn thông minh. Năm bảy tuổi đã biết đọc sách làm thơ, năm mười tuổi biết cả các môn cầm kỳ thi họa. Ngoài ra, các việc nữ công như thêu thùa, vá may đều khéo léo.

Vì được một cô gái công dung ngôn hạnh vẹn toàn, nên Tân Thiện ước chọn được một rể tài hoa lương đống, hòng nuôi dưỡng mình lúc tuổi già.

Nhưng chưa có bậc anh tài nào rắp ranh bắn sẻ, thì một sáng kia, giặc Kim ồ ạc kéo đến chiếm thành Hạ lương, vua Nhị Đế phải dời đô, bá tánh đua nhau chạy trốn.

Gia đình lão Tân Thiện, sau một cuộc ruồng bố của giặc, cha con, chồng vợ đều lạc nhau.

Riêng về nàng Diêm Cầm, vì thương mến cha mẹ, nên lúc bị lạc khóc lóc không nguôi. Nàng chạy theo lớp sóng người tị nạn để tìm gặp mẹ cha. Nhưng trong hỗn loạn không thể nào tìm được.

Qua hai ngày trong đói khát, buồn bã, bỗng nàng gặp được lão Bốc Kiêu là người hàng xóm. Còn gì mừng rỡ hơn trong lúc tứ cố vô thân, lại gặp được người quen, Diên Cầm liền chạy đến gọi :

- Bác Bốc ! Bác có gặp cha mẹ cháu không ?

Bốc Kiêu vốn là tay gian ác, xảo trá trên đời. Nhìn thấy cô gái dung nhan diễm lệ kia, thoạt nảy ra một à nghĩ bất lương, thầm bảo :

- Tản cư chạy giặc, tiền bạc đã hết, lương khô sắp cạn. May gặp con bé này, âu là ta bắt nó theo ! Biết đâu “nuôi gà chẳng đẻ được trứng vàng” ?

Lão liền thân mật bảo Diên Cầm :

- çi chao ! Cháu Diên Cầm đây sao ? Bác vừa gặp cha mẹ cháu lúc sáng nay, cha mẹ cháu có nhờ bác nếu gặp cháu thì dẫn theo, đến Kiến Khương sẽ gặp.

Diên Cầm tuy còn trẻ, song đã có trí khôn, biết Bốc Kiêu là người xảo trá, nhưng trước tình thế cô đơn đành phải nhắm mắt đưa chân, nương nhờ Bốc Kiêu chứ còn biết làm sao hơn.

Bốc Kiêu dẫn Diên Cầm thẳng đường đến phủ Kiến Khương. Nhưng đi được nửa đường, Bốc Kiêu được tin vua Khương Vương vừa lên ngôi, đóng đô ở Lâm An, nên Bốc Kiêu lại dắt Diên Cầm rẽ về hướng ấy.

Đường sá quân giặc chiếm đóng nhiều chỗ, Bốc Kiêu phải bắt Diên Cầm len lỏi tránh vào làng mạc lần mò đến Kinh đô.

Khi đến nơi thì lưng túi đã cạn, lương thực không còn, Bốc Kiêu thầm tính chuyện bán nàng Diên Cầm để lấy tiền sinh sống.

Đã định à như vậy, nên Bốc Kiêu thuê một căn nhà nhỏ nơi xóm nghèo, rồi dặn Diên Cầm :

- Cháu ở đây coi nhà để bác đi tìm thử đó đây, may có gặp người bà con nào chăng.

Diên Cầm vâng lời, ở nhà một mình. Trong lúc đó Bốc Kiêu lểnh mểnh ra phố, hỏi thăm đến các thanh lâu, và được nghe đồn nơi bến Yên Lạc có mụ Vương Bà danh tiếng nhất ở đế đô, kết nạp rát nhiều “mầm trinh giống tốt”.

Bốc Kiêu liền tìm đến tỏ bày à kiến, và dắt mụ Vương Bà đến nhà trọ, lén xem nhan sắc Diên Cầm.

Trông thấy Diên Cầm là một đóa hoa xuất sắc, Vương Bà không ngần ngại trả cho Bốc Kiêu một giá rất cao là năm chục lạng vàng.

Được một số vàng lớn, Bốc Kiêu hớn hở tiễn Vương Bà trở về lầu xanh. Hôm sau lão tìm cách nói dối với Diên Cầm :

- Trong lúc chạy hối hả, bác mang theo quá ít tiền, nay ăn tiêu đã hết, bác cần phải đi tìm người quen vay mượn sống đỡ qua ngày. Vậy từ nay cháu đến ở tạm với người em gái của bác ở đầu phố, đợi bác về sẽ liệu.

Diên Cầm đâu ngờ dụng tâm của Bốc Kiêu, riu ríu tuân theo, nối gót Bốc Kiêu đến thanh lâu, yết kiến mụ Vương.

Mụ Vương đón tiếp Diên Cầm và Bốc Kiêu rất nồng hậu, xem như người thân trong gia đình. Bốc Kiêu lưu lại hai hôm, và dặn Diên Cầm :

- Cháu ở đây phải tuân theo lời dì Vương. Bác sẽ đi tìm cha mẹ cháu. Nếu gặp, bác trở về đây tức khắc.

Diên Cầm tuân lời. Bốc Kiêu nhận đủ số vàng lánh mặt.

Thế là Diên Cầm phải nương náu nơi lầu xanh, không biết ai làm thân, ngày ngày chỉ trò chuyện với Vương bà.

Mụ Vương là kẻ sành đời, dụng tâm nuôi Diên Cầm, để chờ ngày bán hoa thu lợi, nên một mực chiều chuộng Diên Cầm, nay bánh ngọt, mai trà thơm, không thiếu những món ngon thức lạ.

Diên Cầm tuổi còn nhỏ, chưa hiểu việc đời, thấy mụ Vương tử tế với mình ngở bà ta thương yêu nên cũng đem lòng mến.

Qua một thời gian, Diên Cầm thấy Bốc Kiêu đi biền biệt không về, phần nhớ cha mẹ, ăn ngủ không được, nàng thỏ thẻ hỏi mụ Vương :

- Thưa dì, chẳng hay bác Bốc đi đâu mà mãi không trở lại. Cháu ở đây lâu ngày e làm phiền đến dì nhiều quá ?

Mụ Vương giã cách ngạc nhiên nói :

- Con không phải là con gái của người họ Bốc đấy sao ?

Diên Cầm đem tình thật, kể rõ hoàn cảnh mình bị tản cư xa cha mẹ, gặp Bốc Kiêu là người hàng xóm.

Mụ Vương lúc ấy mới hay sự tình, mắng thầm :

- Thế là gã họ Bốc đã đem con người khác bán đứng cho ta, lấy một số vàng lớn như vậy.

Tuy có lầm họ Bốc, nhưng được Diên Cầm cũng chẳng thua lỗ vào đâu, mụ Vương nói với Diên Cầm :

- Cháu ạ ! Người họ Bốc bảo cháu là con gái của lão, lão đã đem bán cho ta năm chục lạng vàng. Thế thì từ nay con là con của ta, đừng trông mong gì đến ai nữa.

Diên Cầm nghe nói khóc rống lên, bỏ ăn bỏ ngủ mấy ngày.

Mụ Vương phải nhọc lòng tìm lời dỗ dành :

- Con chớ buồn ! Ta không hiềm gì con gái, nhưng thấy con thực thà dễ mến, nên ta đem lòng thương, muốn mua về làm con để phụng dưỡng ta lúc tuổi già. Từ nay con gọi ta bằng má, và cứ ăn ở cho phải đạo làm con. Con ở với ta cũng như ở với cha mẹ con vậy.

Ban đầu, Diên Cầm buồn bực, nhưng sau đó thấy mụ Vương an ủi mãi và sắm đủ thứ quần áo sang trọng cùng các món ngon vật lạ đem đến cho nàng, nên nàng cũng vị tình mà nguôi ngoai.

Từ đấy, mụ Vương cho một nàng kỵ nữ thường ngày lui tới trò chuyện và dạy cho Diên Cầm các môn đờn ca vũ nhạc.

Mụ Vương lại cải tên Diên Cầm ra tên Ngọc Mỹ cho đẹp hơn.

Nhà mụ Vương là nơi lầu xanh rất sang trọng, phòng the rất nhiều, thường ngày các vương tôn công tử ngựa xe lui tới nườm nượp, cảnh sốnng hỗn loạn ngày cũng như đêm,

nhưng mụ Vương đã khéo léo để Ngọc Mỹ sống biệt một gian phòng, không cho tiếp xúc với ai. Vả lại, Ngọc Mỹ lúc đó còn trẻ, chưa biết thế nào là bướm ong, nên không để à.

Suốt một năm, nàng chỉ chuyên chú về đờn ca hát xướng, lúc buồn lấy thơ phú làm vui. Năm nàng lên mười lăm tuổi, sắc đẹp bắt đầu chúm nở, thân hình cân đối nở nang, má phấn môi son, mày thu mắt sáng, trông chẳng khác đóa phù dung trong buổi đầu xuân.

Bóng hồng thấp thoáng ở lầu xanh, mà mành thưa không để lọt gió đông, các công tử đều ra vào háo hức bẻ hoa nước trước. Nhưng mụ Vương đã tốn một số vàng mua nàng lại có công nuôi nấng suốt năm trời, dễ gì để ai phá phách. Bà âm thầm treo một giá rất cao. Ai có đủ ba trăm lượng bạc mới mong mở cửa động đào, vào vườn hoa mới.

Giá ngọc càng cao thì phẩm cách càng quà, tiếng đồn dội cả đế đô. Ngọc Mỹ trở thành một đóa hoa khôi bậc nhất trong chốn phồn hoa muôn mặt.

Các vương tôn công tử trẻ tuổi phần nhiều là những người còn lệ thuộc cha mẹ, sống bám trong gia đình làm sao có đủ số bạc lớn lao ấy, nên mặc dù ao ước cũng đành chịu lấy mắt mà nhìn, chẳng ai dám vung tay bẻ khóa.

Bấy giờ vào tiết Trung thu, đêm trăng tỏ rạng, có người viên ngoại họ Kim, ở xa nghe tiếng tìm đến.

Sau khi đã nhìn rõ nét hoa, mặc dầu tuổi cao tác lớn, viên ngoại cũng không khỏi mê mẩn cả người. Tiền này giá ấy không đắt, lão phú hào nhất xứ liền mở gói lấy đủ ba trăm lạng bạc trao cho mụ Vương và xin được vào việc.

Cửa hàng đã đến lúc khai trương, mụ Vương còn tiếc gì mà không thu lợi.

Ngặt vì Ngọc Mỹ là đóa hoa xuân, chưa một lần gần gũi bướm ong, nay phải tiếp một lão già thì thật là khó.

Tuy nhiên, vàng bạc là tất cả, dẫu khó khăn đến đâu người ta cũng phải tìm cách làm cho đượ. Mụ Vương liền nghĩ ra một kế, bày cho viên ngoại theo đó mà làm.

Thế là ngay đêm ấy, viên ngoại sắm sửa một chiếc thuyền, đem đủ các thức ăn uống, treo đèn kết hoa rực muôn vẻ đẹp.

Mụ Vương vào nói với Ngọc Mỹ :

- Có người cậu ở quê lai kinh dự lễ Trung thu, đêm nay có cuộc du thuyền, con muốn đi chơi giải khuây thì xuống thuyền, dạo một chút rồi về.

Ngọc Mỹ tánh trẻ ham vui, bằng lòng ngay. Thế là nàng xuống thuyền, được viên ngoại họ Kim đón tiếp rất hậu. Thuyền chèo khắp mặt hồ, để viên ngoại uống trà, nhìn trăng ngắm người đẹp.

Sau khi nhìn ngắm đã thỏa mãn đóa hoa trinh bạch kia, viên ngoại không cầm được lòng dục, liền theo kế hoạch mụ Vương đã vạch sẵn.

Lão rót một chung trà hương có bỏ thuốc mê, đưa mời Ngọc Mỹ uống. Ngọc Mỹ uống xong chung trà tháy tâm thần rối loạn ngất xỉu trên khoang thuyền, không còn biết gì nữa.

Viên ngoại giả cách kinh hãi, bảo là nàng bị gió độc, sai bọn tùy nhân vực nàng lên bờ, khiêng về thanh lâu.

Đến nơi mụ Vương đã chực sẵn, và đã dọn sẵn một căn phòng tươm tất để tiếp đón viên ngoại họ Kim.

Mụ cho người đưa Ngọc Mỹ lên phòng, tự tay đấm bóp khắp người nàng, đợi cho nàng thật thấm thuốc mê rồi mới gọi viên ngoại lên.

Lão viên ngoại lọt được động đào còn biết đâu đến đất trời cao rộng. Gió mưa tầm tã đêm trường, đóa hoa xuân tan tác.

Khi nàng Ngọc Mỹ tỉnh lại thì mưa tạnh gió tan, người nàng bải hoải. Lão viên ngoại vẫn còn say ngủ bên nàng.

Biết mình đã mắc mưu, tấm thân đã nhơ nhuốc, Ngọc Mỹ nhỏm dậy, nhào xuống đất ôm mặt khóc.

Mụ Vương chạy đến tìm cách dỗ dành, trong lúc đó lão viên ngoại đắc à, hớn hở ra khỏi thanh lâu trở về trang viện.

Ngọc Mỹ khóc sướt mướt mấy ngày không ăn uống, nghĩ mình cũng biết đọc sách thánh hiền, gương trung trinh tiết nghĩa đã từng xem đến, mà tấm thân giữ không trọn thì còn sống trên đời làm chi. Nàng có à tự tử chết đi cho xong.

Mụ Vương biết được à định của nàng, sợ hãi thầm nghĩ :

- Bao nhiêu vốn liến bỏ ra cốt để sau này thu lợi, nếu nó chết đi thì còn mong gì làm giàu.

Nghĩ mình khó bề khuyên giải, mụ Vương tính cậy mụ Lưu, người bạn láng giềng đến lựa lời giúp sức. Mụ Lưu vốn là kẻ miệng lưỡi đa đoan, một tay quyền biến, nên nghe mụ Vương triệu đến đã hiểu ngay.

Tuy nhiên, là một kẻ sống vì tiền, đâu có chịu làm mà không thủ lợi. Vì vậy, khi mới giáp mặt mụ Vương, mụ Lưu đã nói ngay :

- Hẳn có điều rắc rối nên phải nhờ đến miệng lưỡi Tô Tần sao ?

Mụ Vương buồn bã đáp :

- Cũng vì con bé ấy “trở máng” nên tôi phải nhờ đến chị. Xin chị vì tôi khéo dùng lời giúp đỡ.

Mụ Lưu nói :

- Việc gì tôi đã nói đến ắt phải xong. Nhưng công cán phải nghĩ cho sòng phẳng.

Mụ Vương cười ha hả nói :

- Chị lo gì việc ấy ! Có khi nào tôi khá mà tôi lại không nghĩ đến chị.

Vừa nói, mụ Vương vừa mở tủ lấy năm lạng bạc trao ra. Mụ Lưu bỏ tiền vào túi, vừa bước lên thang lầu vừa nói :

- Cành hoa quốc sắc thiên hương ấy nếu dùng được có thể lập thêm năm bảy kỹ viện. Số tiền công của tôi có là bao ! Phải thế không chị Vương ?

Mụ Vương cười xòa không đáp. Mụ Lưu bước lên cầu thang, thấy nơi góc trái có một căn phòng đẹp, màn treo cánh phượng, trướng rủ màu hồng, biết đó là biệt phòng của Ngọc Mỹ.

Mụ rón rén bước vào. Lúc đó Ngọc Mỹ tóc mây buông xỏa, rối bời. Quần áo hoen ố vì nước mắt, nàng đang gục đầu xuống tấm đệm nhung khóc nỉ non.

Mụ Lưu cười lớn, nói :

- Cháu ! Có việc gì buồn bã khóc than như vậy ? Hãy vui lên, nói chuyện với dì.

Đang lúc đau đớn, tâm tình chẳng biết tỏ cùng ai, thấy mụ Lưu là người hàng xóm, Ngọc Mỹ sụt sùi nói :

- Dì ạ ! Thân con còn có ra gì ! Con nghĩ tủi phận mà buồn, không còn muốn sống !

Mụ Lưu bước đến ngồi bên Ngọc Mỹ, vuốt ve làn tóc rối, lấy khăn lau nước mắt cho nàng và nói :

- Cháu đừng nói dại ! Hễ ở núi sống nhờ cây rừng, ở sông sống nhờ lộc nước. Làm gái thì sống nhờ cái duyên lúc tuổi còn xanh. Vả lại chị Vương nuôi cháu hai năm trời, công lao cực nhọc, chẳng lẽ cháu không đền.

Ngọc Mỹ nghe mụ Lưu nói thế, bất bình đáp :

- Sao dì nghĩ như vậy ! Cháu có thể vì người ân mà nuôi nấng phụng dưỡng để trả nghĩa, còn như việc đem thân tiếp khách thì thật ê chề, đau đớn. Cháu không thể nào chịu như vậy.

Mụ Lưu mỉm cười, nói xa xôi :

- Cháu chưa hiểu, mảnh đất mới khai phá lần đầu thì có hơi cực nhọc thật, nhưng sau đó cày cấy bao nhiêu thì đất xớp bấy nhiêu, hoa lợi thu vào nườm nượp. Cháu tiếc mảnh đất

mà không để cày cấy khai thác, lấy đó mà làm vốn liếng nuôi thân, sống một cuộc đời sung sướng.

Ngọc Mỹ hét lên :

- Thôi thôi, dì chớ nói như thế nữa, cháu chẳng muốn nghe đâu. Cháu chỉ muốn nghe dì bày cho một chuyện làm ăn lương thiện mà thôi.

Mụ Lưu vừa cười, vừa nói :

- Làm ăn trong đời không có gì là lương thiện đâu cháu ạ ! Kẻ mong làm giàu thì bất nhân thất đức, cướp của người mới làm giàu. Kẻ muốn cao sang địa vị tất phải nịnh hót, làm đủ điều hèn hạ. Kẻ muốn sống cho thanh nhàn an phận tất phải có một nghề nghiệp của ông bà để lại. Chỉ trừ đi ở đợ, làm thuê cho kẻ khác mới mong gọi là lương thiện. Nhưng trong đời này đi ở đợ làm thuê cũng khó tránh khỏi bị người ta hành hạ, cực nhọc.

Ngọc Mỹ nói :

- Thà con bị hành hạ cực nhọc còn hơn để tấm thân ô nhục.

Mụ Lưu nói :

- Đó là dì nói với hạng người xấu xa, cục mịch ! Còn như cháu có sắc đẹp ngàn vàng, dẫu đi làm thuê ở mướn, đời cũng không để cho cháu được yên thân giữ lấy trinh khiết. Cái quà của người con gái là ở chỗ trinh khiết, nay cháu đã mất trinh rồi, thì còn giữ tấm thân làm chi. Theo dì thì cháu nên dùng nó lấy của thiên hạ, sống một cuộc đời sung sướng là hơn. Đời này không có cái gì gọi là thanh bạch hết !

Ngọc Mỹ hét lên :

- Không, không ! Cháu nhất định không làm như vậy.

Mụ Lưu nói :

- Hoàn cảnh cháu hiện nay cá chậu chim lồng, dù cháu có muốn theo à cháu cũng không được. Đây này, dì nói thật cho con biết, chị Vương đã bỏ ngàn vàng mua cháu về đây, thì quyền sống chết của cháu là do ở chị Vương định đoạt, trừ khi cháu đủ số tiền chuộc thân cháu lại. Nếu cháu không có số tiền, mà trái à chị Vương, chị ấy sẽ hành hạ, đánh đập, làm khổ thân cháu, mà kết cuộc, tấm thân liễu yếu đào tơ của cháu liệu có chống lại được sức mạnh đang đè nặng ngoài xã hội không.

Ngọc Mỹ nghe nói khóc òa :

- Cháu còn thơ bé, biết làm gì có số tiền để chuộc lấy thân, thoát khỏi cảnh này. çi ! Độc ác thay lão Bốc Kiêu, lão nỡ đem bán cháu để khổ thân cháu thế này ?

Mụ Lưu được lời thỏ thẻ :

- Này cháu ! Cháu nên nghe lời dì, sau này dì sẽ giúp cho cháu giải thoát. Hiện nay trinh tiết của cháu không còn, thôi thì cũng liều tiếp khách đi cho xong, để vui nhà vui cửa, một là trả ân cho chị Vương có công nuôi dưỡng săn sóc cháu suốt hai năm trời, hai là trong thời gian tiếp khách, cháu dành dụm tiền bạc, lúc nào đủ số, dì sẽ giúp cho cháu chuộc lấy thân. Vả lại trong khách làng chơi biết đâu chẳng có người vì nghĩa ra tay Mạnh Thường Quân giúp cháu.

Ngọc Mỹ như nghe lọt vào tai, lau nước mắt, nhìn mụ Lưu nói :

- Trăm việc sau này nhờ dì ! Cháu tiếp khách là để kiếm tiền chuộc lấy thân, để đi tìm cha mẹ cháu mà thôi.

Mụ Lưu mừng rỡ, hứa :

- Được rồi, cháu cứ an tâm, sau này đã có dì liệu định. Cháu mà có đủ số bạc thì dì chỉ nói một lời chị Vương sẽ cho cháu tự do ngay.

Thế là cuộc “du thuyết” của mụ Lưu đã có kết quả. Mụ Vương vui mừng quá sức, tiễn chân mụ Lưu về nhà với lời cảm tạ nồng hậu.

Từ đó Ngọc Mỹ ra mặt tiếp khách rất vui vẻ.

Các vương tôn công tử xa gần nghe nức tiếng đồn, ngựa xe đến thanh lâu rộn rịp. Mụ Vương mỗi ngày thâu vào một trăm lượng bạc, và hoan hỉ cho Ngọc Mỹ mười lượng.

Nét hoa lại không vì ong bướm gần gũi mà lạt phai, trái lại Ngọc Mỹ càng ngày sắc đẹp càng lộng lẫy, nức tiếng là đệ nhất hoa khôi ở kinh thành.

Cách ba năm về trước, lúc ly hoạn có một người họ Tần tên Lương, góa vợ sớm, chỉ sanh được một trai là Tần Trọng.

Lúc Tần Trọng lên mười ba tuổi, vì hoàn cảnh túng thiếu nên Tần lão đem bán Trọng cho một hiệu buôn dầu ở Thạnh Hóa, thuộc kinh đô Lâm An.

Chủ hiệu buôn này là Châu lão, tánh tình hiền đức, lúc nào cũng vui vẻ đối với mọi người, hiềm vì Châu lão góa vợ, không con, nên mua Tần Trọng làm con nuôi, để sau này nối giõi và phụng thờ hương khói.

Do đó, Tần Trọng được đổi ra là Châu Trọng, vẫn sống với Tần lão một niềm hiếu thuận. Năm Châu Trọng mười lăm tuổi thì Châu lão bị bạo bệnh, nên tê liệt ít hay dòm ngó được chuyện nhà, bèn giao cho Tần Trọng quán xuyến mọi việc, kim cả việc quản thủ tiền nong.

Thấy Châu Trọng hiếu đạo, tuổi đã lớn khôn, Châu lão muốn kiếm cho chàng một người vợ, bèn cưới cô gái làm công ở kế cận cho chàng.

Cô bé này tên Lan Hoa, cũng có chút ít nhan sắc, song vì nàng lớn hơn Châu Trọng đến năm tuổi, nên tình ái vì thế mà chênh lệch, thiếu mặn nồng.

Lan Hoa đang trong lứa tuổi thanh xuân, không chịu nổi sự thờ ơ của Châu Trọng, nên lén tư dâm với Na Quyền, người làm công trong tiệm.

Tuy là tình ái vụng trộm, nhưng hai bên khắn khít nhau, yêu thương rất mực, và Lan Hoa càng ngày càng phai lạt đối với Châu Trọng, chồng nàng.

Bởi vậy, thấy Châu Trọng thực thà ít nói, Lan Hoa tỏ ra cử chỉ ghét chàng ra mặt, và mỗi khi Châu Trọng vắng nhà, Lan Hoa đặt điều nói xấu Châu Trọng với Châu lão.

Châu lão đang bệnh hoạn, tánh hay cau có bực dọc, lại bị Lan Hoa đâm thọc, lời ra tiếng vào, nên mỗi ngày mỗi ghét Châu Trọng. Cho đến một hôm, Châu lão không chịu nỗi nữa, quát mắng Châu Trọng và đuổi Châu Trọng ra khỏi nhà.

Châu Trọng chỉ biết buồn tủi phận mình chứ không hề dám cãi lại Châu lão một lời nào. Chàng vào lạy Châu lão và góm góp ít quần áo để ra đi. Châu lão cho Châu Trọng năm lạng bạc, và hối người nhà đẩy chàng ra khỏi cửa.

Châu Trọng bỏ nhà ra đi, lang thang trên con đường vô định... Chàng đi mãi, không định hướng, không biết về đâu. Hai ngày trôi qua, Châu Trọng ngủ nơi gầm cầu, xó miễu, mua một mảnh bánh vụn để ăn lót lòng cho đỡ đói mà thôi. Chàng nhớ đến cha già, muốn trở về quê nơi Hạ Lương để tìm, nhưng từ đây đến đó đường còn xa, có chút ít tiền để nuôi thân, nếu đem làm lộ phí hết thì còn đâu sinh sống.

Từ nhỏ đến giờ, chàng chỉ biết có một nghề buôn bán dầu mà thôi, không biết làm thuê làm mướn cho ai cả. Bởi vậy muốn nuôi sống qua ngày, chàng chỉ có cách là bán dầu. Chàng đến thuê một căn nhà lá nhỏ ở đầu cầu Lâm An, rồi bỏ ra một ít tiền mua đôi thùng và gióng gánh. Còn lại bao nhiêu tiền, chàng làm vốn, đến các tiệm dầu mua đi bán dạo.

Chàng quảy gánh, lằm lũi trong nắng sớm mưa chiều, mặt mày nám sạn, các người quen ai trông thấy, nếu tỏ vẻ khinh bỉ chàng cũng mặc kệ không thèm để à đến.

Chàng lại nhớ đến cha già, nhớ đến quê hương, chỗ chôn nhao cắt rốn, nên chàng thầm bảo :

- Bây giờ mình đã ra khỏi nhà Châu lão, tức là đã trở lại họ Tần, vậy ta phải nhớ lấy dòng họ và quê hương.

Chàng mua sơn viết trên hai thùng dầu của chàng, một thùng chữ “Tần” là họ, một thùng chữ “Hạ Lương” là quê quán.

Thắm thoát đã hai tháng trôi qua, nhờ lòng chân thật và tánh cần cù nhẫn nhục, Tần Trọng bán rong khắp làng mạc, số lời cũng đủ sống qua ngày. Hôm nọ, vào tiết hạ ngươn (rằm tháng mười), ở chùa Thiệu Trị có mở cuộc chay đàn rất lớn để bố thí cho kẻ nghèo gạo thóc, muối mắm.

Tân Trọng hay được, đoán chắc nơi chùa làm chay ắt tiêu thụ nhiều dầu, nên trước đó ba hôm, chàng đã lần đến chùa để chịu mối bán. Chàng được lão Thủ tự hứa mua giúp cho chàng mỗi kỳ rằm và mồng một nữa, ngoài những cuộc lễ lớn ; vì vậy, chàng gặp được mối khá, vui mừng không kể xiết.

Đến ngày rằm, chàng còn mang thêm dầu đến, để ở cổng chùa, để khách thập phương đi lễ chùa mua tặng cúng Phật. Vì có sáng kiến như vậy, nên dầu chàng hôm ấy bán rất đắt.

Lúc đó đã quá trưa, hai thùng dầu đã cạn, Tần Trọng toan thu xếp góng giánh trở về, chợt một đoàn người sang trọng, kiệu hoa tấp nập, từ từ rẽ đám đông tiền gần đến cổng.

Thấy quá rộn rịp, Tần Trọng để gánh dầu nép vào góc tường rồi đứng xem. Đoàn người xuống kiệu. Đi trước là hai bà lão trạc tuổi tứ tuần, mặt đầy phấn son. Đằng sau là một số ca nhi, theo sau một thiếu nữ vóc ngọc da ngà, môi son mắt phụng, tuổi mới trăng tròn, xiêm y lộng lẫy chẳng khác một nàng tiên.

Gót sen lửng thửng, vạch đám đông vào trước cửa điện.

Tần Trọng thấy sắc đẹp của thiếu nữ ngây ngất cả lòng. Chàng há mồm đứng nhìn theo không chớp mắt. Cho đến lúc thiếu nữ đã khuất bóng trong cửa tam quan, mà chàng vẫn không nhúc nhích.

Nàng đó là ai, chàng làm sao biết được ! Chàng chỉ thấy cái sắc đẹp lộng lẫy của giai nhân tuyệt thế mà thất thần thế thôi. Chàng chưa trở về vội, đợi đoàn người lễ bái ra về xem lại một lượt nữa cho thỏa thích.

Chẳng bao lâu, nàng tiên ấy lễ Phật xong, trở ra cổng.

Tần Trọng lại một lần nữa, ngơ ngác như thả tâm hồn lên cành quế cung trăng.

Thiếu nữ đi qua trước chùa thấy hai thùng dầu của chàng có viết hai chữ “Tần” và “Hạ Lương”, liền cất tiếng hỏi bà lão đi trước :

- Má ơi ! Tại sao người kia lại viết trên hai thùng dầu những chữ ấy để làm gì.

Bà lão nhìn Tần Trọng, rồi đáp lời thiếu nữ :

- Má cũng chẳng rõ ! Để má hỏi người bán dầu xem.

Bà lão bước đến chỗ Tần Trọng :

- Này chú bán dầu ! Dầu còn hết đem lại nhà tôi mua dùm cho ? Trên đôi thùng, chú viết chữ “Tần” và “Hạ Lương” có nghĩa gì thế ?

Tần Trọng có dịp để trò chuyện, và muốn biết nhà người đẹp, nên vội vã đáp :

- Dầu tôi đã bán hết, nếu bà cần thì tôi sẽ đem đến tận nhà. Còn chữ “Tần” là họ và “Hạ Lương” là quê quán của tôi.

Thiếu nữ ấy chính là nàng Ngọc Mỹ, còn bà lão kia là mụ Vương.

Ngọc Mỹ thấy Tần Trọng quê ở Hạ Lương, nhưng không quen thuộc nên bỏ qua, không hỏi đến. Mụ Vương trước khi bước lên kiệu còn ngoái cổ lại dặn :

- Nhà tôi phía Tây Hồ, tại viện thanh lâu đấy nhé.

Kiệu hoa bắt đầu chuyển động, bóng người đẹp đã khuất sau rèm mà đôi mắt Tần Trọng vẫn chẳng rời. Chàng nhìn theo cho đến lúc kiệu hoa khuất bóng, chàng mới thở dài, lững thững gánh hai thùng dầu nối gót bước theo xa xa.

Kiệu hoa đến bờ Tây Hồ thì vào viện thanh lâu, Tần Trọng như bị mất một vật gì, ngơ ngáo một lúc rồi ghét vào một quán rượu, uống vài chén cho ấm, đồng thời dọ hỏi tin tức thiếu nữ kia.

Người chủ quán cho chàng biết :

- Nàng đó tên Ngọc Mỹ gái lầu xanh, nổi tiếng là hoa khôi của Đế kinh, chỉ có hạng con vua cháu chúa hoặc phú hộ sang giàu mới dám đến đó. Vì sau một đêm chăn gối với nàng, kẻ sai hoa phải mất mười lượng bạc ròng, đó là chưa kể tiền chi phí về ăn uống, hoặc cho kẻ hầu người hạ.

Tần Trọng thở dài, nghĩ thầm :

- Ta là kẻ hèn mọn, buôn bán qua ngày nuôi miệng, lấy đâu ra tiền mà mơ ước được gần người ngọc. Giá được gần nàng một đêm dẫu chết cũng cam.

Suy nghĩ mong lung mãi trong đầu óc, và hình bóng mỹ nhân cứ lảng vảng trước mặt chàng, chàng cố xua đuổi hình bóng mỹ nhân, rồi tự an ủi :

- Thôi phận mình nghèo, không được may mắn gần nàng thì cứ thỉnh thoảng vài hôm ta đến thanh lâu bán dầu một lần, nhìn thấy người ngọc cũng được chứ biết sao.

Chiều hôm ấy chàng gánh dầu đến thanh lâu bán cho mụ Vương, mắt luôn luôn nhìn quanh quất, để à xem người ngọc có xuất hiện đâu chăng ? Nhưng thanh lâu rèm che cửa kín, rặc màu nhung gấm, bóng mỹ nhân đâu có thể lọt vào đôi mắt của anh chàng bán dầu hèn hạ đó.

Tuy vậy, chàng vẫn không nản lòng, đoán rằng mỹ nhân đi vắng, nên chàng lại quảy gánh ra đi, và hy vọng ở lần khác.

Sau đó, cứ cách vài ngày chàng lại gánh dầu đến thanh lâu, mà lần nào chàng cũng không thấy người ngọc, chàng chỉ tự an ủi lòng mình một câu cho khỏi thất vọng để rồi bữa khác lại mang hy vọng đến.

Đã hai tháng, lần nào dầu gánh đến mụ Vương cũng mua cho năm cân, số tiền lời rất khá, nhưng chàng không lấy thế làm hài lòng, vì không được thấy bóng dáng Ngọc Mỹ.

Chàng buồn quá, biết phận mình hèn hạ, cũng muốn bỏ à nghĩ thẩn thờ ấy, nhưng không sao được, hình bóng Ngọc Mỹ cứ len lỏi trong đầu óc chàng, tưởng như có thể phát đau lên được.

Thời gian sau đó, được chùa Thiệu Trị và thanh lâu mụ Vương mua dầu quá nhiều, và còn hứa tiếp tục mua mãi, nên Tần Trọng dư ăn dư để, dành dụm được một số tiền con.

Chàng sanh ra một à nghĩ :

- Nếu cứ đà mua bán như vầy thì lối chừng một năm ta nhịn ăn, nhịn tiêu sẽ để dành được một số bạc mười lượng, có thể chung gối với người đẹp một đêm.

Chao ôi ! Thật là táo bạo ! Một anh chàng bán dầu nghèo khổ, dám hy sinh một năm làm việc, nhịn cả ăn mặc để chung gối với người đẹp một đêm !

Tuy à nghĩ ngông cuồng, song lại là một nguồn hy vọng đẹp nhất gieo vào cuộc sống người nghèo khó.

Thế là từ đó, Tần Trọng không còn buồn bã nữa, hớn hở gánh dầu đi bán, thực hiện theo à nghĩ riêng, có đồng nào dư bỏ vào đấy, nhất định không dám tiêu pha. Quần áo bị rách, chàng chịu khó vá lại, không may cái mới. Đôi khi thèm rượu hoặc bánh kẹo, chàng nhủ thầm :

- Gần người đẹp một đêm còn thú vị hơn bánh, rượu nhiều !

Chàng ráng buôn bán và nhịn nhục suốt năm trời, mở đãy tiền đếm lại thì thấy để dành trên mười lạng bạc, đúng như dự tính của chàng.

Thế là mộng ước chàng đã thành, tuy chưa được gần người đẹp.

Bấy giờ vào đầu xuân, khí trời ấm áp, hoa cỏ tươi màu, lòng chàng cũng ấm áp và tươi đẹp chẳng khác mùa xuân.

Hôm ấy, chàng không gánh dầu đi bán nữa, mở đãy lấy mười lượng bạc trắng tinh gói thành một gói, lại đếm thêm hai lượng nữa để dành trả tiền ăn uống tại thanh lâu, còn thừa hơn một lượng, chàng cất vào túi lểnh mểnh ra phố lựa mua một bộ đồ thật đẹp, áo gấm, khăn sô, giày da cá lóc.

áo quần đã đủ, Tần Trọng trở về căn nhà lá nghèo nàn của chàng tắm rửa sạch sẽ, sửa soạn cho mày râu nhẵn nhụi, rồi mặc quần áo mới ngắm nghía suốt buổi mà chưa ra khỏi nhà.

Chàng quan niệm hôm nay đến gần người đẹp nhất tất phải đàng hoàng sạch sẽ mới được. Thật vậy, với quần áo bảnh bao, sửa soạn tươm tất, Tần Trọng nghiễm nhiên trở thành một vị công tử phong lưu, cách biệt với chàng bán dầu ngày qua một trời một vực.

Tuy vậy, Tần Trọng vẫn chưa hài lòng, vì chàng cứ tưởng mình còn có nhiều cái vụng về, không xứng với người đẹp, cho nên chàng ngần ngừ mãi, đến chiều mà chàng sửa soạn chưa xong, chưa ra khỏi nhà.

Tối hôm ấy chàng không ngủ được, và ngày hôm sau chàng lại dậy sớm để mặc áo chít khăn, sửa soạn hơn một buổi tròn nữa mới ra khỏi nhà.

Khi đến cửa thanh lâu, chàng hồi hộp quá, thẹn thùng muốn bỏ trốn. Nhưng chàng lại đánh bạo, cắn răng, bụng bảo dạ :

- Nếu ngượng ngùng thì làm sao gần được người đẹp !

Mụ Vương từ bên trong bước ra thấy Tần Trọng ăn mặc cao sang, cử chỉ đạo mạo, ngạc nhiên hỏi :

- Hôm nay chú sang đây hẳn có việc gì quan trọng ?

Tần Trọng chào mụ Vương, và đường đột nói :

- Thưa bà, cháu đến thăm bà với mục đích được hầu tiếp Ngọc Mỹ người đẹp một đêm.

Mụ Vương nghe rõ lời nói của Tần Trọng, nhưng cứ tưởng mình nghe lầm, vì có bao giờ gã bán dầu nghèo nàn như thế lại dám rớ tới cành hoa khôi, mà những kẻ phong lưu phú quà vẫn phải e dè với số tiền chi phí.

Mụ liền hỏi lại :

- Chú muốn gặp Ngọc Mỹ với mục đích gì ?

Tần Trọng đáp ngay :

- Thưa bà, cháu muốn được một đêm chung gối như khách làng chơi.

Mụ Vương khoác tay, nhìn Tần Trọng có à khuyên nhủ :

- Đừng, đừng ! Thanh lâu của mụ không thiếu gì gái trẻ, nếu chú muốn giải buồn thì mụ sẽ lựa cho một đứa vừa sạch sẽ, vừa ít tiền, còn Ngọc Mỹ là một hoa khôi đế đô, chú làm sao có số tiền to tác đủ chi phí ?

Tần Trọng nói :

- Thưa bà, cháu đã có à định, xin bà vui lòng cho phép cháu được gặp mặt nàng.

Vừa nói, Tần Trọng vừa móc túi lấy ra mười lượng bạc trắng tinh, trao cho mụ Vương. Mụ Vương thấy bạc tối mặt, vội vã mời Tần Trọng vào bên trong, hối bọn ca nhi đem trà nước đến, rồi mở tủ cất mười nén bạc kỹ lưỡng.

Sau khi Tân Trọng uống cạn chung trà thơm, mụ Vương ân cần nói :

- Cháu thật rủi ro ! Vì không biết trước có cháu đến, nên Ngọc Mỹ đã chịu lỡ với các vị vương tôn công tử. Ngày hôm nay Ngọc Mỹ phải tiếp con quan thượng thư, ngày mai nàng phải tiếp con quan Đô úy, vậy phiền cháu ráng đợi đến ngày mốt nàng mới có dịp.

Tần Trọng vui vẻ nói :

- Được, cháu xin chờ, miễn nàng Ngọc Mỹ dành cho cháu một bữa là tốt.

Dứt lời, chàng chào mụ Vương ra về.

Về đến túp lều tranh nhỏ, chàng cởi quần áo mới, thay quần áo rách vào, và gánh dầu đi bán như cũ, lòng mong chờ giờ khắc chóng qua để sớm được gần người ngọc.

Tuy chưa được gần Ngọc Mỹ, nhưng lòng chàng thấy vui sướng quá, lúc nào cũng hớn hở vui tươi.

Đến ngày hẹn, Tần Trọng lại mặc áo chít khăn tử tế, lểnh mểnh qua thanh lâu họ Vương. Mụ Vương tiếp chàng rất niềm nỡ rồi nói :

- Khổ quá, bác hẹn với cháu hôm nay Ngọc Mỹ sẽ tiếp cháu, nhưng khổ thay chiều hôm qua quan Đại phu trong triều lại cho người sang đây rước nàng vào dinh ca chúc trăng tròn. Rồi ngày mai thì con trai Du Thứ sử mời nàng uống rượu ngâm thơ. Vậy phiền cháu hẵn đợi đến ngày mốt mới được.

Tần Trọng vui vẻ nói :

- Được ! Cháu xin chờ nàng đến ngày ấy.

Thế rồi Tần Trọng lểnh mểnh ra về, lòng mang niềm hy vọng không nguôi. Cho đến ngày hẹn hôm sau, Tần Trọng đến thì mụ Vương lại nói :

- Chết nỗi, rủi cho cháu quá ! Hôm nay Ngọc Mỹ lại phải dạo thuyền với con trai quan huyện.

Tần Trọng hơi buồn, ngỡ là mụ Vương không muốn cho người đẹp tiếp mình, nên nói :

- Thưa bà, cháu chỉ sợ nàng Ngọc Mỹ chê cháu hèn hạ không tiếp. Còn việc chờ đợi đến bao lâu cháu cũng chẳng ngại.

Mụ Vương nói :

- Không phải thế ! Ngọc Mỹ đâu dám chê cháu, chỉ vì các vương tôn công tử có nhiều quyền uy, nếu làm phật lòng họ thì việc làm ăn của bác sanh điều rắc rối đó thôi.

Tần Trọng như hiểu ra, tươi cười nói :

- Nếu vậy cháu xin chờ đến khi nào Ngọc Mỹ rảnh rang cũng được.

Mụ Vương vồn vã bảo :

- Thôi, ngày mốt ! Ngày mốt cháu đến đây thế nào bác cũng dành cho cháu.

Tần Trọng ra về, bụng bảo dạ :

- Ta chờ nàng suốt một năm trời còn được huống hồ hai hôm nữa, vội gì ! Miễn nàng đừng khi dễ ta là hèn hạ không chịu tiếp thì thôi.

Cái mộng được gần người đẹp đã ấp ủ vào lòng Tần Trọng, làm cho chàng như say sưa trong men rượu hương tình, niềm ái ân như đã mặn nồng thắm thiết.

Hai hôm sau chàng lại đến.

Mụ Vương không từ chối nữa, chỉ nói :

- Sáng này Ngọc Mỹ phải sang dinh tể tướng hầu thơ, cháu ở đây chơi chờ đến chiều tối thế nào nàng cũng về.

Tần Trọng không từ chối, theo mụ Vương đi quanh co một lúc rồi lên đến một căn phòng màn treo trướng phủ thơm ngát mùi hương.

Đó là phòng riêng của Ngọc Mỹ ở.

Tần Trọng đưa mắt nhìn quanh, thấy giường trải đệm gấm, gối thêu hoa, chung quanh các món văn phòng tứ bửu đều bày ra đấy. Bên vách lại có mấy bức họa đồng quê tự tay nàng vẽ trông rất đẹp. Một phía có để một cây đàn tỳ bà, một cây đàn tranh.

Tần Trọng là kẻ quê mùa, từ nhỏ đến giờ chỉ lo buôn bán, có được học hành gì đâu. Nay thấy đồ đạc như vậy chàng ngơ ngác. Tuy nhiên, chàng cũng biết Ngọc Mỹ là gái trâm anh, gồm đủ các môn cầm kỳ thi họa.

Chàng ngồi thừ ra đó, không nói được lời nào, trong lúc mụ Vương kể chuyện huyên thiên, nào chuyện này, tích nọ.

Chàng thầm nghĩ :

- Với số bạc mười lượng mà được ngồi ở phòng này trò chuyện với người đẹp thì cũng đã thỏa mãn lắm rồi, cần gì phải chăn gối.

Chàng đang nghĩ vẩn vơ thì thị tỳ đã đem trà ngon, bánh ngọt đến bày ra bàn. Mụ Vương tự tay rót trà mời mọc Tần Trọng. Cho đến trưa, mụ Vương lại mời Tần Trọng xuống nhà dùng cơm. Én xong, chàng được thị tỳ đưa qua phòng, tắm rửa mát mẻ rồi lên lầu uống trà mà đợi.

Chiều hôm ấy, Tần Trọng cũng được mụ Vương mời ăn cơm, đối đãi rất trọng hậu. Cho đến lúc hoàng hôn rủ xuống, thanh lâu rực ánh đèn màu, mà cũng chẳng thấy mỹ nhân đâu.

Tần Trọng rất bực mình ! Không phải chàng bực dọc vì chờ đợi mỹ nhân, mà chàng bực dọc trước cảnh cơm dâng nước rót, kẻ hầu người hạ trước sau.

Xưa nay, Tần Trọng chỉ quen với cơm hẩm canh rau, ngủ ở xó miễu đầu đình, tự do thong thả đã quen. Tuy nhiên, trót chờ đợi suốt ngày không lẽ bỏ ra về, còn ngồi lại thì nóng ruột quá sức.

May thay, chẳng bao lâu trước cửa viện đèn đuốc rực trời, một chiếc kiệu hoa từ từ đỗ lại, có tiếng một tên phu kiệu nói với mụ Vương :

- Ngọc Mỹ vì hầu rượu quan Tể tướng bị quá chén nên bị say mèm.

Hai đứa nữ tỳ vội vén màn, đỡ Ngọc Mỹ ra khỏi kiệu.

Nàng Ngọc Mỹ mặt mày phờ phạc, đôi mắt nhắm nghiền xiêm y nhàu nát, không còn tỉnh táo nữa. Men rượu đã làm cho nàng mê man rồi !

Mụ Vương truyền thiếu nữ bế nàng lên phòng hương, đặt lên giường gấm, và nói với Tần Trọng :

- Ngọc Mỹ bị quá chén nên đang say, phiền cháu ngồi đây với nàng, đợi lúc nàng tỉnh lại sẽ cùng cháu tâm sự nhé.

Tần Trọng được trông thấy người đẹp mừng quá, gật đầu thưa :

- Thưa bà, không sao. Đã có cháu ở đây, xin bà cứ an tâm.

Mụ Vương cùng với bọn nữ tỳ xuống nhà dưới, chỉ để một mình Tần Trọng ở lại phòng.

Chàng ngồi nơi chiếc tràng kỷ, bên giường, mắt đăm đăm nhìn vào mặt mỹ nhân. Khuôn mặt đẹp nỏn nà, thiêm thiếp giấc nồng, thân hình mảnh mai kiều diễm, khiến cho Tần Trọng ngất ngây.

Suốt một năm trời, hình bóng ấy chôn trong mơ ảo của chàng, đến hôm nay chàng mới được chiêm ngưỡng. Chàng đang trầm ngâm mê mẩn thì Ngọc Mỹ cựa mình buông thỏng hai chân ra ngoài. Chàng thấy đôi hài thêu của nàng vẫn còn để nguyên chưa cổi, chàng vội bước tới, rón rén cổi hài, và nâng nhẹ bàn chân nàng đặt vào giường ngay ngắn.

Hơi thở của Ngọc Mỹ sặc mùi men rượu, tóc mây óng ả của nàng rũ xuống mặt, Tần Trọng lấy tay tém nhẹ mái tóc, và không dám có cử động nào mạnh, sợ nàng mất giấc ngủ.

Chàng trở lại ngồi trên tràng kỷ, vuốt lại nếp áo mới của chàng cho thẳng thắn, vì chàng sợ lúc Ngọc Mỹ tỉnh lại thấy quần áo chàng không ngay ngắn nàng sẽ không hài lòng. Qua một lúc lâu, Ngọc Mỹ lại cựa mình, đầu nghiêng ra khỏi chiếc gối thêu, nghẻo qua một bên, và hơi thở có vẻ mệt nhọc.

Tần Trọng thấy thế vội bước đến đỡ đầu nàng, đặt lên gối. Bỗng nàng oẹ mấy tiếng, rồi mửa xối vào mặt Tần Trọng, vọt vào ướt cả áo quần. Mùi chua nồng nặc không sao chịu nổi. Tuy vậy, Tần Trọng không thấy gớm ghiếc, mà chỉ lo cho người đẹp. Chàng rút khăn lau mặt Ngọc Mỹ sạch sẽ, đỡ nàng nằm ngay ngắn, rồi bước ra khỏi giường cổi áo để lau vết bẩn. Nào ngờ áo chàng dính đầy cả thức ăn lẫn rượu tanh chua không thể tả.

çi ! Chiếc áo mới của chàng đã hơn một tuần nay, được chàng gìn giữ cẩn thận để hội ngộ với người thương, ngờ đâu chưa được nàng chiêm ngưỡng mà đã hỏng mất rồi còn biết làm sao.

Chàng đành cuốn nó lại thành một cục, bỏ xuống đất để ngày mai trở về giặt giũ. Ngọc Mỹ mửa xong thấy khỏe người, đánh một giấc say sưa.

Tần Trọng ngồi ở ghế, đêm khuya bốn bề vắng lặng, chàng cũng buồn ngủ nhưng không dám, sợ Ngọc Mỹ có bề nào không ai săn sóc, cứ chốc chốc chàng lại bước đến bên giường thăm chừng.

Sau khi nhận thấy Ngọc Mỹ khỏe khoắn, ngủ ngon lành, chàng mới an tâm, bước lại tràng kỷ, đặt lưng xuống đấy. Cơn mệt mỏi đến với chàng, chẳng biết chàng ngủ thiếp đi lúc nào chẳng rõ.

Trời tang tảng sáng, Ngọc Mỹ tỉnh say, mở mắt nhìn thì thấy nơi phòng mình một anh chàng cổi trần trùng trục, đang nằm trên chiếc ghế dài.

Nàng lấy làm lạ, bấm trán suy nghĩ. Nhưng nàng chỉ nhớ cuộc hầu rượu với quan Tể tướng ngày hôm qua, còn việc gì đã xảy ra trong đêm nàng không hề nhớ. Nàng xỏ giày bước xuống giường, bỗng thấy một đống giẻ để dưới đất, nàng lấy chânh banh ra xem thử thì thấy đó là một chiếc áo, dính đầy chất mà nàng đã mửa đêm vừa rồi.

Như chợt hiểu nàng lẩm bẩm :

- Người này là ai ? Chắc đêm vừa rồi ta đã say, và mửa vào áo hắn.

Có tiếng động, Tần Trọng giật mình tỉnh dậy, thấy Ngọc Mỹ đứng trước mặt mình. Chàng rối rít hỏi :

- Qùa nương, quà nương đã khỏe rồi chứ ? Khổ quá, quà nương uống rượu nhiều quá đến nỗi say mèm, suốt đêm nay tôi chỉ sợ quà nương có bề nào nên thỉnh thoảng đến thăm chừng mãi.

Ngọc Mỹ hỏi :

- Tại sao anh lại đến đây để săn sóc tôi ?

Tần Trọng kể lại chuyện chàng dành dụm suốt một năm trời để có đủ số tiền đến gần nàng, và chàng đã chờ đợi nàng suốt một tuần nay. Đêm vừa rồi nàng lại say rượu, mửa vào áo chàng nên chàng phải đành ngủ trần trên ghế.

Ngọc Mỹ nghe qua hết câu chuyện rất cảm động, thấy rõ lòng thành thực yêu đương của anh chàng bán dầu và nói :

- Đã mấy năm trời em sống ở thanh lâu này, khách chơi hoa phần nhiều là kẻ háo sắc đê hèn, không ai có được mảnh tình cao quà như anh. Tuy anh là người nghèo khó, khổ sở song đã làm cho lòng em cảm mến không ít.

Ngọc Mỹ và Tần Trọng chưa trò chuyện được mấy câu thì dưới nhà mụ Vương đã sai thị tỳ giục Tần Trọng ra về, bảo là có khách đến. Tần Trọng cúi xuống, vói tay lấy chiếc áo ôm vào lòng, sắp sửa từ giã Ngọc Mỹ ra đi. Ngọc Mỹ lưu luyến nói :

- Anh đến đây không được cùng em chăn gối mà phải mất số tiền, vậy em xin lấy tiền riêng của em để đền lại cho anh.

Tần Trọng khẳng khái đáp :

- Tôi đã vì quà nương, ước được gặp mặt, giờ thì đã mãn nguyện rồi, cần gì tiền bạc nữa.

Ngọc Mỹ nói :

- Thế thì thỉnh thoảng anh đến đây với em, em sẽ dành mọi sự tiếp đón nồng hậu.

Tần Trọng nói :

- Tôi làm sao có được tiền mà đến đây nữa. Số tiền vừa rồi tôi phải dành dụm mãi suốt một năm trường đấy.

Ngọc Mỹ thở dài thương hại :

- Em cũng có một chút ít tiền dư, xin trao tặng anh để lúc nào anh muốn đến thăm em cũng được.

Tần Trọng thấy Ngọc Mỹ thương tưởng đến mình, sung sướng muốn khóc lên được, nhưng chàng khoa tay nói :

- Không nên, quà nương cứ để tiền chi phí. Vì quà nương là người đẹp, mọi chi phí tốn kém nhiều, còn tôi sống cực khổ đã quen, chẳng cần đến tiền bạc bao nhiêu. Vả lại, tôi được quà nương đoái tưởng như thế cũng đủ, năng lui tới chỉ làm phiền quà nương !

Dứt lời, chàng ôm áo bước xuống cầu thang. Ngọc Mỹ thương mến bước theo tiễn chân và nói :

- Anh cứ để áo cho bọn nữ tỳ ở đây giặt ! Em sẽ sai chúng đi mua áo khác cho anh mặc.

Tần Trọng lắc đầu :

- áo này chỉ dính chút ít hơi rượu, bỏ đi phí lắm. Vả lại, tôi cần giữ áo này cũng như giữ một kỷ niệm được gần quà nương.

Tần Trọng ra về, để lại một mối bâng khuâng trong lòng người kỵ nữ. Thật vậy, từ lúc Ngọc Mỹ gần gũi với dục vọng ái tình, phần nhiều là bậc vương tôn quà tộc, nhưng chưa có ai có một tình ái chân thành như Tần Trọng, khiến cho lòng nàng nhớ mãi không sao quên được.

Tần Trọng trở về căn nhà lá tí hon và lại phải ngày ngày đi gánh dầu bán dạo như cũ.

Trong lúc đó Châu lão, người chủ tiệm dầu, mà cũng là cha nuôi của Tần Trọng, đã đuổi Tần Trọng trước kia, bệnh tình mỗi ngày một nặng, không sao lo việc buôn bán được nữa, bèn giao cho Lan Hoa chăm nom.

Lan Hoa và Na Quyền, từ khi Tần Trọng bị đuổi khỏi nhà, mối tình lại khắn khít thêm, ngày đêm ân ái ra mặt, không còn phải thầm lén nữa.

Thời gian không lâu, Lan Hoa đánh cắp một số tiền lớn dắt Na Quyền đi xây tổ ấm. Châu lão bệnh hoạn không để à, đến khi hay được thì đôi gian dâm kia đã trốn đi mất dạng rồi. Từ đó Châu lão mới biết hối hận rằng ông ta đã đuổi Tần Trọng ra đi một cách oan uổng.

Nhưng còn biết làm sao nữa ! May thay, trước đây Châu lão có chôn giấu một trăm lượng bạc, nay mới còn vốn, không thì tiệm buôn đó đã tiêu tùng rồi.

Châu lão thương nhớ Tần Trọng vô cùng, ngày đêm than khóc. Có người hàng xóm đến thăm, nói cho Châu lão biết Tần Trọng vẫn còn ở nơi kinh đô đi bán dầu dạo.

Châu lão mừng quá, vội sai người đến đón, và nói rõ lòng ăn năn của Châu lão, yêu cầu Tần Trọng trở về nối lại tình xưa. Tần Trọng vốn người trung hậu, nghe được tin, vội trở về thăm Châu lão.

Hai cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Châu lão giao hết tiền bạc và cửa hàng cho Tần Trọng lo việc khuếch trương. Tần Trọng đem hết sức mình, ngày đêm lo việc buôn bán chẳng bao lâu cửa hàng phát đạt, thu lợi rất nhiều.

Châu lão bệnh tình mỗi ngày một nặng, không chịu nổi với tuổi già, một hôm ông ta gọi Tần Trọng vào giao hết sự nghiệp rồi nhắm mắt thiên thu.

Tần Trọng lo việc chôn cất người cha nuôi, dây rơm mũ bạc, cư tang chí hiếu như con đẻ vậy. Sau đó, công việc buôn bán vì mỗi ngày mỗi phát đạt, nên Tần Trọng không phút nào rảnh rang bước ra khỏi nhà. Chàng nhớ đến người cha đẻ, muốn cho người đi tìm rước về để phụng dưỡng, nhưng tìm mãi không thấy ở đâu.

Một hôm có một người nghèo khổ quê ở Hạ Lương đi lang thang tìm việc. Tần Trọng thấy là người quê cha đất tổ của mình lập tức thâu dụng, giao cho công việc quản gia.

Chàng hỏi ra thì được biết ông lão đó tên Tân Thiện, trước đây ba năm bị giặc Kim đến quấy nhiễu, gia đình tản cư thất lạc, nay chỉ còn hai vợ chồng già, mà đứa con gái bị mất tích, không tìm thấy đâu cả !

Tần Trọng thương tình, cho hai vợ chồng Tân Thiện ở chung với chàng và sớm hôm chuyện vãn, chẳng khác người trong gia đình.

Vợ chồng Tân Thiện thấy Tần Trọng làm ăn khá giả, lại chân thật, có tánh thương người, nên yêu mến lắm.

Thường ngày vợ chồng nhớ con gái, sụt sùi bảo nhau :

- úớc gì đứa con gái mình không bị thất lạc, đem gả cho Tần Trọng, thì thật xứng đôi vừa lứa, mà Tần Trọng là kẻ chí hiếu, ắt mai sau nhờ được tuổi già.

Tần Trọng từ khi gặp được Ngọc Mỹ, hình bóng nàng như đã in sâu vào tư tưởng của Tần Trọng, nên chàng chẳng bao giờ còn để à đến ai, hoặc nghĩ đến chuyện tình ái nữa.

Còn Ngọc Mỹ từ đêm gặp Tần Trọng, tánh nết đổi khác. Nàng khinh dể tất cả các vương tôn, công tử có những dục tánh hèn hạ. Nhiều lúc nàng từ chối không tiếp ai, đóng cửa nằm một mình trong phòng hương mở tưởng đến Tần Trọng, anh chàng bán dầu có mối tâm tình thành thật ấy.

Nàng nhớ Tần Trọng, muốn gặp mặt chàng, nhưng ngày tháng trôi mãi qua cảnh gối chăn, mà bóng dáng người yêu vẫn không thấy đâu.

Càng gần với chăn gối, Ngọc Mỹ càng thấy lạt lẽo với ái tình.

Các công tử vương tôn trước đây được nàng tiếp đón thịnh tình, nay thấy nàng đổi tánh thờ ơn cũng không hiểu ra sao cả.

Đã nhiều lúc, nàng hỏi thăm mụ Vương về Tần Trọng, thì mụ Vương cũng chẳng biết vì sao chàng tự nhiên bặt tích, không lang thang bán dầu dạo nữa;

Ngọc Mỹ lại sai bọn thị tỳ tìm đến những nơi chàng bán dạo trước kia dọ hỏi, nhưng không ai biết. Nỗi nhớ nhung lắng đọng trong tâm hồn người kỵ nữ làm cho nàng sanh ra tánh gắt gỏng với khách mua hương.

Một hôm, có chàng Ngô công tử là kẻ háo sắc, đã từng nước trước bẻ hoa, tiếng tăm lừng lẫy, nghe tiếng Ngọc Mỹ liền lần đến kinh đô để tìm hoa.

Ngô công tử là con quan Đô đốc tại triều, theo người anh ra trấn nhậm ở hạt thành, nên quyền uy rất mực, tánh khí ngang tàng không ai dám trái à.

Khi đến viện thanh lâu, Ngô công tử bảo mụ Vương phải để cho nàng Ngọc Mỹ đến tư dinh hầu chàng một đêm. Mụ Vương sợ hãi vâng lời, nhưng Ngọc Mỹ lại giã đau từ chối không tiếp.

Bị phật à, Ngô công tử liền trở về, đem một lủ gia đinh đến thanh lâu đập phá tan tành, đánh đuổi mụ Vương và bọn nữ tỳ chạy trối chết. Chàng lần lên phòng hương thì thấy Ngọc Mỹ đang đóng cửa họa bức chân dung của một chàng trai trong mộng.

Ngô công tử nổi giận đang tay đánh Ngọc Mỹ hai tát, nói :

- Khốn kiếp ! Mày dám khinh bỉ ta đến thế sao ?

Tội nghiệp thân hoa bị một phen mưa vùi gió dập. Tuy là giận dữ, song thấy hình bóng kiều diễm của Ngọc Mỹ, ngực nở lưng ong, mày ngài da phấn, Ngô công tử phát động lòng dâm, liền gọi bọn gia nhân vực nàgn xuống mé sông, đem lên một chiếc thuyền để tính chuyện trăng hoa.

Ngọc Mỹ la hét vang trời, làm náo loạn cả xóm Tây Hồ.

Tuy nhiên, thân liễu yếu mai gầy làm sao chống lại được sức mạnh của bọn đầu trâu mặt ngựa kia. Bọn lính tuần nghe việc náo loạn chạy đến, thấy lũ gia đinh của phủ Đô đốc nên chẳng ai dám cản ngăn.

Thế là Ngô công tử đem Ngọc Mỹ xuống thuyền giữa sự sợ hãi của mọi người. Mụ Vương thở ngắn than dài, không biết số phận của Ngọc Mỹ ra sao, và cũng chẳng dám nom theo dò la nữa, đành ở nhà dọn dẹp thanh lâu sửa lại những chỗ bị Ngô công tử đập phá.

Dẫn được Ngọc Mỹ xuống thuyền, Ngô công tử khiến gia nhân mua đủ rượu trà quà bánh các thức ngon vật lạ để đãi Ngọc Mỹ, mua chuộc cảm tình, nhưng Ngọc Mỹ nhất định không chịu ăn uống gì cả.

Khi thấy Ngô công tử ép uổng việc gió trăng, Ngọc Mỹ nhổ nước miếng vào mặt chàng và mắng :

- Hèn hạ ! Mày ỷ quyền thế, áp bức dân lành, không biết nhục à ?

Ngô công tử tánh khí ngang tàng đã quen, thuở nay chưa ai dám trái à, nay bị Ngọc Mỹ mắng chưởi, nhổ nước bọt vào mặt, nên tức giận đánh nàng một trận nên thân. Mặt mày nàng tím bầm hết.

Như thế, Ngô công tử vẫn chưa thỏa, truyền bọn gia nhân lột cả nữ trang ném xuống sông, rồi xé nát xiêm áo của nàng, làm cho thân nàng lộ liễu, rồi chèo thuyền thả nàng vào bến.

Ngô công tử thấy thân nàng hở hang, đắc à cười lớn, nói :

- Ta cho mày xấu hổ một trận để chừa cái tánh khinh người !

Đau thương tủi nhục, Ngọc Mỹ ôm mặt khóc rưng rức, và ngồi phệt xuống mặt đường, không dám trở lại đường phố. Trong lúc đó, Ngô công tử đã cùng bọn gia nhân chèo thuyền đi mất.

May thay, giữa lúc bơ vơ, chưa biết nhờ cậy ai, thì đàng xa có bóng một chàng trai đi tới. Ngọc Mỹ trông thấy nhận ra là Tần Trọng, vội kêu lớn :

- Anh ơi ! Đến cứu em !

Tần Trọng thấy một thiếu phụ ngồi bên lề đường kêu cứu, vội chạy đến thì thấy Ngọc Mỹ áo quần tả tơi, mặt mũi tím bầm.

Chàng hổn hển hỏi :

- Tại sao tấm thân quà nương ra nỗi này ?

Ngọc Mỹ kể lại chuyện Ngô công tử ác tâm dập liễu vùi hoa, và hỏi :

- Lâu nay anh đi đâu vắng bóng ?

Tần Trọng kể lại thời gian chàng mắc lo buôn bán và cư tang người cha nuôi.

Hai bên gặp nhau tuy mừng rỡ, nhưng không biết nói lời gì cho tỏ được nỗi nhớ nhung cô đọng trong lòng mình qua bao thời gian cách biệt.

Thấy để Ngọc Mỹ ở lâu ngoài đường bất tiện, Tần Trọng vội chạy vào đầu phố thuê một chiếc kiệu đem đến, đưa Ngọc Mỹ trở về viện thanh lâu.

Mụ Vương suốt ngày nơm nớp lo âu, sợ Ngô công tử bắt mất Ngọc Mỹ thì kỷ viện không còn đắt khách, và bà mất cả số vốn lẫn lời.

Thật ra từ ngày Ngọc Mỹ tiếp khách, mụ Vương thu được tiền bạc không biết đâu mà tính. Số tiền vô có lẽ đã chất đống cao bằng người. Tuy nhiên, lòng tham không đáy, mụ vẫn còn tiếc rẻ, chưa chịu cho là đủ.

Thấy Tần Trọng đưa Ngọc Mỹ về đến, mụ Trương mừng rối rít, vội đưa Ngọc Mỹ vào phòng hương để nghỉ ngơi, và dắt tay Tần Trọng vào trong pha trà tiếp đãi để tạ Ơn.

Sau khi hỏi qua vì đâu chàng lại gặp được Ngọc Mỹ để cứu giúp, mụ Vương ân cần nói:

- Đêm nay cháu ở lại đây dùng bữa cơm tối với bác.

Tần Trọng đáp :

- Cháu giúp quà nương một chút có gì ân huệ, cháu xin cáo biệt vậy.

Ngọc Mỹ nghe nói vội xen vào :

- ơn anh em chưa đền đáp, vậy anh cũng nên nghe theo lời má của em, ở lại đây đêm nay để được cùng em tâm sự cho vui.

Tần Trọng thật thà nói :

- Thật lòng tôi cũng muốn thế, song hôm nay tôi không mang tiền theo, vậy xin hẹn gặp quà nương dịp khác.

Ngọc Mỹ khóc rống lên, nói :

- Tôi từ mười lăm tuổi đã trôi giạt đến đây, tưởng chân bèo bọt không còn có ai đoái hoài đến, ngờ đâu lại gặp được kẻ chân thật yêu đương. çi ! Tình yêu sao lại trao đổi bằng tiền bạc ? Em tuy là gái giang hồ, song lúc nào cũng nghĩ đến ngày trở về đời, làm ăn lương thiện, một túp lều tranh, một người chồng hiền đức cũng đủ làm cho đời sống của em thỏa mãn, sung sướng lắm rồi. Xét lại, những kẻ yêu hoa ở đời này chỉ là những kẻ ham sắc dục, không ai có một tâm hồn cao thượng đáng để cho em tôn thờ như anh. Nay anh cũng khinh em như vậy thì đời em còn sống làm gì nữa.

Dứt lời Ngọc Mỹ toan đập đầu vào cột tự vận.

Mụ Vương thất kinh chạy lại khuyên nhủ :

- Con chớ nên làm thế ! Cháu Trọng đã có lòng thương con thì một ngày gần đây cháu kiếm đủ tiền sẽ chuộc con ra khỏi kỷ viện, hai trẻ sẽ yêu nhau sống cuộc đời nhàn rỗi đâu khó gì.

Nói câu ấy, mụ Vương đã đoán biết Tần Trọng là kẻ bán dầu nghèo khó làm gì có đủ số tiền to tác để chuộc nàng. Chẳng qua mụ nói thế để lừa phỉnh và an ủi Ngọc Mỹ đừng liều thân mà thôi.

Tuy nhiên, câu nói ấy lại làm cho Ngọc Mỹ nảy ra một hy vọng. Nàng ngẩng dậy hỏi :

- Má hứa chắc như vậy chứ ,

Mụ Vương nói :

- Má là người lớn, một lời đã nói ra không thể chối cãi.

Ngọc Mỹ chưa tin, còn hỏi thêm :

- Giữa đây có mặt nhiều người, nếu sau này má sai lời thì sao.

Mụ Vương nói :

- Má sai lời thề không thấy mặt con.

Ngọc Mỹ vui vẻ, đứng dậy thay đổi xiêm y, rồi hỏi Tần Trọng :

- Anh có chê em là gái giang hồ, hư thân mất nết chăng ?

Tần Trọng đáp :

- Qùa nương cành vàng lá ngọc, tôi đâu dám nghĩ thế.

Ngọc Mỹ nói :

- Nếu anh không chê em là đứa hèn mạt, em xin sẽ cùng chung sống với anh, anh nghĩ sao ?

Tần Trọng đáp :

- Được thế thì đời tôi còn gì hạnh phúc hơn. Tôi chỉ sợ quà nương chê tôi là kẻ nghèo nàn.

Ngọc Mỹ nói :

- Thôi được ! Chúng ta còn có ngày gặp gỡ. Xin anh trở về để em thu xếp công việc.

Chiều hôm ấy Ngọc Mỹ tính việc lấy tiền dành dụm của mình lâu nay chuộc lấy thân, để về chung sống với Tần Trọng.

Nguyên Ngọc Mỹ từ lúc xả thân tiếp khách làm giàu cho mụ Vương, nàng đã tính đến ngày chuộc mình, nên có để dành một số tiền lớn. Vì số tiền quá to tát, nàng không thể cất nơi kỷ viện, nên đem gởi cho con quan Lâm Thượng thư là Huỳnh Thái úy.

Trong số các quan trẻ tuổi năng lui tới với nàng, chỉ có Huỳnh Thái ùa là người nhân đức, đáng tin cậy hơn cả, nên Ngọc Mỹ mới chọn mặt gởi vàng.

Vì vậy, sáng hôm sau, nàng dậy thật sớm, ngồi kiệu đến dinh Thượng thư, nói dối với mụ Vương là đi đánh cờ.

Khi đến nơi, nàng trình bày à kiến cho Thái úy nghe. Thái úy chấp thuận giao cả số tiền lại cho nàng, và hứa nếu còn thiếu, ông ta sẽ giúp.

Lấy tiền xong, Ngọc Mỹ nghĩ nay đến mụ Lưu là người miệng lưỡi, trước kia đã hứa với nàng, nay tất phải vì nàng giúp đỡ.

Nàng cho kiệu thẳng đến nhà mụ Lưu.

Mụ Lưu đang nằm trên ván, thấy Ngọc Mỹ, vội đon đả bước ra, đón hỏi :

- A ! Hôm nay có gió lạ nào đưa quà nương đến đây. Hẳn có điều gì quan hệ ?

Ngọc Mỹ xuống kiệu, miệng chúm chím cười, nói :

- Cháu đến nhắc lại lời hứa của dì trước kia đấy.

Mụ Lưu nhăn mặt suy nghĩ :

- Trước kia dì hứa với cháu lời gì thế ?

Ngọc Mỹ nhắc lại lời của mụ Lưu hứa giúp nàng nếu nàng góp đủ số tiền để chuộc mình. Mụ Lưu nhớ lại, cười ha hả :

- A ! Cháu không nhắc lại thì lâu ngày dì quên mất ! Thế hôm nay cháu có đủ số bạc năm trăm lượng rồi sao ?

Ngọc Mỹ nói :

- Tiền ấy cháu đã có đủ, chỉ nhờ dì đứng trung gian nói với má Vương một lời.

Mụ Lưu ngẫm nghĩ nói :

- Tuy dì với chị Vương là chỗ thâm tình, song việc này e khó lắm. Vì cháu là nguồn lợi của chị Vương. Chuộc cháu ra chị Vương mất một mối lợi lớn, đời nào chị ấy chịu.

Ngọc Mỹ nói :

- Hôm qua bà đã hứa với cháu nếu chừng nào cháu có đủ số tiền thì bà ấy cho cháu chuộc mình. Song dì đừng nói là tiền của cháu, mà bảo là có người đứng ra bỏ tiền chuộc cháu.

Mụ Lưu ngạc nhiên hỏi :

- Chị Vương quả đã có hứa với cháu như thế sao ?

Ngọc Mỹ gật đầu.

Mụ Lưu thấy có hy vọng làm tiền được, tuy nhiên, mụ vẫn làm bộ khó khăn nói :

- Tuy thế cũng khó lắm cháu ạ ! Dì phải bỏ ra bao nhiêu hơi sức để thuyết phục may ra mới có kết quả. Công lao của dì quá nhiều.

Ngọc Mỹ biết mụ Lưu muốn đòi tiền công, liền nói thẳng :

- Xin dì thương cháu làm phước, cháu chẳng quên ơn dì đâu.

Vừa nói nàng vừa thò tay vào túi lấy ra một đĩnh bạc, trao cho mụ Lưu :

- Đây, cháu kính dì một số tiền trước, nếu thành công cháu sẽ còn hậu tạ.

Được số tiền quá hậu, mụ Lưu sung sướng quá, quyết đem tài Tô Tàn đi thuyết phục mụ Vương. Mụ dặn dò Ngọc Mỹ ở lại nhà mụ chơi, để mụ sang nói chuyện với bà Vương một chút. Mụ Lưu vừa đến nơi đã được mụ Vương đón tiếp ân cần.

Mụ Lưu hỏi :

- Sao ? Kỷ viện lâu nay làm ăn phát tài lắm chứ ?

Mụ Vương buồn bã đáp :

- Vừa rồi có Ngô công tử đến đây phá phách, bắt cóc con bé dẫn đi, may mà trời thương, không đến nỗi hại đến thân thể. Thật chán quá !

Mụ Lưu thừa cơ hội hỏi :

- Thoảng như có kẻ đem số tiền đến chuộc Ngọc Mỹ thì chị nghĩ sao ?

Mụ Vương thản nhiên đáp :

- Miễn có đủ năm trăm lượng thì tôi bằng lòng.

Thấy mụ Vương nói một cách dễ dàng, mụ Lưu chưa tin hỏi lại :

- Chị nói thật đấy chứ ?

Mụ Vương thở dài :

- Thực đấy ! Tôi nay tuổi đã lớn không còn đủ sức làm những việc cực nhọc, chỉ muốn sống cho yên thân. Sở dĩ tôi đòi số bạc ấy là để dưỡng già.

Mụ Lưu không ngờ một người ham tiền bạc, suốt đời xảo quyệt như mụ Vương mà có lúc cũng chán đời. Cho hay, dù ngựa có dữ đến đâu lúc về già cũng phải hiền từ.

Vả lại mụ Lưu cũng biết qua thời gian nuôi nấng Ngọc Mỹ, mụ Vương cũng đã thu được một số tiền quá lớn lao, ăn tiêu đến chết cũng chưa hết, nay dẫu có buông tha nàng Ngọc Mỹ cũng là phải.

Thấy việc đã kết quả, mụ Lưu ở lại trà nước, nói thêm mấy câu gắn bó rồi từ giã.

Khi mụ về đến cửa, nàng Ngọc Mỹ ra đón hỏi :

- Thế nào ? Việc ấy có kết quả chứ ?

Mụ Lưu làm ra bộ mệt nhọc nói :

- çi chao ! Dì phải ráo nước miếng mới thuyệt phục chị ấy được. Nay việc đã thành, vậy cháu đem số bạc ấy đưa cho dì, để dì trao lại cho chị Vương, rút giấy nợ ra. Còn cháu cũng lo thu xếp để ra đi cho sớm. Giờ thì cháu được tự do rồi.

Ngọc Mỹ mừng quá, bước ra cỗ kiệu, lấy một hộp lớn mở ra, trong đó đầy cả bạc vàng, châu báu, làm cho mụ Lưu lóe mắt.

Sau khi đếm đủ số bạc năm trăm lượng trao cho mụ lưu, nàng lại lấy một số vàng ròng tặng cho mụ nữa.

Thật là dịp may hiếm có. Mụ Lưu ríu rít vui mừng.

Ngay chiều hôm ấy, mụ Lưu đem bạc đến nạp đủ cho mụ Vương và lấy giấy nợ trao lại cho Ngọc Mỹ. Giờ phút này, Ngọc Mỹ như con chim sổ lồng, muốn cất cánh bay đi đâu chẳng được.

Đêm đó nàng trở về kỷ viện, làm tiệc đãi đằng các chị em quen biết, đã cùng nàng gần gũi hoặc sống chung với nhau suốt năm trời.

Én uống xong, nàng thu xếp đồ đạc để sáng sớm ra đi. Nàng chỉ lấy những món đồ người ta cho riêng nàng, và một ít quần áo, còn bao nhiêu nàng giao trả cho mụ Vương hết. Hành là vỏn vẹn chỉ có hai gói nhỏ mà thôi.

Sáng hôm sau, lúc tiễn hành, các chị em trong kỷ viện đưa đón tấp nập, ai nấy đều quyến luyến. Đến như mụ Vương, lúc ấy cũng bùi ngùi rơi lệ cho cảnh kẻ ở người đi.

Ra khỏi thanh lâu, Ngọc Mỹ hỏi thăm tiệm buôn dầu của Tần Trọng lần đến. Tần Trọng đang tính tiền với lão quản gia, bỗng thấy Ngọc Mỹ đứng sừng sửng trước cửa, đẹp như một tiên nữ hiện xuống, chàng ngỡ như mình đang trong giấc chiêm bao.

Ngọc Mỹ gọi lớn :

- Anh ! Em đã ra khỏi kỷ viện, về ở với anh đây.

Tần Trọng sung sướng như người phát điên người, vội vã chạy ra đón nàng dắt vào, nói với lão quản gia rối rít :

- Đây là vợ của tôi, nàng tiên của tôi.

Người quản gia là Tân Thiện, nghe tiếng nói Ngọc Mỹ quen quen, nhìn thấy hình vóc tuy có khác song phảng phất giống con mình, liền hỏi :

- Qùa nương sao giống con gái tôi là Diên Cầm ?

Ngọc Mỹ nghe gọi đến tên mình, trố mắt nhìn lão quản gia, thì thấy rõ là cha mình, liền chạy xổ đến ôm ông lão, khóc xướt mướt !

- Cha ơi ! Con gái cha là Diên Cầm đây. Vì mấy năm lưu lạc thân con đến nỗi này.

Tân lão như chết đứng, lặng thinh một lúc rồi gọi bà vợ đến. Ngọc Mỹ, tức Diên Cầm, gặp lại mẹ cha, khóc rống như mưa, nguồn vui nỗi nhớ nghẹn ngào không nói nên lời.

Tần Trọng đứng trơ người. Không ngờ vợ chồng người quản gia của chàng lại là cha mẹ người đẹp ở thanh lâu.

Đêm ấy, gia đình Tân lão được đoàn tụ, thức suốt đêm kể nỗi hàn huyên. Và sáng hôm sau, vợ chồng Tân lão mua sắm lễ vật cho hai trẻ thành hôn.

Nàng Ngọc Mỹ từ nay bỏ cái tên Ngọc Mỹ ở lầu xanh, trở lại cái tên Diên Cầm lương thiện, sống một cuộc sống tuy đơn sơ nhưng thanh đạm, đầy tình yêu ấm áp.

Tần Trọng sau khi lấy được nàng hoa, hạnh phúc tràn đầy, nhưng chàng nhớ đến cha già, chẳng biết lưu lạc nơi đâu, nên chàng bỏ cả thời gian và tiền bạc đi tìm, mãi không thấy.

Sau đó chàng đành phải trở về nơi tiệm buôn, vợ chồng xum họp, phụng dưỡng cha mẹ nàng Diên Cầm coi như cha mẹ mình vậy.

Bấy giờ ở kinh đô Lâm An, có người làm thơ tặng Tần Trọng như sau :

Xuân lai xứ xứ bá hoa tân
Phong diệp phân phân cạnh thể xuân
Kham tiếu hào hoa chư tử đê.
Phòng lưu bất quá mại dầu nhân

Dịch :

Trăm hoa xứ xứ đón xuân sang
Ong bướm đua nhau hút nhụy vàng
Em cháu hào hoa đừng tự đắc
Đâu bằng một kẻ bán dầu nhang


Phan Hồng Trung


Hết

_________________
Image


Top
 Profile  
 
Display posts from previous:  Sort by  
Post new topic Reply to topic  [ 18 posts ]  Go to page Previous  1, 2


Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests


You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot post attachments in this forum

Jump to:  

POWERED_BY
Translated by Maël Soucaze © 2009 phpBB.fr

MangTreVN được xây dựng từ 1 nhóm bạn trẻ vào Tháng 2, 2010 và phát triển bởi các Thành Viên.
Chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về nội dung mà người dùng đưa lên hoặc download